Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
* * *

❊ ❊ ❊

Huyền thoại về Kevin Mitnick tiếp tục có thêm một diễn biến xấu. Trước khi vụ án được đưa ra tòa, Markoff và Shimmy đã kiếm tiền từ câu chuyện của tôi. Họ cùng viết một cuốn sách vào năm 1996 và giờ đã bán bản quyền chuyển thể thành bộ phim Takedown (tạm dịch: Hạ gục).

May mắn thay, một trong những nhà thiết kế trang phục cho bộ phim đã tiết lộ kịch bản một phân cảnh củaTakedown cho tạp chí 2600. Khi đọc kịch bản, tôi thực sự lộn ruột. Các nhà biên kịch đã biến tôi thành một kẻ phản diện độc ác và để tôi làm những việc mà mình chưa bao giờ làm trong đời thực, ví như hack vào các bệnh viện và làm nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân thông qua việc thay đổi bệnh án của họ. Thật kinh hoàng!

Một cảnh đặc biệt lố bịch thậm chí còn mô tả tôi đã hung hãn tấn công Shimmy bằng việc lấy nắp thùng rác bằng kim loại và đập vào đầu gã liên tục. Thú thực, tôi không thể tưởng tượng nổi liệu có ai trong hai chúng tôi sẽ tham gia vào một cuộc chiến lố bịch đến vậy.

Khi đọc được kịch bản, Eric Corley đã viết trên mạng rằng nó “còn tồi tệ hơn rất nhiều so với những gì tôi tưởng tượng”. Nếu kịch bản này được dựng thành phim, anh nói: “Kevin sẽ mãi là một con ác quỷ trong mắt công chúng.” Trong một bài báo cho ZDTV, Kevin Poulsen đã viết:

Không ai có thể lường trước được rằng kịch bản này, đáng ra phải dựa trên cuốn sách cùng tên khô khan nhưng vô hại, lại chứa đầy những điều đơm đặt trắng trợn đến vậy. Không ai có thể ngờ tới việc Kevin Mitnick có thể trở thành một nhân vật phản diện đáng sợ và bị căm ghét nhất trên màn ảnh kể từ sau thời Hannibal Lecter.

Kinh hãi với hình ảnh sai lệnh về tôi trong kịch bản phim, những người ủng hộ tôi đã đến biểu tình tại Miramax Studios ở New York vào ngày 16 tháng 7 năm 1998. Eric Corley đã vạch trần sự thật rằng kịch bản này chỉ toàn những điều dối trá bịa đặt trước truyền thông quốc tế. Eric cũng chịu trách nhiệm loan tin rằng bộ phim có thể làm phát sinh các vấn đề tự do dân sự cho vụ án của tôi. Tất cả chúng tôi đều quan ngại rằng bộ phim sẽ gây ra định kiến cho phiên tòa xử tôi.

Trong một cuộc điện thoại khi tôi vẫn đang bị giam giữ chờ xét xử, Alex Kasperavicius nói rằng Brad Weston, một trong những nhà sản xuất của Takedown, rất nóng lòng được nói chuyện với tôi. Tôi đồng ý để Alex mời Weston vào nói chuyện tay ba trong cuộc gọi của chúng tôi. Brad nói ông ta muốn tôi cộng tác với bộ phim. Ông ta cũng nói Skeet Ulrich, người đã được chọn để đóng vai tôi, muốn nói chuyện với tôi.

Tôi bảo Brad rằng tôi đã đọc kịch bản và thấy nó hầu như chỉ toàn bịa đặt và phỉ báng. Tôi nói mình đang định thuê luật sư. Brad nói công ty sản xuất rất vui lòng trả tiền luật sư cho tôi; họ muốn dàn xếp vụ việc với tôi càng sớm càng tốt, thay vì chịu rủi ro khi phiên tòa có thể trì hoãn thời điểm ra mắt bộ phim.

Hai luật sư chuyên xử lý các vụ bôi nhọ nổi tiếng ở Los Angeles, Barry Langberg và Debbie Drooz, đã giúp tôi xóa đi một số điều bịa đặt ngớ ngẩn trong kịch bản, dù không phải tất cả. Họ cũng giúp tôi lấy được một khoản tiền dàn xếp khá lớn, dù tôi không được phép nói chi tiết hơn.

Dù vụ dàn xếp diễn ra trước khi vụ án hình sự của tôi được giải quyết, tôi vẫn có đôi chút lo lắng rằng thẩm phán có thể tịch thu số tiền này như một phần trong khoản chi trả bồi thường của tôi. Luật sư của tôi đã kê khai khoản thu này trước ống kính (ý chỉ trước mặt thẩm phán) và thẩm phán đã đồng ý để tôi được giữ bí mật về nó. Vì vậy, các công tố viên chưa bao giờ biết tôi đã nhận được tiền từ các nhà sản xuất bộ phim.

Cuối cùng, phiên bản điện ảnh của Takedown vẫn bị ném đá tới tấp do chính chất lượng của nó khiến bộ phim chưa bao giờ được công chiếu tại các rạp chiếu ở Mỹ. Theo tôi tìm hiểu, sau vài cố gắng không đáng kể ở Pháp, bộ phim đành phải được phát hành thẳng trên DVD.

Cùng lúc đó, luật sư của tôi đã kháng án “không xử bảo lãnh” của thẩm phán Pfaelzer đến Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực 9, theo nguồn ý kiến không công khai, tôi được cho là kẻ có nguy cơ bỏ trốn và là một mối nguy hiểm cho cộng đồng. Chúng tôi đem việc này lên tận Tòa án Tối cao, cùng việc luật sư của tôi gửi hồ sơ đến chánh án John Paul Stevens. Ông ta lấy làm thích thú và và đề nghị vụ việc của tôi cần được đưa ra xét xử, nhưng khi Stevens gửi nó cho toàn thể tòa để quyết định việc lên lịch, thì các đồng sự của ông đã không đồng ý.

Không lâu sau đó, tôi được đánh động rằng bên công tố đang lập luận con số thiệt hại do tôi gây ra lớn đến mức không hình dung nổi: hơn 300 triệu đô-la. Tất nhiên, chẳng có căn cứ nào cho con số này. Luật sư của tôi nhanh chóng chỉ ra rằng Ủy ban Chứng khoán yêu cầu các tập đoàn phải báo cáo các khoản thất thoát vật chất cho các nhà đầu tư, nhưng không có công ty nào trong số đó đưa ra được bất kỳ báo cáo quý hay năm nào khẳng định thất thoát dù chỉ một xu vì hậu quả hacking của tôi.

Chỉ vài tuần sau khi tôi bị bắt, đặc vụ FBI Kathleen Carson đã đưa ra những con số thiệt hại phóng đại kia. Bản ghi nhớ nội bộ của Sun Microsystems cho thấy cô ta đã nói với Lee Patch, phó phòng Tư pháp của Sun, rằng mã nguồn Solaris mà tôi đã sao chép có thể được định giá 80 triệu đô-la, tương đương với mức án cao nhất dành cho tội danh lừa đảo xét theo hướng dẫn kết án của Liên bang – vì vậy, không cần phải là thiên tài mới biết cô ta lấy những con số đó từ đâu. Khi yêu cầu Sun đưa ra số tiền thiệt hại liên quan đến vụ đột nhập, cô ta đã khuyên họ rằng con số này nên dựa trên giá trị của mã nguồn.

Như thể khi bạn bắt ai đó vì tội lấy trộm một lon Coca và yêu cầu anh ta phải hoàn trả chi phí phát triển công thức bí mật của Coca-Cola vậy!

Ai đó ở FBI đã quyết định rằng cách tốt nhất để thổi phồng yêu cầu bồi thường thiệt hại là để các công ty báo cáo xem họ đã tốn bao nhiêu tiền để phát triển các phần mềm mà tôi đã sao chép. Nhưng họ vẫn có phần mềm của họ. Họ không bị tước đoạt nó, vì vậy việc khẳng định thất thoát bằng chi phí phát triển phần mềm là không công bằng. Con số hợp lý được đưa ra nên là giá trị của giấy phép mã nguồn, có lẽ là chưa tới 10.000 đô-la.

Dù các công ty muốn trừng phạt tôi đến thế nào đi nữa, chúng ta đều biết thiệt hại thực sự của họ còn nhỏ hơn rất, rất nhiều so với con số họ đang dẫn ra. Nếu có, chúng sẽ bao gồm chi phí thời gian dùng để điều tra vụ đột nhập của tôi, cài lại hệ điều hành và phần mềm ứng dụng trên những hệ thống tôi đã xâm nhập cùng các khoản tiền giấy phép họ thường thu của khách hàng mua giấy phép sử dụng mã nguồn.

Con số 300 triệu đô-la thiệt hại chống lại tôi điên rồ đến mức nó đã kích động những người ủng hộ tôi đẩy mạnh cuộc vận động: “Hãy trả tự do cho Kevin”. Mỗi khi chính phủ có động thái gì đó có vẻ không công bằng, số người ủng hộ tôi lại càng tăng thêm. “Hãy trả tự do cho Kevin” giờ đã trở thành phong trào đại chúng phát triển lan khắp cả nước – thậm chí nó còn vươn đến cả nước Nga xa xôi!

Khi Eric tổ chức biểu tình, phóng sự truyền hình sẽ truyền đi hình ảnh đám đông diễu hành với bảng biểu: “Hãy trả tự do cho Kevin” bên ngoài tòa án liên bang ở 15 thành phố khác nhau, từ Portland, Maine, đến Los Angeles, từ Spokane đến Atlanta và ở Moscow, ngay gần Kremlin. Eric đã tóm tắt lại sự bất công tôi phải chịu đựng trên tạp chí 2600 như sau:

Từ ngày 15 tháng 2 năm 1995, Mintick đã bị giam trong khu tiền xử án mà không được xử bảo lãnh vì tội tàng trữ phần mềm được cho là trị giá hàng triệu đô-la. Tuy nhiên, các công ty khẳng định con số này chưa từng chứng minh được lời khẳng định hay báo cáo lại các “thất thoát” này cho cổ đông của mình, như pháp luật yêu cầu. Các chuyên gia máy tính và pháp lý nhìn chung đều đồng ý rằng khả năng thực sự xảy ra tổn thất là rất thấp và con số khổng lồ kia không thể ngầm mặc định rằng tất cả các tập tin và nghiên cứu có liên quan đến chúng đã bị xóa sổ. Trên thực tế, chưa hề có một tổn thất nào như vậy được báo cáo. Vậy nhưng, Mitnick vẫn đang lĩnh án tù như thể những việc đó đã xảy ra vậy.

Những người ủng hộ tôi muốn chính phủ tôn trọng quyền được giả định là vô tội và quyền được có một phiên tòa công bằng trong một khoảng thời gian hợp lý theo như trong hiến pháp.

Theo như tôi hiểu, những người biểu tình “Hãy trả tự do cho Kevin” ở khắp các thành phố trên thế giới không hẳn nghĩ rằng tất cả đơn kiện phải bị bác bỏ và tôi phải được bước ra khỏi nhà tù bình an vô sự. Nhưng họ phản đối việc thiếu công bằng rõ ràng trong vụ việc: Việc từ chối xử bảo lãnh; việc lục soát và tịch thu trái phép; việc bị can thiếu quyền tiếp cận với bằng chứng; việc tòa từ chối trả phí cho các luật sư được chỉ định của tôi; trên thực tế, tòa đã không cử một người nào đại diện cho tôi trong suốt bốn tháng; cùng với đó là những báo cáo thiệt hại trị giá hàng trăm triệu đô-la từ việc sao chép mã nguồn.

Khi mọi người nhận ra chuyện gì đang diễn ra, áp lực ngày một tăng lên. Báo chí thường đưa tin về những cuộc biểu tình. Mọi người dán sticker “Hãy trả tự do cho Kevin” lên xe và kính cửa sổ. Thậm chí còn có cả những người đi ra đường mặc áo phông “Hãy trả tự do cho Kevin” hay đeo huy hiệu và cúc áo có khẩu hiệu tương tự.

Trong các cuộc biểu tình phản đối phiên tòa, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ nhỏ trong buồng giam và thực sự còn thấy cả một chiếc máy bay kéo theo băng rôn “Hãy trả tự do cho Kevin”. Tôi đã phải tự cấu bản thân, không thể tin chuyện này đang xảy ra.

Bốn năm trước, tôi đã phải đương đầu với những phóng viên chỉ giỏi buông lời phỉ báng, những thẩm phán kém hiểu biết, những cảnh sát mê tín, những người bạn trục lợi và các nhà làm phim trục lợi chỉ mong muốn thổi bùng lên ngọn lửa về Huyền thoại Kevin Mitnick vì mục đích cá nhân. Ý nghĩ rằng ngoài kia vẫn còn những người có thể thực sự cảm thông với những gì tôi đang trải qua khiến tôi thấy rất dễ chịu.

Trên thực tế, nguồn cổ vũ động viên này đã thôi thúc tôi chuẩn bị cho cuộc chiến. Tôi đã tìm được một vụ gần đây trong thư viện luật của nhà tù khiến tôi tin rằng mình có thể đánh bại cả những lời buộc tội nghiêm trọng nhất.

Khi tôi nói với luật sư Donald Randolph rằng tôi đã tìm thấy một tiền lệ pháp lý có thể thay đổi mọi thứ, ông ấy nói: “Hãy để tôi lo việc đó, Kevin. Tôi là luật sư.” Nhưng khi nghe tôi kể về vụ án, ông ấy đã phải tròn mắt.

Năm 1992, một nhân viên thuộc Sở Thuế vụ tên là Richard Czubinski đã dùng quyền truy cập vào mạng nội bộ để lấy tờ khai thuế của rất nhiều nhà chính trị, người nổi tiếng và các quan chức chính phủ khác. Anh ta làm vậy chỉ vì tò mò. Sau đó, cũng giống như tôi, Czubinski bị kiện với tội danh lừa đảo qua mạng và máy tính, và bị kết án vào tháng 12 năm 1995. Sau khi bị kết án sáu tháng tù, anh ta đã kháng án thành công. Tòa thượng thẩm liên bang cho rằng Czubinski, giống như tôi, chưa bao giờ định sử dụng hay phát tán những thông tin đó mà chỉ đơn giản là tiếp cận nó để thỏa mãn tính tò mò của bản thân. Anh ta được xóa án và không còn phải ngồi tù nữa.

Với tiền lệ rõ ràng như vậy, tôi tin chúng tôi sẽ có cơ hội để thắng vụ kiện của chính phủ. Tôi nóng lòng nói với luật sư rằng tôi muốn ra tòa. Chiến thuật tôi đề xuất là: Tôi sẽ nhận tội hacking nhưng sẽ lý luận rằng mình không phạm tội lừa đảo qua mạng hay máy tính bởi, giống như Czubinski, tôi đã làm những việc đó chỉ để thỏa mãn trí tò mò của bản thân.

Randolph đồng ý rằng vụ của Czubinski đã đặt ra một tiền lệ hoàn hảo cho phần biện hộ của tôi. Nhưng có một vấn đề lớn hơn. Randolph có vẻ hơi lưỡng lự trước khi bảo tôi đó là gì; tôi có thể thấy ông đang cố khéo léo che giấu. Có vẻ đây là lúc để ông nói ra điều chưa từng được tiết lộ.

Một trong các công tố viên chính phủ đã dành nhiều tuần để thúc giục luật sư của tôi hãy thuyết phục tôi đồng ý với thỏa thuận nhận tội. Vài ngày gần đây, ông ta thậm chí còn đưa ra tối hậu thư: Nếu tôi không đồng ý nhận tội và dàn xếp vụ án, chính phủ sẽ đưa tôi vào vòng xử án hình sự. Nếu thua ở một khu vực tài phán, họ sẽ thử ở một nơi khác; nếu thắng, họ sẽ ép tôi phải nhận án phạt ở mức tối đa. Họ có được lời tuyên án hay không không quan trọng bởi họ đã nhốt tôi mà không có bảo lãnh suốt thời gian qua.

Tôi đã sẵn sàng để chiến đấu. Nhưng luật sư khi đó của tôi lại bảo tôi một cách khéo léo hết mức có thể: “Tôi nghĩ cậu nên chấp nhận thỏa thuận nhận tội này.”

Ông ấy giải thích: “Nếu ra trước tòa, cậu sẽ phải làm chứng. Và việc đó sẽ khiến cậu phải tiến hành các bước kiểm tra chéo về những thứ khác...”

“Thứ khác” đó là câu chuyện hoang đường đã lưu truyền suốt nhiều năm về những vụ hacking của tôi, những tin đồn rằng tôi đã đột nhập vào CIA, FBI và cả NORAD. Chưa nói đến rất nhiều thứ tôi đã làm trong sự nghiệp hacking nhưng chưa bị buộc tội: thao túng bộ chuyển mạch của các công ty điện thoại trên khắp nước Mỹ; lấy thông tin từ DMV California; nghe lén các cuộc điện thoại của người đưa tin cho FBI; nghe lén tin nhắn hòm thư thoại của các nhân viên an ninh Pacific Bell. Và còn rất nhiều nữa.

Tôi có thể hiểu Randolph muốn nói gì. Trong quá trình kiểm tra chéo của bên công tố, tôi sẽ phải đối mặt với các án phạt khác bởi chính phủ có thể hỏi tôi bất cứ điều gì có liên quan đến các hoạt động hacking nếu tôi đứng lên bục làm chứng trước tòa. Chúng tôi thực sự không muốn dây vào tất cả những thứ đó.

Vậy là tôi nhận tội với những điều khoản tốt hơn rất nhiều so với thỏa thuận nhận tội ban đầu tôi được đề nghị gần ba năm trước.

Điều kiện trong lệnh quản chế của tôi là: Trong vòng ba năm tới, tôi sẽ không được phép chạm vào bất kỳ thiết bị điện tử nào, ví dụ như máy tính, điện thoại di động, máy fax, máy nhắn tin, máy đánh chữ, vv… nếu không có giấy phép viết tay từ Phòng Quản chế. Tệ hơn nữa, tôi không được tiếp xúc với máy tính qua bên thứ ba. Chính phủ thậm chí còn không muốn tôi được đặt vé máy bay nếu không hỏi xin phép trước. Tôi tự hỏi có thể tìm được việc bằng cách nào đây? Tôi cũng không thể tư vấn cho bất kỳ hoạt động nào có liên quan đến máy tính. Rất, rất nhiều các điều kiện trong lệnh quản chế của tôi khắt khe đến vô lý và một số quá chung chung đến mức tôi lo ngại không biết mình có vô tình vi phạm hay không.

Chính phủ đặt ra các điều kiện chung chung đó không chỉ để trừng phạt tôi, mà còn bởi họ đang cố bao quát hết các hạng mục để ngăn tôi tìm ra các lỗ hổng, các cách lách qua điều khoản hạn chế.

Cuối cùng, vào ngày 16 tháng 3 năm 1999, tôi cũng đồng ý ký thỏa thuận. Lần này, bên công tố đồng ý với một thỏa thuận nhận tội “ràng buộc”, có nghĩa là thẩm phán Pfaelzer sẽ phải kết án dựa trên những điều khoản tôi đã đồng ý, hoặc tôi có thể rút lại lời thú tội và ra tòa. Tôi nhận tội với bảy mục được các bên công tố ở Bắc và Nam California tự tay chọn (các khu vực tài phán khác cũng muốn tranh giành tôi), bao gồm lừa đảo trên mạng (tấn công bằng kỹ thuật xã hội với người khác qua điện thoại để lấy được mã nguồn), lừa đảo máy tính (sao chép mã nguồn), tàng trữ thiết bị truy cập (mật khẩu) và nghe lén trao đổi dữ liệu (cài đặt phần mềm đánh hơi mạng để lấy mật khẩu).

Trong quá trình bàn bạc thỏa thuận, bên công tố yêu cầu tôi phải trả 1,5 triệu đô-la tiền đền bù. May thay, luật liên bang bắt buộc tòa phải cân nhắc đến khả năng chi trả của tôi, vậy nên ngay cả khi thẩm phán Pfaelzer hẳn là muốn trừng phạt tôi mạnh tay, bà ta vẫn phải cân nhắc đến thu nhập khả thi của tôi. Vì những điều kiện trong lệnh quản chế rất hà khắc, nên Phòng Quản chế tính toán rằng tôi sẽ chỉ có thể kiếm được một công việc với mức lương tối thiểu như đứng rán bánh kẹp. Do đó, thẩm phán Pfaelzer sẽ phải tính mức tiền đền bù dựa trên ước tính của Phòng Quản chế về mức lương tối thiểu của tôi trong thời hạn ba năm. Thay vì hàng triệu đô-la như đề xuất trước đó, tôi bị bắt phải trả 4.125 đô-la.

Sau khi được phóng thích, tôi nhờ cha đăng thẻ tù nhân Nhà tù Lompoc của tôi lên đấu giá trên eBay. Khi các quản trị viên của eBay xóa tin bởi nó không đáp ứng “các tiêu chuẩn cộng đồng”của công ty, họ đã giúp tôi một việc rất lớn. Hành động đó đã tạo ra một cơn sốt truyền thông. Câu chuyện kỳ quái này đủ sức để trở thành một tin nóng trên kênh truyền hình CNN. Sau đó, tôi lại tiếp tục đăng thẻ tù lên Amazon và tin đăng bán đó cũng bị xóa vì cùng một lý do (cảm ơn, Amazon!). Cuối cùng, một người đàn ông ở châu Âu đã đồng ý mua nó với giá tận 4.000 đô-la – nhiều hơn rất nhiều số tiền tôi hy vọng thu được.

Với nụ cười lớn trên môi, tôi đem chỗ tiền đến Phòng Quản chế, cộng với 125 đô-la, và trả hết khoản tiền đền bù. Tôi thích thú với ý nghĩ rằng việc này đã biến thẻ tù nhân ở Lampoc của tôi thành một dạng “thẻ ra tù miễn phí”[1].

Chính phủ vô cùng phẫn nộ với màn phô trương nho nhỏ này: Cục Đặc trách Nhà tù Liên bang công khai nói rằng tấm thẻ là “tài sản của chúng tôi” và cố tìm cách lấy lại chỗ tiền. Tôi chưa bao giờ nghe thêm tin gì về vụ này.

Vào ngày 9 tháng 8 năm 1999, tôi chính thức bị kết án thêm 46 tháng tù, kế tiếp đó là 22 tháng tù vì đã vi phạm điều khoản quản chế và thực hiện các cuộc gọi miễn phí. Vì đã chờ đợi trong tù bốn năm rưỡi, nên thời gian của tôi gần như đã hết.

Vài tuần sau, tôi được chuyển đến Trại Giáo dưỡng Liên bang ở Lompoc, nơi tôi gặp ba người mặc com-lê. Về sau, tôi được biết họ là quản lý đơn vị, đội trưởng (Trưởng phòng An ninh nhà tù) và cai ngục. Tôi biết chuyện này hẳn không thường diễn ra với những tù nhân mới đến.

Hóa ra họ ở đó để cảnh cáo tôi hãy tránh xa máy tính và điện thoại. Nếu tôi ngứa tay nghịch ngợm đống thiết bị, họ nói, “anh sẽ phải trả giá đắt đấy!”

Rồi họ yêu cầu tôi phải tìm việc làm trong tù trong vòng 72 tiếng, nếu không họ sẽ giao việc cho tôi – “và sẽ không dễ chịu lắm đâu”.

Khi trò chuyện với một tù nhân khác, tôi phát hiện ra một tin tức thú vị, nhà tù đang cần tuyển một tù nhân làm việc ở Phòng Viễn thông.

“Cậu có kinh nghiệm với điện thoại không, Mitnick?” giám sát viên hỏi.

“Không nhiều lắm,” tôi nói. “Tôi biết làm thế nào để cắm dây vào lỗ. Nhưng đừng lo. Tôi học nhanh lắm.”

Ông ta đề nghị đào tạo tôi.

Trong hai ngày, công việc trong tù của tôi ở Lompoc là cài đặt và sửa chữa điện thoại của nhà tù.

Đến ngày thứ ba, hệ thống loa gào tướng lên: “Mitnick đang đến văn phòng của Đơn vị quản lý. Mitnick đang đến văn phòng của Đơn vị quản lý.”

Nghe không ổn rồi. Khi đến đó, tôi lại đối diện với ba gã vận com-lê trong “Ủy ban chào đón” tôi và họ giận tím mặt. Tôi cố chứng minh rằng chính họ đã yêu cầu tôi tìm việc mới và giám sát Phòng Viễn thông đã nhận tôi.

Họ nổi điên.

Vài tuần sau, công việc mới của tôi là một trong những việc khủng khiếp nhất trong nhà tù: Rửa nồi và chảo trong nhà bếp.

Ngày 21 tháng 1 năn 2000, khi trời còn tờ mờ sáng, tôi được đưa đến Phòng Tiếp nhận và Phóng thích. Tôi đã hết hạn tù và chuẩn bị được thả. Nhưng tôi vẫn lo lắng.

Vài tháng trước, có một vụ kiện ở bang California về việc tôi đã thử lừa DMV gửi ảnh của Joseph Wernle, Joseph Ways và Eric Heinz (hay Justin Petersen) bị bác bỏ, nhưng nó vẫn khiến tôi bất an. Trong lúc chờ đến ngày tự do, tôi luôn lo rằng sẽ có một vài cơ quan bang hay chính phủ nào đó có thể đang rình rập ngoài cửa để bắt mình. Tôi đã nghe chuyện một vài tù nhân được phóng thích chỉ để bị bắt lại vì một tội danh khác ngay lúc anh ta vừa bước chân ra khỏi cửa nhà tù. Tôi lo lắng đến mức đứng ngồi không yên trong buồng giam và chờ đợi.

Cuối cùng cũng đến ngày được bước chân ra khỏi Lompoc, tôi không thể ngờ mình đã được tự do. Mẹ và dì Chickie đến đón tôi. Cha cũng muốn đến nhưng không thể vì ông vừa bị trụy tim và phải trải qua một cuộc phẫu thuật rồi lại bị nhiễm khuẩn tụ cầu nặng. Có một nhóm phóng viên và đội ngũ quay phim đợi sẵn ở đó. Eric Corley cùng một đám đông lớn, náo nhiệt gồm những người hâm mộ chiến dịch “Hãy trả tự do cho Kevin” cũng ở đó. Khi chúng tôi đứng nói chuyện, nhà tù đã sử dụng các phương tiện giải tán để xua chúng tôi ra xa khỏi khu vực này. Nhưng tôi chẳng hề bận tâm. Tôi cảm thấy mình như một con người mới. Liệu điều gì đang chờ đợi tôi phía trước, là lịch sử lặp lại hay thứ gì đó hoàn toàn khác?

Hóa ra, chờ đợi tôi phía trước lại là một cuộc đời hoàn toàn mới mà tôi không bao giờ có thể tưởng tượng ra.

❀ ❀ ❀

[1] 96* Kevin Mitnick để từ này trong ngoặc kép bởi đây cũng là một tấm thẻ trong trò chơi “Cờ tỷ phú” (thẻ ra tù). (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.