THÁM TỬ TƯ

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
26

❊ ❊ ❊

Đây là lần đầu tiên tôi chỉ có một mình. Sống ở Denver khi không có mẹ và bà ở bên đem lại cảm giác lạ lẫm nhưng cũng đầy phấn khích. Lúc máy bay cất cánh rời Las Vegas, tôi sẽ biến mất trên chín tầng mây theo đúng nghĩa đen, đến thị trấn mới và bắt đầu ẩn náu.

Bạn có thể tưởng tượng ra cảm giác tự do khi bắt đầu một cuộc sống mới với tên mới và thân phận mới không? Hiển nhiên bạn sẽ nhớ gia đình và bạn bè, nhớ cảm giác dễ chịu ở những nơi chốn quen thuộc, nhưng nếu có thể tạm gạt nó sang một bên, chẳng phải toàn bộ việc này sẽ giống như một cuộc phiêu lưu vĩ đại hay sao?

Trong suốt chuyến bay tới “Thành phố cao một dặm”[1], niềm mong đợi trong tôi ngày càng lớn. Khi máy bay của hãng United Airlines hạ cánh, thời tiết Denver vô cùng xấu: Bầu trời u ám và ảm đạm. Tôi bắt taxi và nhờ tài xế đưa tới khách sạn nào đó ở một khu dân cư tốt, có thể thuê phòng theo tuần. Ông ta đưa tôi tới nơi mà ông ta gọi là “chuỗi khách sạn”.

Tôi đánh giá khách sạn này vào khoảng hai sao rưỡi, ngang Motel 6. Hóa ra ở đây không cho thuê phòng theo tuần, nhưng chỉ cần thuyết phục một chút, tôi đã có được mức giá thỏa đáng theo thời hạn mình định lưu lại.

Do ảnh hưởng từ các bộ phim, mọi người thường cho rằng cuộc sống của một kẻ chạy trốn pháp luật luôn đồng nghĩa với việc phải cảnh giác khắp nơi cùng nỗi sợ thường trực rằng mình có thể bị phát hiện. Tôi hiếm khi cảm thấy như vậy. Sau khi có được thân phận mới, cầm trong tay tấm thẻ căn cước có thể xác minh do chính phủ cấp, tôi gần như luôn cảm thấy an toàn. Để phòng xa, lúc nào tôi cũng kích hoạt hệ thống cảnh báo sớm để lường trước việc có ai đó đến tìm. Nếu phát hiện có ai đó tới gần, tôi có thể hành động ngay lập tức. Nhưng ngay từ những giây phút đầu tiên, tôi đã tận hưởng cuộc sống của mình.

Công việc đầu tiên mỗi khi tôi tới thành phố mới nào đó là tấn công vào công ty điện thoại địa phương nhằm ngăn chặn ai đó có thể dễ dàng tìm ra tôi. Để bắt đầu, tôi cần các số điện thoại mà kỹ thuật viên hiện trường thường dùng để gọi vào bộ chuyển mạch của công ty. Tôi lấy được số điện của CO phụ trách tổng đài điện thoại mà tôi muốn kiểm soát. Tôi sẽ gọi cho họ và nói gì đó kiểu như: “Chào anh, tôi là Jimmy ở Phòng Kỹ thuật. Anh thế nào?”

Câu kế tiếp sẽ là: “Số dial-up của VDU là gì nhỉ?” – VDU là từ viết tắt của Visual Display Unit (Thiết bị Hiển thị Hình ảnh), một thiết bị cho phép kỹ thuật viên có toàn quyền đăng nhập vào bộ chuyển mạch từ xa. Nếu bộ chuyển mạch đó là 1AESS, bạn thậm chí không cần tới mật khẩu để truy cập. Gã nào đặt ra điều kiện này hẳn phải hiểu rằng bất kỳ ai chỉ cần có số điện thoại tới bộ chuyển mạch là đã có quyền truy cập.

Thường thì kỹ thuật viên tôi gặp sẽ cho tôi số điện thoại để kết nối với bộ chuyển mạch ở CO của anh ta. Nhưng nếu anh ta đặt nghi vấn, tôi cũng đủ hiểu biết về hệ thống để bịa ra một lý do tức thì. Kiểu như: “Chúng tôi đang thiết lập hệ thống quay số và muốn lập trình tất cả các số dial-up vào phần mềm quay số gọi đi. Nếu có kỹ sư chuyển mạch nào cần kết nối, họ chỉ cần bấm modem gọi tới văn phòng thôi.”

Khi đã có số điện thoại để kết nối tới bộ chuyển mạch, tôi có thể làm khá nhiều việc mình thích. Nếu muốn thực hiện chuỗi cuộc gọi cho ai đó, ví dụ như ở Nhật Bản chẳng hạn, tôi sẽ tìm một số điện thoại chưa được phân cho thuê bao nào, sử dụng nó, thêm tính năng chuyển tiếp cuộc gọi và kích hoạt để chuyển cuộc gọi tới bất kỳ nơi nào tôi muốn. Sau đó, từ điện thoại di động của mình, tôi có thể thực hiện cuộc gọi trong nước tới số điện thoại chưa được phân cho ai kia, rồi lại từ đó kết nối trực tiếp tới thuê bao ở Nhật Bản, thay vì phải sử dụng cuộc gọi di động quốc tế không đáng tin chút nào.

Tôi cũng thường dùng kỹ thuật “masking” (ngụy trang) nhằm thiết lập chuỗi các số chuyển tiếp cuộc gọi ở những bộ chuyển mạch thuộc các thành phố khác nhau ở những vùng khác nhau trên khắp cả nước. Nhờ vậy, khi tôi gọi số đầu tiên trong chuỗi, cuộc gọi của tôi sẽ được truyền dọc theo chuỗi từ thành phố này qua thành phố khác, rồi cuối cùng mới tới số tôi muốn gọi – việc này sẽ khiến kẻ nào muốn truy tìm tôi thông qua các cuộc điện thoại sẽ phải mất rất nhiều thời gian.

Các cuộc gọi của tôi không chỉ miễn phí mà còn khó truy dấu.

Buổi sáng đầu tiên ở Denver, tôi ngồi nghiên cứu tờ báo địa phương và bắt đầu khoanh tròn các quảng cáo tuyển dụng có liên quan đến máy tính. Tôi muốn tìm một công ty có sử dụng hệ điều hành yêu thích của mình, VMS.

Tôi viết các sơ yếu lý lịch khác nhau cho từng tin quảng cáo, điều chỉnh nội dung phù hợp theo các yêu cầu trình độ được liệt kê trên đó. Về nguyên tắc, tôi đã đọc tất cả các yêu cầu của họ và thiết kế sơ yếu lý lịch của mình sao cho tôi có thể đáp ứng khoảng 90% kỹ năng mà các công ty đòi hỏi. Nếu tôi ghi mình có hết thảy kỹ năng đó, hẳn là mấy người bên phòng Nhân sự hay sếp phòng IT sẽ ngạc nhiên: Nếu anh ta giỏi vậy thì việc gì phải nộp hồ sơ ứng tuyển vào công việc bậc thấp này?

Sơ yếu lý lịch của tôi chỉ gồm duy nhất một công việc từng làm, do đó tôi không cần phải thay đổi tên người giới thiệu trong các đơn. Vấn đề ở đây là phải giữ bản sao của tất cả các đơn tôi gửi đi, để nếu có người gọi phỏng vấn, tôi còn biết được mình đã viết gì trong đơn gửi cho họ. Ngoài sơ yếu lý lịch, tôi còn gửi kèm thư xin việc được viết chỉn chu nhằm giới thiệu bản thân.

Những bản sơ yếu lý lịch kèm thư xin việc giả mạo này đã thu được kết quả chỉ sau vài tuần. Tôi được mời đến phỏng vấn ở văn phòng địa phương của một công ty luật quốc tế khá nổi danh có tên là Hohme, Roberts Owen. Công ty này có văn phòng ở Denver, Salt Lake City, Boulder, London và cả Moscow.

Mặc âu phục, đeo cà vạt và trông có vẻ hoàn toàn phù hợp với công việc ở một công ty luật đẳng cấp, tôi được đưa tới phòng hội nghị để gặp quản lý IT, một phụ nữ rất thân thiện tên là Lori Sherry.

Tôi khá giỏi trả lời phỏng vấn, nhưng lần này thì thú vị hơn nhiều bởi tôi luôn phải đấu trí để tránh bị xao nhãng: Lori thực sự rất quyến rũ. Nhưng thật không may, cô ấy đang đeo nhẫn cưới.

Lori bắt đầu bằng một câu mở đầu đúng chuẩn: “Anh hãy giới thiệu về bản thân đi.”

Tôi cố gắng tỏ ra duyên dáng và lôi cuốn, bắt chước theo phong cách của phim Ocean’s Eleven (11 tên cướp thế kỷ) mới chiếu vài năm trước. “Tôi mới chia tay bạn gái và muốn có một cuộc sống mới. Công ty cũ đã đề nghị tăng lương để giữ tôi lại nhưng tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu mình có một khởi đầu mới ở một thành phố khác.”

“Tại sao lại là Denver?”

“À, tôi vẫn luôn yêu thích dãy Rocky Mountains.”

Vậy đó, một lời giải thích hợp lý cho việc từ bỏ công việc cũ. Gạt mục này ra khỏi danh sách đã.

Trong khoảng một giờ kế tiếp, chúng tôi lần lượt điểm qua các ý cơ bản về mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cũng như các nội dung phỏng vấn đặc trưng khác. Cô ấy dẫn tôi đi thăm phòng máy tính, sau đó tôi phải thực hiện một bài kiểm tra viết dài khoảng bốn hay năm trang giấy để đánh giá kỹ năng quản lý hệ thống, chủ yếu là về Unix và hệ điều hành VMS. Tôi cố tình trả lời sai vài câu, cũng là để không vượt quá mức yêu cầu công việc.

Tôi nghĩ buổi phỏng vấn diễn ra tốt đẹp. Về phần người giới thiệu, tôi đã tạo ra một công ty ảo ở Las Vegas có tên là Green Valley Systems, sau đó thuê hòm thư và đăng ký dịch vụ trả lời điện thoại bằng người thật, người này được yêu cầu nhận các cuộc gọi đến và nói: “Hiện không có người trả lời cuộc gọi của bạn”, sau đó đề nghị họ để lại tin nhắn. Sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn, tôi liên tục gọi đến dịch vụ này để kiểm tra. Ngày hôm sau, có một tin nhắn dành cho tôi: Lori muốn nói chuyện với Giám đốc IT của Green Valley. Thật tuyệt!

Tôi thăm dò được một khách sạn có đại sảnh rất lớn, tạo môi trường âm thanh hệt như khu vực văn phòng và ở đây cũng có một bốt điện thoại công cộng không nhiều người sử dụng. (Tôi không liều mình gọi cho Lori từ điện thoại nhái số của mình bởi cuộc gọi đó sẽ xuất hiện trên hóa đơn thuê bao di động.) Hạ thấp giọng chừng một quãng tám và thể hiện phong cách có phần tự mãn, tôi đã nói những điều tốt đẹp về Eric Weiss.

Tôi nhận được đề nghị làm việc sau vài ngày với mức lương 28.000 đô-la – không đáng để huênh hoang nhưng cũng đủ đáp ứng nhu cầu cá nhân.

Công việc của tôi bắt đầu sau đó hai tuần. Điều này giúp tôi có đủ thời gian để tìm một căn hộ, chuyển vào đống đồ đạc đi thuê rồi tập trung vào một kế hoạch quan trọng mà tôi vẫn luôn quan tâm. Danh tính Eric Weiss của tôi hiện đã an toàn và có thể xác minh được. Tuy nhiên, vẫn có một gã Eric Weiss thực sự đang lượn lờ ở Portland với mã số An sinh, ngày sinh và học hiệu tương tự. Điều này sẽ không thành vấn đề trong một thời gian, vì gã Eric kia sống đủ xa nơi này để chúng tôi không dễ chạm mặt nhau. Nhưng tôi cần có một danh tính an toàn khác để sử dụng trong suốt cuộc đời.

19 tiểu bang, bao gồm cả California và Nam Dakota, thời đó đều cung cấp hồ sơ chứng tử “mở” – đồng nghĩa với việc các tài liệu này được công bố công khai với người dân. Các bang này không biết rằng họ đang “tạo điều kiện” cho những người như tôi. Còn có nhiều tiểu bang khác thuận tiện cho việc đăng ký hơn nhưng Nam Dakota có vẻ cách nơi này khá xa, như vậy, sẽ ít có khả năng rằng một gã nào đó đang ở trong tình huống giống tôi cũng tìm kiếm hồ sơ và quyết định chọn một hay vài danh tính khả dĩ.

Tôi cần chuẩn bị một chút trước khi bắt đầu. Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là siêu thị King Soopers, ở đây có loại máy in mà bạn có thể nhập dòng chữ mình muốn và in ra 20 tấm danh thiếp lấy ngay chỉ với 5 đô-la. Danh thiếp mới của tôi có ghi:

ERIC WEISS

Thám tử tư

Bên dưới những dòng này là mã số hành nghề giả do Nevada cấp, một địa chỉ ảo ở Vegas và một số điện thoại văn phòng kết nối tới dịch vụ trả lời điện thoại bằng người thực, đề phòng trường hợp có ai đó muốn kiểm tra tôi. 30 đô-la một tháng là mức phí quá rẻ để tạo dựng độ tin cậy.

Nhét danh thiếp vào ví, tôi xếp vài bộ âu phục, ít quần áo và đồ dùng cá nhân vào túi xách, đặt chuyến bay tới Sioux Falls. Khi tới đây, tôi thuê xe tự lái tới thủ phủ Piere (hay “Peer” như cách người dân ở đây gọi). Tôi lái xe suốt bốn tiếng đồng hồ với chế độ tự động thẳng về hướng Tây trong ánh trời chiều, dọc theo con đường Interstate 90 với các thị trấn nhỏ nằm rải rác mà tôi chưa từng nghe tới tên. Với một gã trai thành thị như tôi, những nơi đó thật quá thôn dã: Tôi thấy mừng là mình chỉ đi qua đây.

Giờ mới tới phần “khó nhằn”. Sáng hôm sau, mặc nguyên bộ âu phục từng dùng trong buổi phỏng vấn, tôi tìm đến văn phòng của Phòng Quản lý Hộ tịch, đề nghị được nói chuyện với người phụ trách. Trong vòng vài phút, người phụ trách trực tiếp bước ra quầy. Đây là việc không tưởng ở các bang lớn như New York, Texas hay Florida, nơi các viên chức cấp cao thường quá bận rộn hay lên mặt ta đây và không chịu gặp gỡ ai không hẹn trước.

Tôi giới thiệu bản thân và đưa cho cô ấy tờ danh thiếp, giải thích rằng mình là một thám tử tư đến từ Las Vegas đang điều tra một vụ án. Trong đầu tôi thoáng hiện lên một trong những chương trình truyền hình yêu thích, The Rockford Files. Tôi mỉm cười khi cô ấy xem tờ danh thiếp bởi chất lượng của nó hệt như loại mà Rockford đã chế ra nhờ máy in danh thiếp anh ta để trên xe ô tô.

Người phụ trách hộ tịch không chỉ sẵn lòng gặp tôi, cô ấy còn rất vui được hỗ trợ một thám tử tư đang làm nhiệm vụ điều tra mật liên quan đến án mạng.

“Anh cần tìm ai vậy?” cô ấy hỏi, thể hiện sự nhiệt tình. “Chúng tôi sẽ giúp anh.”

Ừm. Đây không phải là thứ tôi muốn.

“Chúng tôi muốn tìm người chết do vài nguyên nhân xác định,” tôi đánh bạo. “Tôi cần xem qua tất cả hồ sơ trong vòng vài năm gần đây.”

Dù tôi e rằng yêu cầu này có phần kỳ quặc, nhưng Nam Dakota vẫn là một nơi rất thân thiện. Người phụ trách chẳng có lý do gì để nghi ngờ, do đó, tôi sẽ nhận được mọi sự trợ giúp có thể.

Người phụ trách rất-thân-thiện đề nghị tôi đi vòng qua quầy lễ tân, tôi theo cô ấy tới một căn phòng riêng không có cửa sổ, lưu trữ những giấy chứng tử cũ trên tấm vi phim. Tôi nhấn mạnh rằng mình cần phải nghiên cứu một khối lượng lớn công việc và có lẽ phải mất tới vài ngày. Cô ấy chỉ mỉm cười và nói rằng tôi có thể sẽ bị làm phiền nếu có nhân viên nào cần dùng tấm vi phim, còn không thì chẳng vấn đề gì. Cô ấy nhờ một nhân viên ở đó chỉ cho tôi cách sử dụng tấm vi phim và làm sao để tìm phim trong khoảng năm nào đó. Như vậy, tôi sẽ làm việc ở phòng vi phim, không có ai giám sát và có thể tiếp cận toàn bộ hồ sơ sinh tử mà tiểu bang còn lưu giữ. Tôi tìm những trẻ nhỏ chết ở độ tuổi 1-3, trong giai đoạn 1965-1975. Tại sao tôi lại quan tâm tới năm sinh quá trẻ so với tuổi thực của mình? Bởi tôi có thể lấy năm sinh đó mà không ai nghi ngờ gì và nếu cảnh sát liên bang có tra tìm giấy phép lái xe được cấp gần đây theo khoảng tuổi thực của tôi ở tiểu bang họ nghi ngờ tôi đang sống, tôi hy vọng là họ sẽ bỏ qua tôi.

Tôi cũng tìm một cậu bé da trắng với tên họ có vẻ giống gốc Âu, dễ phát âm. Nếu thử dùng danh tính của trẻ gốc Ấn, Latin hay da đen thì hiển nhiên là không ổn, trừ khi tôi có một nghệ sĩ hóa trang tài giỏi bên mình mọi lúc mọi nơi.

Một vài tiểu bang bắt đầu tham chiếu chéo các hồ sơ sinh tử, có lẽ là nhằm ngăn chặn người nhập cảnh bất hợp pháp sử dụng giấy khai sinh của người đã chết. Khi nhận được yêu cầu xin cấp giấy khai sinh, việc đầu tiên họ làm sẽ là kiểm tra xem có giấy chứng tử nào gắn với người đó hay không; nếu có, họ sẽ đóng dấu là đã qua đời bằng dòng chữ in đậm lớn trên bản sao giấy khai sinh.

Như vậy, tôi cần tìm một trẻ nhỏ đã chết phù hợp với mọi tiêu chuẩn của tôi và sinh ra ở một tiểu bang khác. Thận trọng hơn một chút, tôi đoán rằng trong tương lai, các tiểu bang gần nhau sẽ bắt đầu trao đổi hồ sơ chứng tử nếu người chết được sinh ra ở bang lân cận. Đây có thể sẽ là vấn đề lớn – ví dụ, trong trường hợp tôi muốn nộp hồ sơ làm hộ chiếu dưới danh tính mới. Khi xác minh đơn đăng ký làm hộ chiếu, Bộ Ngoại giao sẽ kiểm tra hiệu lực của giấy khai sinh và có thể phát hiện ra gian lận nếu chương trình tham chiếu chéo được phát triển trong tương lai. Để tránh những rủi ro đó, tôi chỉ có thể dùng danh tính của những người sinh cách chỗ tôi ở vài tiểu bang.

Tôi dành cả tuần để tìm kiếm trên các tấm vi phim. Khi có một ứng cử viên tiềm năng, tôi nhấn nút Sao chép, và một bản sao giấy chứng tử sẽ được in ra. Tại sao tôi phải cố gắng tìm được nhiều lựa chọn hết mức có thể? Chỉ để dự phòng, trong trường hợp tôi sẽ cần phải thay đổi danh tính một lần nữa.

Tất cả mọi người ở đây đều ấm áp và thân thiện hệt như người phụ trách. Có hôm, một nhân viên đến chỗ tôi và nói: “Tôi có họ hàng ở Las Vegas bị mất tích. Anh là thám tử tư nên tôi tự hỏi không biết anh có thể tìm anh ấy giúp tôi không.”

Cô ấy cho tôi mọi thông tin mình có. Đêm đó, trong phòng khách sạn, tôi chạy một chương trình tìm kiếm, sử dụng dịch vụ cơ sở dữ liệu của công ty môi giới thông tin để tìm ra địa chỉ của người họ hàng kia. Sau đó, tôi gọi tới bộ phận phân phối đường dây của công ty điện thoại địa phương để có được số điện thoại không có trong danh bạ. Chẳng mấy tốn công tốn sức. Tôi cảm thấy vui vì giúp được người phụ nữ này, vì tất cả mọi người đều rất tốt bụng và giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi có cảm giác như mình đã đền đáp được lòng tốt của họ.

Khi báo tin cho người nhân viên vào sáng hôm sau, cô ấy sung sướng tới mức ôm chầm lấy tôi, một phần thưởng quá lớn so với công sức ít ỏi tôi đã bỏ ra. Từ khoảnh khắc đó, các đồng nghiệp của cô thậm chí còn thân thiện với tôi hơn nữa, họ mời tôi cùng ăn bánh vòng và chia sẻ vài chuyện vặt trong cuộc sống.

Mỗi ngày làm việc, tôi lại thấy các máy in gần đó hoạt động không ngừng để in giấy chứng nhận mà mọi người yêu cầu. Máy kêu inh ỏi đến nhức óc. Sang đến ngày thứ ba, khi đứng dậy để duỗi chân tay sau vài giờ ngồi tra cứu, tôi bước tới máy in để quan sát kỹ hơn và thấy hàng chồng hộp giấy xếp cạnh đó. Phát hiện ra những thứ được xếp trong hộp khiến tôi há hốc mồm: Đó là vài trăm tờ giấy khai sinh chưa điền thông tin. Tôi có cảm giác như thể mình đã vô tình bước vào kho báu hải tặc vậy.

Còn một kho báu nữa: Thiết bị dập nổi hoa văn trên giấy chứng nhận của Nam Dakota được đặt ngay trên một chiếc bàn gỗ dài ngoài phòng vi phim. Các nhân viên trong phòng chỉ việc tới đó và dập dấu vào giấy chứng nhận trước khi gửi đi.

Buổi sáng hôm sau, thời tiết xấu hơn nhiều, tuyết rơi dày và trời lạnh cóng. Thật may mắn khi tôi mang theo áo khoác dày trước khi tới Phòng Quản lý Hộ tịch. Tôi làm việc suốt buổi sáng và chờ tới giờ ăn trưa. Khi hầu hết nhân viên đã ra khỏi phòng hoặc mải ăn uống trò chuyện, tôi vắt áo khoác trên tay và đi tới nhà vệ sinh, hờ hững kiểm tra xem những nhân viên còn lại đang ở đâu, liệu họ có để ý gì tới xung quanh hay không. Trên đường quay trở lại phòng vi phim, tôi bước tới bàn gỗ đặt thiết bị dập nổi. Chỉ bằng một động tác đơn giản nhẹ nhàng mà không cần dừng bước, tôi đã vớ lấy nó, giấu dưới áo khoác và quay trở lại phòng vi phim. Bước vào phòng, tôi liếc ra ngoài cửa: Không có ai buồn chú ý tới tôi.

Với thiết bị dập nổi đang yên vị trên bàn, gần đống giấy khai sinh để trống, tôi bắt đầu dập dấu của tiểu bang lên, thật nhanh và thật khẽ. Tôi cố gắng kiểm soát nỗi sợ trong lòng, nếu ai đó bước vào và trông thấy những gì tôi đang làm, tôi biết mình sẽ bị bắt giữ và giải đi ngay lập tức.

Khoảng năm phút sau, tôi đã có một xấp chừng 50 tờ giấy khai sinh trống đã dập nổi. Tôi quay lại phòng vệ sinh, trả lại thiết bị dập nổi vào đúng vị trí như trước khi “mượn tạm”.

Sứ mệnh đã hoàn thành. Tôi đã thành công trong một nhiệm vụ nguy hiểm.

Cuối ngày, tôi nhét đống giấy khai sinh vào sổ và bước ra ngoài.

Gần hết một tuần làm việc, tôi đã có thông tin cần thiết cho vô số danh tính khác nhau. Sau đó, tôi chỉ việc viết thư đến Cục Thống kê Sinh tử tại bang mà đứa trẻ được sinh ra và yêu cầu một bản sao giấy khai sinh. Có nó trong tay, tôi sẽ trở thành một “tôi” mới. Tôi cũng có tới 50 tờ giấy khai sinh để trống, tất cả đều được dập nổi dấu của bang Nam Dakota. (Vài năm sau, khi các cảnh sát liên bang trả lại tài sản đã tịch thu, họ vô tình gửi cả tập giấy khai sinh có đóng dấu nổi của Nam Dakota. Alex Kasperavicius, người nhận đồ giúp tôi, đã trầm tư nói rằng lẽ ra họ không nên làm vậy.)

Các cán bộ ở phòng hộ tịch rất lấy làm tiếc khi thấy tôi đi: Tôi đã tạo ấn tượng tốt tới mức một vài chị em ở đó còn ôm tạm biệt khi tôi nói lời chào họ.

Cuối tuần đó, tôi lái xe quay trở lại Sioux Falls và tự chiêu đãi mình buổi học trượt tuyết đầu tiên. Thực sự tuyệt vời. Tôi có thể nghe thấy tiếng người hướng dẫn gào lên với tôi: “Gạt tuyết ra! Gạt tuyết ra!” Vốn rất hứng thú với các môn thể thao, tôi nhanh chóng chọn trượt tuyết làm một trong những hoạt động cuối tuần đều đặn của mình. Không có nhiều thành phố lớn ở Mỹ như Denver, nơi có các dốc trượt rất gần và thuận tiện đi lại bằng ô tô.

Không nhiều các bậc phụ huynh làm thẻ An sinh Xã hội cho con nhỏ. Nhưng khi một thanh niên ở độ tuổi 20 bước vào phòng An sinh Xã hội để yêu cầu cấp thẻ và nói rằng anh ta chưa từng sở hữu thẻ trước đó thì việc này rất đáng ngờ. Do vậy, tôi đặt hy vọng vào một vài cái tên có được từ đống hồ sơ ở Nam Dakota rằng bố mẹ họ đã làm thẻ An sinh cho họ rồi. Ngay khi tôi quay trở lại chỗ ở mới ở Denver, tôi gọi cho cô bạn Ann ở phòng Quản lý An sinh Xã hội và nhờ cô ấy kiểm tra vài cái tên cùng ngày tháng năm sinh tương ứng để xem liệu có thẻ nào đã được cấp chưa. Cái tên thứ ba, Brian Merrill, là một thành công: Em bé Brian đã có mã số An sinh. Tuyệt vời! Vậy là tôi đã tìm được một thân phận lâu dài.

Vẫn còn một việc phải làm. Tôi phát hiện được rất nhiều thông tin về hoạt động của FBI, dù vậy, chìa khóa để giải được vấn đề trọng tâm vẫn nằm ngoài tầm với: Gã đàn ông mà tôi biết dưới cái tên “Eric Heinz” là ai? Tên thật của hắn là gì?

Dù không hiểu nhiều về Sherlock Holmes nhưng cũng như công việc của Holmes là tập trung vào giải đố, truy bắt tội phạm và những kẻ vô lại, công việc hacking của tôi cũng vậy. Tôi cũng phải đối mặt với việc làm sáng tỏ những điều bí ẩn và vượt qua thử thách.

Cuối cùng, tôi đã nghĩ ra một hướng đi mới. Eric nắm rất rõ về vụ của Poulsen. Hắn khẳng định đã hỗ trợ Kevin Poulsen trong vài vụ đột nhập vào Pacific Bell và khoác lác rằng cả hai bọn họ đã cùng tìm ra SAS.

Tôi dành hàng giờ trên mạng, sục sạo trong các cơ sở dữ liệu pháp luật trực tuyến như Westlaw và LexisNexis để tìm ra các bài báo và tạp chí có nhắc đến Eric nhưng không đem lại kết quả khả quan. Nếu hắn thực sự làm điều đó cùng Poulsen như hắn đã nói, có lẽ tôi có thể truy tìm theo hướng ngược lại theo tên những kẻ đồng lõa cùng Poulsen.

Ơ-rê-ka! Rất nhanh chóng, tôi đã tìm ra một bài báo trên LexisNexis có nhắc đến hai đồng phạm của Poulsen, Robert Gilligan và Mark Lottor. Có lẽ một trong những gã này chính là Eric Heinz giả mạo. Tôi vồ lấy điện thoại, cố nén sự kích động khi gọi vào số điện thoại của cơ quan hành pháp ở DMV California và tra ra bằng lái xe của hai gã đồng phạm kia.

Tôi lại đâm phải ngõ cụt rồi. Một gã thì quá thấp, một gã lại quá béo để có thể là Eric.

Tôi vẫn kiên trì. Rồi đến một ngày, tôi cũng tìm được một bài báo mới xuất hiện trên Westlaw. Một tờ báo nhỏ có tên là Daily News của Los Angeles đã đăng tải câu chuyện về vụ Poulsen được đưa ra xét xử. Mẩu tin này nhắc tới hai cái tên khác bị buộc tội đồng phạm với Poulsen, Ronald Mark Austin và Justin Tanner Petersen.

Tôi khá quen thuộc với Austin và biết cậu ta trông thế nào; cậu ta chắc chắn không phải là Eric. Nhưng còn Petersen? Nuôi hy vọng trong lòng và chuẩn bị sẵn sàng để lại thất vọng một lần nữa, tôi gọi tới DMV và nhờ nhân viên ở đó mô tả hình thể của Petersen.

Cô ta nói hắn ta có mái tóc và đôi mắt màu nâu, cao 1,8m và nặng chừng 66kg. Tôi vẫn luôn cho rằng tóc Eric màu vàng hoe nhưng ngoài chuyện đó thì phần mô tả hoàn toàn trùng khớp với hắn.

Cuối cùng, tôi cũng tìm ra thân phận thực sự của hắn. Giờ thì tôi đã biết tên thật của người đàn ông tự nhận là Eric Heinz. Hắn không phải là một cảnh sát liên bang mà là một kẻ chỉ điểm đang cố bẫy tôi và có thể là cả nhiều hacker khác để tự bảo vệ bản thân.

Sau bao nhiêu lo lắng và cố công suy nghĩ về con người thật của Eric, tôi đã có thể cười ngoác miệng. Tôi thấy vô cùng hưng phấn. FBI hẳn rất hãnh diện về danh tiếng của mình trên khắp thế giới, nhưng họ lại chẳng thể bảo vệ cho một kẻ chỉ điểm thoát khỏi tay của một hacker đơn độc.

* * *

Sau vụ điều tra ở Nam Dakota và buổi trượt tuyết cuối tuần, đã đến lúc tôi bắt tay vào buổi làm việc đầu tiên ở hãng luật. Tôi được chỉ tới bàn làm việc ở một văn phòng bên trong phòng máy tính, gần chỗ ngồi của hai thành viên khác trong nhóm là Liz và Darren. Cả hai đều khiến tôi cảm thấy mình được chào đón, một đặc trưng của người Denver, nơi đây mọi người đều có vẻ thoải mái, cởi mở và thân thiện. Đồng nghiệp Ginger có một văn phòng riêng ở đầu bên kia phòng máy; cô ấy cũng rất thân thiện.

Tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái với cuộc sống mới, nhưng chưa từng có giây phút nào tôi quên rằng mình có thể bị buộc phải chạy trốn một lần nữa để tránh khỏi cuộc đời cô độc bị khóa kín sau song sắt. Công việc ở hãng luật mang tới những lợi ích không ngờ. Hãng luật chiếm hết năm tầng gần đỉnh của một tòa nhà chọc trời cao tới 50 tầng được biết tới dưới cái tên Cash Register (Máy đếm tiền) bởi phần đỉnh của tòa nhà có dáng cong cong như một chiếc máy đếm tiền. Sau nhiều giờ, tôi đăng nhập vào tài khoản của Westlaw và đọc sách luật ở thư viện luật, nghiên cứu xem làm sao để thoát khỏi cơn khốn đốn mà mình đang mắc kẹt.

❀ ❀ ❀

[1] 67* Denver được gọi là “Thành phố cao một dặm” do nằm trên mực nước biển đúng một dặm, tương đương với khoảng 1.600m. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.