ANH NGHE LÉN TÔI, TÔI NGHE LÉN ANH

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
14

❊ ❊ ❊

Vài ngày sau cuộc gặp với người bạn của cha tôi, Mark Kasden, đến từ công ty thám tử tư, tôi lên đường thực hiện chuyến đi dài trở lại Vegas để thu thập quần áo và đồ dùng cá nhân. Phòng Quản chế đã chấp thuận yêu cầu của tôi được chuyển đến sống lâu dài với cha.

Tôi rời nhà từ rất sớm, dù không hợp lắm với lối sống về đêm nhưng như vậy tôi mới có thể thoát khỏi Los Angeles trước giờ cao điểm buổi sáng. Trong suốt thời gian lái xe, tôi lên kế hoạch thực hiện một đòn tấn công bằng kỹ thuật xã hội nho nhỏ để điều tra mấy cái hộp mà lúc đầu tôi đã nghĩ là để giám sát đường dây điện thoại của cha.

Tôi chuyển hướng vào cao tốc 101 về phía I-10, đi theo hướng Tây qua vùng sa mạc. Điện thoại trên tay tôi vẫn là số nhái của một người khác.

Có một câu chuyện thú vị về đường cao tốc. Vài tuần trước, tôi đã bị một gã lái BMW tạt đầu. Khi tôi đang bận trò chuyện trên điện thoại, gã đột nhiên đổi làn, chệch sang làn đường của tôi vài phân, dọa tôi sợ gần chết, thiếu chút nữa là chúng tôi đã cùng bắn ra khỏi đường.

Tôi vồ lấy điện thoại và thực hiện một cú điện thoại giả danh tới Cục Cấp phép Phương tiện cơ giới, cung cấp biển số xe BMW và có được tên cùng địa chỉ của gã lái xe. Sau đó, tôi gọi tới bộ phận của PacTel Cellular (chỉ có hai công ty điện thoại cung cấp dịch vụ cho Nam California tại thời điểm đó, do vậy tôi có 50% khả năng chọn trúng trong lần thử đầu tiên), đọc tên và địa chỉ của gã kia, quả đúng là PacTel Cellular có tài khoản của gã. Người phụ nữ cho tôi số điện thoại cầm tay của gã và chỉ năm phút sau khi tên khốn đó tạt đầu xe của tôi, tôi đã gọi cho gã. Vẫn run lên trong cơn giận dữ, tôi gào lên: “Này, thằng mất dạy, tao chính là người bị mày tạt đầu xe năm phút trước và cùng suýt chết với mày. Tao ở Cục Cấp phép Phương tiện cơ giới đấy, nếu mày còn lặp lại trò khốn này thêm một lần nữa thì bọn tao sẽ hủy bằng lái của mày đấy!”

Hẳn là tới giờ gã vẫn còn thắc mắc làm sao mà một người lái xe trên đường cao tốc có thể có số điện thoại của gã. Tôi vẫn thích thú cho rằng cú điện đó đã dọa hắn một trận vãi tè.

Thành thực mà nói, dù vậy thì bài học về sự nguy hiểm khi dùng điện thoại trong lúc lái xe cũng chẳng có mấy tác động tới tôi. Ngay khi tiếng ồn ào xe cộ trên đường cao tốc vào giờ cao điểm lùi lại sau lưng và tôi đã yên vị trên đường tới Vegas, tôi cầm điện thoại trên tay. Cuộc gọi đầu tiên là tới một số điện thoại đã khắc sâu trong trí óc tôi: Số của trung tâm chuyển mạch Pacific Bell phụ trách tất cả các bộ chuyển mạch trong khu vực phía Tây Thung lũng San Fernando.

“Canoga Park SCC xin nghe, tôi là Bruce,” một tay kỹ thuật viên nhấc máy.

“Chào Bruce,” tôi nói. “Tôi là Tom Bodett thuộc đội Kỹ thuật ở Pasadena.”

Tên tôi giới thiệu quá quen thuộc dạo ấy: Bodett là một tác giả kiêm diễn viên, người đã tham gia một loạt các quảng cáo trên đài phát thanh cho Motel 6, kết thúc bằng câu; “Tôi là Tom Bodett và tôi sẽ để đèn sáng cho các bạn.” Tôi chỉ buột miệng ra cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu. Nhưng Bruce không có vẻ để ý, do vậy tôi lại tiếp tục. “Mọi chuyện ổn chứ?” tôi hỏi.

“Vẫn ổn, Tom, anh cần gì?”

“Tôi đang gặp phải một trường hợp bất thường ở Calabasas. Chúng tôi nghe thấy tín hiệu ở âm tần rất cao – tần số phải đến cả nghìn hertz. Không hiểu cuộc gọi tới từ đâu. Anh xem hộ tôi được không?”

“Được. Số gọi lại của anh là bao nhiêu?”

Bruce không nhận ra giọng tôi, còn tôi thì biết chắc anh ta là ai. Anh ta là mục tiêu tấn công bằng kỹ thuật xã hội của tôi cùng các phone phreaker khác trong nhiều năm, và đã bị lừa đủ nhiều để dần trở nên đa nghi và có tính cảnh giác cao hơn. Do đó, bất kỳ khi nào anh ta nhận được cuộc gọi từ ai đó mình không biết và tự xưng là nhân viên công ty, anh ta sẽ hỏi số gọi lại – tốt nhất đó nên là một dãy số mà anh ta có thể nhận ra là thuộc về Pacific Bell. Bruce sẽ tắt máy và gọi lại.

Hầu hết các phone phreaker thậm chí còn không buồn chế ra một số điện thoại hoặc có thể là không biết phải làm thế nào. Họ cố lờ đi bằng vài lý do yếu ớt kiểu như “Tôi đang chuẩn bị đi họp”. Nhưng Bruce đã quá quen với việc này và sẽ không bị bịp một lần nữa. Do đó, trước khi bấm máy, tôi đã thuyết phục được một nhân viên của Pacific Bell rằng tôi là kỹ sư công ty hiện đang công tác ở Los Angeles để xử lý một vấn đề kỹ thuật và cần có số điện thoại tạm thời. Sau khi có số, tôi đặt chế độ chuyển cuộc gọi vào số điện thoại nhái của tôi thời đó. Khi Bruce gọi lại vào số điện thoại nội bộ mà tôi cho anh ta, cuộc gọi sẽ được chuyển đến di động của tôi.

“Phòng kỹ thuật xin nghe, tôi Tom đây,” Tôi trả lời.

“Tom, tôi là Bruce gọi lại cho anh.”

“Ồ, cảm ơn anh. Anh có thể xem giúp tôi số máy 880-0653 ở bộ chuyển mạch Calabasas không? Cho tôi tin phát sinh nhé.” Tôi đang nhờ anh ta truy dấu cuộc gọi đến.

Tôi lo lắng bồn chồn. Nếu Bruce nghe thấy tiếng còi xe hay các tiếng ồn không giống như ở nơi công sở, tôi sẽ bị phát hiện. Việc này rất quan trọng – cũng rất thú vị – nếu hỏng chuyện. Tôi nghe thấy tiếng Bruce gõ máy tính và tôi biết chính xác anh ta đang làm gì: Anh ta đang đặt lệnh yêu cầu bộ chuyển mạch truy nguồn cuộc gọi.

“Tom, được rồi, cuộc gọi từ LA70 tandem” – điều đó có nghĩa rằng đây là một cuộc gọi đường dài từ ngoài khu vực Los Angeles.

Sau đó, Bruce cho tôi thông tin trung kế[1] chi tiết để tiếp tục truy dấu cuộc gọi. Tôi hỏi luôn anh ta số điện thoại của trung tâm chuyển mạch phụ trách LA70 tandem. Khả năng ghi nhớ số điện thoại kỳ diệu của tôi lại một lần nữa phát huy tác dụng: Tôi không cần phải dùng một tay ghi nó ra giấy trong khi tay kia đang giữ bánh lái. (Thục tế thì hầu hết các số điện thoại và tên người trong cuốn sách này đều là thực, chúng vẫn in sâu trong trí nhớ tôi từ tận 20 năm trước.)

Cuối cuộc gọi, tôi nói với anh ta: “Đừng quên tôi nhé, Bruce. Tôi có thể sẽ cần anh giúp nữa đấy.” Hy vọng anh ta vẫn nhớ ra tôi cho lần gọi kế tiếp và không cần phải làm mấy thủ tục gọi lại một lần nữa.

Khi tôi gọi đến trung tâm chuyển mạch, có tiếng trả lời: “LA70 xin nghe, tôi là Mary”.

Tôi nói: “Chào Mary, tôi là Carl Randolph từ phòng Kỹ thuật ở San Ramon. Tôi đang truy dấu mạch và có vẻ nó bắt nguồn từ chỗ chị.” Rõ ràng là mọi việc rất suôn sẻ bởi Mary không hề ngần ngừ, chỉ hỏi tôi thông tin trung kế. Tôi báo cho cô ta biết và chờ đợi trong lúc kiểm tra. Vì phone phreaker hiếm khi nhắm vào tổng đài trục chính, nên cô ta thậm chí còn không buồn hỏi tôi thông tin xác minh.

Mary trở lại đường dây. “Carl, tôi đã truy theo thông tin trung kế anh đưa. Cuộc gọi bắt nguồn từ San Francisco 4E.” Cô ta cho tôi thông tin trung kế và mạng lưới mình tìm được. Tôi hỏi thêm số điện thoại của văn phòng 4E, rất mừng là cô ta cũng tìm giúp tôi.

Tôi đã lái xe tới gần đường 15. Hành trình của tôi đi qua đèo Cajon, chạy giữa dãy San Bernardino và dãy San Gabriel, rất có khả năng cuộc gọi của tôi sẽ bị ngắt. Tôi sẽ phải đợi tới khi đến Victorville ở tít phía xa con đèo.

Trong lúc đó, tôi bật radio trên xe và tận hưởng vài bản nhạc cổ điển từ những năm 1950. “Đây là K-Earth-101,” DJ nói. “Chúng tôi sẽ tặng tới 1.000 đô-la mỗi giờ cho người gọi may mắn thứ bảy sau khi các bạn nghe K-Earth – ‘bản nhạc cũ nhất tuyệt vời nhất trên radio.’”

Ồ! Hẳn phải rất tuyệt vời nếu dành được giải thưởng này! Nhưng sao phải thử cơ chứ? Tôi chưa từng thắng bất kỳ cuộc thi nào. Dù vậy thì ý nghĩ này vẫn luẩn quẩn trong đầu tôi và cuối cùng, nó cũng chuyển từ mộng tưởng thành cơn cám dỗ.

Gần tới Victorville, tôi quay số mà Mary đã cho, gặp một gã có tên là Omar. “Chào Omar, tôi là Tony Howard thuộc ESAC ở Nam California. Có một tình huống khá kỳ lạ ở đây. Chúng tôi đang theo dấu một mạch có âm tần lên tới hàng nghìn hertz.” Tôi cho anh ta thông tin trung kế từ LA tandem để kiểm tra.

Qua Victorville, tôi tiến vào một vùng sa mạc vắng vẻ và e ngại cuộc gọi sẽ bị ngắt một lần nữa. Tôi giảm tốc từ 130kmgiờ xuống để không đi xa Victorville quá nhanh.

Mất một lúc để Omar quay trở lại cuộc gọi. “Tôi nghe thấy tiếng cao tần đó rồi,” anh ta trả lời và bắt đầu “iiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii” để mô phỏng lại nó. Tôi bật cười – tôi đã nghe thấy âm đó rồi và không cần phải nghe anh ta cố bắt chước lại nó làm gì.

Omar nói cuộc gọi bắt nguồn từ Oakland. “Tuyệt,” tôi nói. “Cảm ơn anh vì đã giúp. Anh cho tôi thông tin trung kế từ bộ chuyển mạch của anh để chúng tôi có thể tra tiếp nhé.”

Anh ta tìm thông tin bộ chuyển mạch và báo lại cho tôi.

Cuộc gọi kế tiếp là tới Trung tâm Kiểm soát Chuyển mạch Oakland. “Chúng tôi đang theo dấu một cuộc gọi từ San Francisco 4E,” tôi nói và đưa ra thông tin trung kế cùng mạng lưới. Sau một hồi chờ đợi, kỹ thuật viên quay trở lại máy và cho tôi con số 510 208-3XXX.

Vậy là tôi đã truy được cuộc gọi từ nơi bắt nguồn. Đây là số điện thoại gọi đi từ một trong những hộp ở CO Calabasas đang giám sát Teltec.

Tôi vẫn muốn biết liệu âm thanh kia có thay đổi gì không. Nếu có thì chuyện gì sẽ xảy ra? Liệu tôi có nghe thấy tín hiệu dữ liệu nào đó? Hay tôi sẽ nghe được nội dung điện thoại gì?

Tôi gọi cho Omar. “Xin chào, có gì thay đổi với âm thanh đó không anh bạn?”

Anh ta trả lời rằng anh ta đã nghe nó tới 15 phút và chẳng có gì thay đổi cả.

Tôi hỏi: “Anh có thể đặt ống nghe gần loa để tôi nghe một chút không? Tôi muốn chạy thử vài bài kiểm tra.” Anh ta nói anh ta sẽ đặt ống nghe gần loa và tôi có thể dập máy khi xong việc.

Quá tuyệt – khi âm thanh đó chuyển tới di động của tôi, nó hệt như lần tôi nghe lén mấy kẻ nghe lén ở NSA vậy. Tôi đang nghe lén máy nghe lén – vậy mới châm biếm làm sao?

Nhưng giờ thì tôi lại cảm thấy vừa lo lắng vừa hào hứng. Sau hàng giờ nghe điện thoại trong lần tấn công bằng kỹ thuật xã hội này, tôi đã rất đau tai rồi và cánh tay cũng nhức mỏi. Khi tôi đi tới dải sa mạc dẫn vào Barstow, được nửa đường tới Las Vegas, sóng điện thoạt rất yếu và cuộc gọi lại bị ngắt. Chết tiệt!

Tôi gọi lại cho Omar để anh ta đặt máy lại một lần nữa cho tôi nghe tín hiệu kia qua loa. Hy vọng rằng tại thời điểm nào đó âm thanh này sẽ kết thúc và tôi có thể nghe được điều gì đó cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra và âm thanh đó có nghĩa là gì.

Trước mắt là trạm nghỉ lớn chuyên phục vụ các tài xế xe tải, những người lái xe 18 bánh cả ngày lẫn đêm. Tôi dừng xe để đổ xăng và quyết định gọi điện cho cha, ông vẫn đang chịu cú sốc lớn sau cái chết của Adam.

Di động của tôi vẫn đang bận với âm tín hiệu kia, do đó, tôi tìm một chiếc điện thoại công cộng để gọi cho cha. Tôi quay số ông và giữ máy trong lúc chuông điện thoại reo. Âm tín hiệu tần số cao từ điện thoại đột nhiên tắt.

Cái quái gì vậy?!

Tôi nắm điện thoại trong tay và đặt ở bên tai kia.

Giọng cha tôi vang lên từ ống nghe:

“Alô!”

Tôi nghe thấy giọng ông từ máy công cộng và đồng thời phát ra từ điện thoại di động!

Chết tiệt!

Không thể tin được.

Thiết bị giám sát này không còn nhắm tới Teltec… mà là điện thoại của cha tôi. Đường dây nối đã bị đổi.

Họ nghe lén chúng tôi.

Thật điên rồ!

Tôi cố gắng tỏ ra bình tĩnh nhưng đầy quả quyết và kiên trì. “Cha, cha dùng máy điện thoại công cộng ở chợ Village phía bên đường đi. Con có tin tức quan trọng về Adam,” tôi nói với ông.

Lời nói của tôi phải mang tính vô thưởng vô phạt, để không bị lộ qua máy nghe lén.

“Kevin, có chuyện gì vậy?” Cha nói, ông nổi điên lên với tôi. “Cha chán mấy cái trò James Bond này lắm rồi.”

Tôi nài nỉ và cuối cùng cũng thuyết phục được ông.

Tôi vã mồ hôi. Họ đã nghe lén tôi bao lâu rồi mà tôi không biết? Hàng nghìn câu hỏi chạy qua đầu tôi. Liệu Teltec có phải là mục tiêu hay đây chính là một kế hoạch tinh vi của đội An ninh Pacific Bell nhắm vào tôi – một cách để thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội với lũ hacker? Trái tim tôi đập loạn xạ khi tôi cố gắng nhớ lại những gì mình đã nói và làm từ điện thoại ở nhà cha tôi. Họ đã nghe thấy gì? Họ đã biết được bao nhiêu?

Sau năm phút, tôi gọi vào điện thoại công cộng ở chợ. “Cha,” tôi nói với ông, “hãy ném ngay cái máy tính ra khỏi nhà. Cha phải làm ngay lập tức! Đừng đợi gì nữa! Những thiết bị nghe lén đó không nhắm đến Teltec nữa mà bọn chúng đang nghe lén chúng ta! Cha phải mang cái máy tính đi ngay – nhanh lên!”

Ông đồng ý nhưng rất bực bội.

Cuộc gọi kế tiếp là tới Lewis, với nội dung tương tự: “Phải chạy cleanup mode[2] ngay.” Chúng tôi thống nhất cả hai sẽ giấu đống giấy ghi và đĩa floppy ở những nơi không ai có thể tìm thấy.

59Cleanup mode: Chế độ xóa dữ liệu. (ND)

Cứ để lũ chính quyền khởi tố đi: Không có bằng chứng thì sẽ không có án nào được lập.

Tôi lái xe tới chỗ mẹ ở Las Vegas, đầu vẫn còn căng lên. Tôi không ngừng lặp đi lặp lại trong tâm trí tất cả những cuộc hội thoại có thể đã bị nghe lén.

Điều gì sẽ xảy ra nếu họ đã nghe thấy tôi bàn với Lewis về SAS? Nếu họ nghe thấy tôi thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội với các phòng ban của Pacific Bell thì sao? Chỉ tưởng tượng ra mấy khả năng này thôi cũng khiến tôi thấy phát sốt. Tôi gần như đã chờ đợi Sở Cảnh sát Tư pháp Liên bang và Phòng Quản chế xuất hiện trước cửa để bắt tôi.

Tôi cần phải biết thiết bị nghe lén đã được cài ở dây điện thoại của cha tôi từ lúc nào.

Có lẽ nếu biết ai đã yêu cầu đặt giám sát, tôi có thể tìm hiểu được liệu họ có nghe ra điều gì đó đáng lo ngại hay không.

Gần đây, các công ty điện thoại đã nhận quá nhiều cuộc gọi từ phone phreak và thám tử tư tới mức họ bắt đầu yêu cầu xác minh. Tôi gọi tới Dispatch, bộ phận chuyên giao nhiệm vụ cho các kỹ thuật viên hiện trường ở Pacific Bell và nói: “Tôi gặp tình huống phá hoại ở đây, tôi cần nhắn tin cho vài kỹ thuật viên khác. Ai sẽ trực đêm nay?”

Người trực máy báo cho tôi bốn cái tên và số máy nhắn tin. Tôi nhắn cho từng người yêu cầu gọi đến một số nội bộ của Pacific Bell mà tôi đã dựng lên, sau đó lại thiết lập để các cuộc gọi đó chuyển tới số điện thoại cầm tay của tôi. Khi từng kỹ thuật viên phản hồi lại tin nhắn, tôi sẽ bắt đầu trò “thành lập cơ sở dữ liệu” của mình.

Tại sao tôi lại làm thế? Bởi tôi đang hỏi họ những thông tin rất nhạy cảm và họ sẽ không tự nhiên nói cho bất kỳ ai đó quan tâm. Do đó, kỹ thuật pretexting như sau: “Tôi đang thành lập một cơ sở dữ liệu về các nhân viên làm nhiệm vụ xử lý các vấn đề trọng yếu.” Tôi hỏi một chuỗi những câu hỏi vô thưởng vô phạt tới từng người một – “Tên anh là gì?” “Anh xử lý những vấn đề gì ở Dispatch?” “Quản lý của anh là ai?” Khi họ đã quen dần với việc trả lời các câu hỏi đưa ra, tôi mới bắt đầu hỏi những gì mình thực sự muốn biết: “UUID của anh là gì? Mã kỹ thuật viên của anh nữa?”

Lần nào tôi cũng thu được thông tin mình cần, tất cả đều khai báo thông tin xác minh (UUID và mã kỹ thuật viên) của họ, tên quản lý và số gọi lại. Dễ như ăn cháo.

Với các thông tin bí mật này trong tay, tôi đã có thể quay lại bộ phận phân bổ đường dây để có được những thông tin cần thiết tiếp theo.

Sau khi xác minh xong, tôi đưa ra yêu cầu: “Tôi có một số nội bộ ở Calabasas – một trong những thuê bao của chúng ta. Anh có thể tìm ra số CBR của người đặt yêu cầu không?”

“CBR” là thuật ngữ điện tử viễn thông của “can be reached” (có thể liên lạc). Tôi đang hỏi số điện thoại để có thể liên lạc với người đặt yêu cầu thiết lập đường dây – trong trường hợp này, đó là đường dây điện thoại của âm tín hiệu cao tần trên hộp giám sát điện thoại của cha tôi.

Người phụ nữ tìm kiếm một hồi, sau đó trả lời: “Yêu cầu được thực hiện bởi đội An ninh Pacific Bell; tên liên lạc là Lilly Creeks.” Cô ta cho tôi số điện thoại có đầu mã vùng của San Francisco.

Kế tiếp là phần yêu thích của tôi: Tấn công bằng kỹ thuật xã hội đối với Phòng An ninh của công ty điện thoại.

Bật tivi lên, tôi tìm được một chương trình có tiếng trò chuyện mà tôi có thể vặn nhỏ tiếng để tạo cảm giác tiếng ồn đặc trưng ở một văn phòng làm việc nào đó. Tôi cần tạo ảnh hưởng tới nhận định của mục tiêu rằng tôi đang ở trong một tòa nhà với những người khác nữa.

Sau đó, tôi quay số gọi.

“Lilly Creeks đây,” cô ta trả lời.

“Chào cô Lilly,” tôi nói. “Tôi là Tom ở Calabasas. Chúng tôi có mấy hộp thiết bị của cô ở đây và phải ngắt kết nối chúng. Chúng tôi cần chuyển vào một số trang thiết bị lớn, chúng sắp đến rồi.”

“Anh không thể ngắt mấy hộp đó được,” cô ta trả lời, gần như rít lên.

“Nghe này, không có cách nào khác cả, nhưng tôi sẽ gắn chúng lại vào chiều mai.”

“Không,” cô ta kiên quyết. “Chúng tôi thực sự cần giữ nguyên trạng mấy chiếc hộp đó.”

Tôi thở dài một tiếng lớn, hy vọng là nó nghe có vẻ cáu kỉnh và bực bội. “Chúng tôi có rất nhiều thiết bị phải thay đổi trong ngày hôm nay. Mong là việc của cô phải rất quan trọng, để tôi xem có thể làm gì được không.”

Tôi tắt âm điện thoại và chờ đợi. Sau khi nghe thấy tiếng thở của cô ta trong ống nghe khoảng chừng năm phút, tôi quay trở lại cuộc thoại. “Thế này có được không? Cô giữ nguyên điện thoại nhé, tôi sẽ ngắt kết nối của mấy chiếc hộp đó để chuyển thiết bị vào, sau đó tôi sẽ nối lại cho cô. Tôi chỉ có thể làm đến vậy thôi – được chứ?”

Cô ta miễn cưỡng đồng ý. Tôi nói với cô ta rằng sẽ mất chừng vài phút.

Tôi tắt âm thoại một lần nữa, sau đó gọi cho đội thiết bị ở Calabasas bằng một chiếc di động khác, giải thích với đầu dây bên kia rằng tôi đang ở cùng đội An ninh của Pacific Bell. Tôi báo cho anh ta cả ba số và các thiết bị văn phòng gắn kèm. Anh ta dò số trên COSMOS để tìm vị trí khung dựa trên “OE”. Khi tìm ra các số trên khung, anh ta ngắt kết nối từng máy giúp tôi.

Creeeks lúc này đang ngồi bên bàn làm việc đã có thể thấy các kết nối bị ngắt.

Khi đợi kỹ thuật viên thiết bị quay trở lại đường dây và thông báo đã ngắt mạch, tôi bước ra tủ lạnh để kiếm một chai Snapple trong khi mường tượng trong đầu hình ảnh Lilly đang ngồi ôm điện thoại bên tai và lo lắng biết bao.

Bây giờ mới đến màn chính, tất cả trước đó chỉ để dẫn dắt mà thôi. Quay trở lại với Lilly, tôi nói: “Tôi xong rồi đây. Cô có muốn kết nối lại với các hộp không?”

Cô ta có vẻ bực mình. “Đương nhiên rồi!”

“Tôi cần thông tin kết nối của từng đường dây dẫn vào các hộp.” Cô ta hẳn phải nghĩ tôi có chút trì độn khi không nhớ được vị trí gắn đầu nối dù chỉ mới tháo ra vài phút trước đó, nhưng yêu cầu này có vẻ đáng tin cậy vì chính mắt cô ta đã thấy kết nối bị ngắt: Rõ ràng là cô ta đang nói chuyện với kỹ thuật viên thiết bị ở CO.

Cô ta cho tôi thông tin. Tôi nói: “Được rồi, tôi sẽ quay lại ngay.”

Tôi tắt âm thoại một lần nữa, sau đó gọi lại cho kỹ thuật viên ở CO Calabasas và nhờ anh ta kết nối cáp lại vào “các hộp bảo mật của chúng tôi”.

Khi anh ta làm xong, tôi cảm ơn và quay lại đầu dây bên kia. “Cô Lilly,” Tôi nói: “Tôi đã gắn lại hết rồi đó. Chúng hoạt động bình thường chưa?”

Cô ta có vẻ yên tâm. “Mọi thứ đều bình thường rồi. Có vẻ là vẫn ổn.”

“Được rồi. Để kiểm tra lại cho chắc, số thuê bao nào đang gắn với các hộp này vậy? Tôi sẽ xác minh đường dây để đảm bảo mọi thứ đã được kết nối đúng.”

Cô ta cho tôi các số điện thoại.

Khốn kiếp! Họ không chỉ theo dõi một đường điện thoại của cha tôi mà là cả ba! Tôi chắc chắn sẽ không gọi thêm một cú điện thoại nào bằng máy của ông nữa.

Tôi vẫn cần phải biết những thiết bị này được cài đặt từ bao giờ, có vậy tôi mới có thể lường được cuộc gọi nào của mình đã bị nghe lén.

Sau đó, chỉ để cho vui, Lewis và tôi muốn nghe lén một trong những đường dây điện thoại khác mà Pacific đang theo dõi.

Có một vướng mắc ở đây: Để tăng thêm tính bảo mật, những chiếc hộp này sẽ không theo dõi đường dây điện thoại cho tới khi nhập vào một số PIN hợp lệ, hay còn gọi là “mã số nhận dạng cá nhân” (Personal Identification Number). Tôi có một ý tưởng tuy hơi viển vông với khả năng thành công rất thấp nhưng tôi vẫn thử.

Đầu tiên, tôi phải gọi vào các hộp giám sát ở CO. Sau đó, tôi gọi cho CO và nói với kỹ thuật viên thiết bị ở đầu dây bên kia: “Tôi cần ngắt đường dây để kiểm tra.” Anh ta làm theo và thế là kết nối của Pacific Bell bị ngắt khỏi hộp giám sát.

Tôi gọi vào hộp và bắt đầu đoán mật khẩu do nhà sản xuất cài đặt: “1 2 3 4”… không có gì. Mãi cho đến số cuối cùng mà tôi cho là đáng để thử: “1 2 3 4 5 6 7 8”.

Chính xác! Thật kỳ diệu, mấy gã ở Phòng An ninh Pacific Bell chưa từng thử đổi số PIN mặc định của nhà sản xuất trên mấy chiếc hộp này.

Có được mật khẩu, giờ tôi đã có đủ kỹ thuật để nghe lén bất kỳ một máy giám sát nào của Pacific Bell trên toàn California. Giả sử, nếu Phòng An ninh có một trong các hộp đặt tại CO Kester hay CO Webster, tôi có thể yêu cầu kỹ thuật viên thiết bị ngắt đường dây mà Pacific Bell dùng để gọi tới hộp giám sát và sau đó, tôi sẽ tự gọi vào hộp giám sát để nhập mã PIN mặc định, vốn giống hệt nhau trên mọi máy. Từ đó, Lewis và tôi có thể nghe lén và tìm ra được ai là người đang bị theo dõi.

Chúng tôi làm việc này chỉ để cho vui, bởi chúng tôi có thể, thường là hai đến ba lần một tuần. Sau khi xác định được số điện thoại của đối tượng, tôi sẽ gọi cho Cục Tên và Địa điểm Khách hàng (CNL) để báo cho họ số điện thoại và lấy được tên của người bị giám sát. Có lần, tôi còn biết được số điện thoại thuộc về Quý-Ngài-Tôn-Quý60*. Đào sâu hơn một chút thì phần còn lại đã sáng tỏ: Máy giám sát được đặt trên đường dây của một thẩm phán liên bang.

Với Lewis và tôi, nghe trộm mấy cuộc nghe lén chỉ là một trò chơi, một trò nghịch ngợm. Còn đối với những kẻ điều tra thuộc tổ An ninh của Pacific Bell thì đó là một phần công việc. Một trong những nhân viên điều tra, Darell Santos, đã gặp bất ngờ lớn. Anh ta bước vào văn phòng làm việc vào một buổi sáng, lắng nghe những gì được tiết lộ qua máy giám sát đặt trên điện thoại của cha tôi và phát hiện ra tất cả thiết bị giám sát điện tử của Pacific Bell đã tạm ngừng hoạt động. Không có ghi âm cuộc gọi nào; mọi thứ đều chết cứng. Santos gọi cho kỹ thuật viên thiết bị ở Calabasas và hỏi: “Mấy chiếc hộp của chúng tôi vẫn còn hoạt động đó chứ?”

“À, không,” anh ta nghe thấy câu trả lời. “Nhân viên an ninh từ Los Angeles đã gọi tới và yêu cầu chúng tôi ngắt kết nối.”

Santos nói với nhân viên kỹ thuật: “Chúng tôi không thực hiện giám sát ở Nam California: Tất cả đều ở Bắc California. Không có ai tên là nhân viên an ninh ở Los Angeles hết.”

Ngay đêm đó, Santos bay từ chi nhánh ở San Francisco tới Los Angeles và tự mình nối lại tất cả các hộp giám sát. Để đảm bảo không ai có thể ngắt kết nối một lần nữa, anh ta giấu những chiếc hộp trên xà nhà, phía trên đống trang thiết bị chuyển mạch.

Rất lâu sau, trong một buổi phỏng vấn để thực hiện cuốn sách này, Santos nhớ lại: “Đây là vấn đề lớn đối với chúng tôi, bởi khi nó hiển hiện trước mắt, đó là vấn đề mang tính cá nhân. Kevin đã nghe được tất cả cuộc gọi của chúng tôi, trong khi chúng tôi thì cố gắng nghe được các cuộc gọi của anh ta. Sau đó, anh ta ngắt toàn bộ máy giám sát. Điều này khiến chúng tôi phải thay đổi cách nói chuyện trên điện thoại và các tin nhắn lưu lại. Và chúng tôi phải tìm ra các phương thức mới để che giấu việc làm của mình (trước Kevin), bởi chúng tôi cần hoàn thành nhiệm vụ hợp tác với cảnh sát trong việc giám sát theo chỉ thị từ phía tòa án.”

Đây là việc vô thưởng vô phạt bởi tôi đã không nhận thức được những rắc rối mình mang tới cho họ – bởi nếu biết, có lẽ tôi đã không làm như vậy.

Và tôi hẳn phải rất vinh dự khi biết rằng vào thời điểm đó, khi có bất kể sự việc gì tương tự diễn ra ở Pacific Bell, tôi sẽ là đối tượng tình nghi đầu tiên. Theo Santos, Kevin Poulsen đứng đầu tiên trong danh sách truy lùng của họ. Tới khi Poulsen bị tống vào tù, danh sách chỉnh sửa đã có cái tên mới ở hàng đầu: tên tôi. Tất cả tư liệu họ có về tôi từ tận những ngày niên thiếu đã dày bằng một cuốn sổ danh bạ điện thoại ở thành phố lớn.

Santos nói: “Có cả các hacker khác cũng làm rất nhiều việc khác nữa, nhưng theo tôi, Kevin là người mà tất cả bọn họ muốn noi theo. Tôi cho rằng Kevin là chuột còn tôi là mèo, nhưng hóa ra đôi khi lại ngược lại.”

Anh ta còn thêm vào: “Nhiều khi mấy gã từ đội an ninh của các công ty khác đã hỏi chúng tôi, ‘Này, chúng tôi có vụ này, có một gã đang cố chơi chúng tôi, anh có nghĩ rằng đó là Kevin không?’ Khi có một vụ nào đó xảy ra, mọi người đều nghĩ đến Kevin.”

Tôi có thể nói rằng, thời ấy tôi hẳn phải rất tự hào khi biết những điều này, nhưng sau đó là một nỗi chán nản. Tính tới thời điểm đó, tài năng của tôi chưa giúp được gì trong việc tìm hiểu về Eric Heinz. Lewis và tôi rơi vào vòng luẩn quẩn những mối nghi ngờ về hắn. Đúng là hắn biết nhiều thứ về hệ thống và các quy trình của công ty điện thoại, thậm chí cả những điều tôi và Lewis chưa từng nghe nói tới. Nhưng thứ nhất, hắn không sẵn lòng chia sẻ. Thứ hai, hắn vẫn luôn đặt những câu hỏi mà các hacker không bao giờ hỏi nhau: “Cậu đang làm cùng ai đấy?” và “Gần đây cậu làm vụ gì đấy?”…

Đã đến lúc chúng tôi phải trực tiếp đối mặt với hắn và xem xem liệu chúng tôi có thể vơi bớt sự nghi ngờ khi biết thêm về hắn nhiều hơn một chút không. Và nếu là thực, biết đâu hắn có thể giúp tôi tìm hiểu xem những máy giám sát đó đặt trên đường dây điện thoại của cha tôi từ lúc nào.

❀ ❀ ❀

[1] 58* Trung kế (trunking): Đường truyền tín hiệu giữa nhà cung cấp dịch vụ thoại tới khách hàng. (ND)

[2] 60* Từ gốc “Your honor”: Danh xưng tôn trọng thường dùng khi đề cập tới quan tòa hoặc thị trưởng trong tiếng Anh. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.