Vào Lễ Tưởng niệm Liệt sĩ năm 1981, Lewis De Payne và tôi cùng tham gia một “bữa tiệc” với nhóm phreaker. Có dấu ngoặc kép kia là bởi ngoài lũ nhóc sáu tuổi muốn tổ chức sinh nhật và một nhóm tín đồ cuồng công nghệ thì còn ai chọn tiệm pizza Shakey làm chỗ tụ tập và đùa giỡn cơ chứ?
Hơn 20 người có mặt, gã nào trông cũng quái đản hệt như một tên cuồng ham radio hạng nhất. Nhưng một vài người trong số này có kiến thức kỹ thuật khá tốt, khiến tôi được an ủi rằng mình cũng không hoàn toàn lãng phí thời gian.
Buổi trò chuyện hiển nhiên xoay quanh một trong những mục tiêu ưa thích nhất của tôi, COSMOS (Computer System for Mainframe Operations), một trong những hệ máy tính tối quan trọng đầu tiên của Pacific Telephone, có thể mang lại quyền hạn to lớn cho bất kỳ phreaker nào truy cập được vào nó.
Lewis và tôi đã truy cập vào COSMOS. Đây cũng là một trong những máy tính đầu tiên của Pacific Telephone bị tôi tấn công, nhưng có lẽ chỉ có vài người có thể làm vậy tại thời điểm đó và tôi cũng không định tiết lộ mình đã làm thế nào. Khi cuộc trò chuyện bắt đầu, tôi nhận ra tòa nhà đặt hệ thống COSMOS ở ngay gần đó, chỉ cách vài dặm đường. Tôi cho rằng nếu vài người trong số chúng tôi tới đó và thử lục tìm thùng rác xung quanh một chút, có lẽ chúng tôi có thể kiếm được vài thông tin hữu ích.
Lewis luôn sẵn sàng cho mọi ý tưởng. Chúng tôi chỉ rủ thêm Mark Ross, một gã khá quen thuộc với các hệ thống điện thoại và có thể tin tưởng được.
Trên đường đi, chúng tôi rẽ qua quầy thuốc 24 giờ để mua một ít găng tay cùng đèn pin, sau đó tiến thẳng tới tòa nhà COSMOS. Thùng rác có thể mang lại vài thứ hay ho nhưng không mấy giá trị cho lắm. Sau khoảng một giờ, tôi chán nản gợi ý: “Sao tụi mình không thử xem có vào trong được không?”
Cả hai đứa còn lại đều muốn tôi đi vào và thử xem có thể tấn công tay bảo vệ bằng kỹ thuật xã hội không, sau đó gửi tín hiệu bấm phím ra ngoài từ máy ham radio cầm tay. Không đời nào – chúng tôi sẽ là ba gã ngự lâm quân hoặc không gì cả.
Cả lũ bước vào. Tay bảo vệ trông có vẻ khoái hút cỏ thường xuyên. Tôi nói: “Xin chào, anh thế nào? Chúng tôi ra ngoài muộn chút. Tôi làm việc ở đây, đang muốn cho mấy anh bạn này ngó chỗ làm một chút.”
“Được,” anh ta nói. “Anh điền tên ở đây.” Không buồn hỏi thẻ ID. Mọi chuyện suôn sẻ.
Chúng tôi từng gọi điện đến các phòng ban và phân tích hoạt động của công ty điện thoại trong suốt thời gian dài đủ để biết các nhân viên COSMOS làm việc ở đâu. “Phòng 108” liên tục xuất hiện trong các cuộc đối thoại của Pacific Telephone. Chúng tôi tìm đường tới đó.
COSMOS. Một mỏ vàng. Một món béo bở.
Trên tường đính một tệp thư mục gồm các bảng danh sách số dial-up nội bộ của tất cả trung tâm đấu dây[1] ở Nam California. Chúng nhìn hệt như những ấn phẩm quảng cáo bóng bẩy trong văn phòng bác sĩ với lời mời gọi: “Hãy lấy một tờ đi!” Chúng tôi gặp may đến khó tin. Đây là kho báu thực sự, một trong những kho báu mà tôi vẫn luôn thèm khát nhất.
Một văn phòng trung tâm thường có một hay vài trung tâm đấu dây. Nhiệm vụ chuyển mạch điện thoại ở mỗi văn phòng trung tâm sẽ do một trung tâm đấu dây riêng biệt phụ trách. Nếu có danh sách các số dial-up cho từng trung tâm đấu dây và tài khoản truy cập trong tay, tôi sẽ có khả năng thao túng bất kỳ đường dây điện thoại nào của Pacific Telephone trong khu vực dịch vụ cung cấp ở Nam California.
Thật là một phát hiện đầy kích thích. Nhưng tôi còn cần cả mật khẩu cho các tài khoản quản trị khác nữa. Tôi đi lòng vòng qua các phòng quanh phòng COSMOS, mở các tệp thư mục và ngó vào ngăn kéo. Tôi mở một tệp hồ sơ và tìm được tờ giấy có dán nhãn “Mật khẩu”.
Ôi trời!
Quá tuyệt. Tôi cười ngoác miệng.
Chúng tôi lẽ ra đã nên rời đi ngay lúc ấy.
Nhưng tôi còn phát hiện ra một tập tài liệu hướng dẫn COSMOS chứa cả đống thông tin cần-phải-có. Một cám dỗ không thể cưỡng lại. Tập tài liệu hướng dẫn này có thể cho chúng tôi biết mọi thứ cần biết, từ đặt yêu cầu bằng các lệnh mã hóa cho tới mọi vấn đề về vận hành của hệ thống. Ngày nay, bạn có thể tìm được thông tin nhờ Google nhưng ở thời đó, chúng chỉ được lưu trong tập tài liệu hướng dẫn như thế này.
Tôi nói với đồng bọn: “Mang xấp tài liệu này ra tiệm photocopy đã, mỗi đứa một bản, sau đó trả lại họ trước khi mọi người quay lại làm việc vào sáng mai.”
Gã bảo vệ không buồn hỏi lý do chúng tôi đi vào tay không mà lại đi ra với vài tập giấy, bao gồm cả mấy thứ nhét trong cặp hồ sơ mà Lewis kiếm được trong một căn phòng nào đó.
Đây là quyết định ngu ngốc nhất đời tôi thuở ấy.
Chúng tôi lái xe lòng vòng để tìm cửa hàng photocopy nhưng không thấy. Hiển nhiên là không có tiệm photocopy nào lại mở cửa vào lúc 2 giờ sáng. Chúng tôi cũng cho rằng đằng nào thì cũng quá nguy hiểm nếu quay trở lại tòa nhà lần nữa để trả lại tập hồ sơ, kể cả sau khi đã đổi người trực ca – ngay cả khả năng bịa chuyện trong chớp mắt của tôi cũng không thể đưa ra một lời giải thích nào đáng tin cậy.
Do đó, tôi mang tập hồ sơ về nhà. Nhưng tôi vẫn có cảm giác không ổn. Tôi nhét chúng vào mấy cái túi rác Hefty và Lewis giấu ở đâu đó. Tôi không muốn biết.
Dù không còn hẹn hò với Susan Thunder, Lewis vẫn liên lạc với cô ta và cậu ta quả là một gã nhiều chuyện. Không thể giữ kín những bí mật có thể mang lại rắc rối lớn cho chính mình và bạn bè, cậu ta đã kể cho Susan về những tập tài liệu hướng dẫn.
Susan báo ngay cho công ty điện thoại. Vài ngày sau, vào một buổi tối mùa hè nóng nực, khi tôi rời chỗ làm (khi đó, tôi là nhân viên trực điện thoại ở Steven S. Wise Temple) và lái xe ra khỏi bãi đỗ để về nhà, tôi vượt qua một chiếc Ford Crown Victory chở ba người đàn ông bên trong. (Chẳng hiểu sao mấy gã nhân viên chấp pháp cứ phải lái chung một mẫu xe? Chẳng lẽ không có gã nào nhận ra rằng điều đó chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”, như thể sơn cả dòng chữ “CỚM CHÌM” trên hông xe?)
Tôi tăng tốc để xem họ có quay đầu xe và theo đuôi không.
Có. Chết tiệt! Nhưng biết đâu đây chỉ là ngẫu nhiên?
Tôi tiếp tục tăng tốc, chuyển bánh lên con dốc dẫn ra đường I-405 hướng về Thung lũng San Fernando.
Chiếc Crown Vic vẫn bám theo sau.
Tôi nhìn qua kính chiếu hậu, một cánh tay vươn ra đặt bộ đèn chớp lên nóc xe và đèn cảnh sát bắt đầu nháy. Chết tiệt! Tại sao họ lại tóm tôi? Tôi thoáng nghĩ tới việc tăng tốc hơn nữa. Một cuộc đuổi bắt tốc độ cao sao? Thật điên rồ!
Không đời nào tôi cố sống cố chết chạy đâu. Tôi dừng xe.
Xe họ dừng lại ngay sau tôi. Ba gã cảnh sát nhảy ra. Họ bắt đầu chạy về phía tôi.
Họ rút súng!!!!
Họ hét lên: “Ra khỏi xe!”
Chỉ trong nháy mắt, tôi đã bị còng tay. Chiếc còng khít chặt đau đớn.
Một gã hét vào tai tôi: “Mày sẽ phải ngừng ngay mấy trò khỉ với công ty điện thoại! Bọn tao sẽ dạy cho mày một bài học!” Tôi sợ tới mức bật khóc.
Một chiếc xe khác dừng lại. Lái xe nhảy ra và chạy về phía chúng tôi. Hắn ta gào lên với mấy tay cớm: “Tìm bom trong xe! Nó có bom logic[2]!”
Giờ thì tôi bật cười trong nước mắt. Bom logic là một phần mềm, nhưng mấy gã này có vẻ như không biết điều đó.
Họ nghĩ tôi mang bên mình cái gì đó có thể thổi tung tất cả mọi người! Họ bắt đầu tra hỏi tôi. “Tập tài liệu hướng dẫn đâu?”
Tôi nói với họ: “Tôi là trẻ vị thành niên, tôi muốn gọi luật sư.”
Dù vậy, họ vẫn đối xử với tôi hệt như một thành phần khủng bố, dẫn tôi tới đồn cảnh sát ở Pasadena cách đó chừng 45 phút lái xe và tống tôi vào buồng tạm giam.
Cuối cùng, một giám sát viên tới để tra hỏi tôi. Dù có quyền thả tôi, nhưng ông ta đã bị mấy tay cảnh sát thuyết phục rằng một kẻ tội phạm như tôi có thể được coi là một Hannibal Lecter[3] về tấn công máy tính. Tôi được chuyển sang trại cải tạo thanh thiếu niên ở Đông Los Angeles trong đêm với chiếc còng trên tay và dẫn ra tòa ngay ngày hôm sau. Cả cha và mẹ tôi cùng có mặt ở đó, cố gắng để tôi được thả ra.
Tờ Pasadena Star-News đăng một bài khá dài về tôi. Sau đó là một câu chuyện còn lớn hơn nữa trên tờ Los Angeles Times số ra ngày Chủ nhật. Dĩ nhiên, vì tôi vẫn là trẻ vị thành niên, nên họ không được phép công khai tên thật của tôi.
Nhưng họ vẫn làm. Và điều này đã mang lại hậu quả lớn về sau.
(Ngoài lề một chút, sau này tôi phát hiện ra người đã hét lên báo có bom logic là Steve Cooley, Trợ lý công tố Quận được ủy quyền trong vụ của tôi. Hiện nay anh ta là người đứng đầu, một công tố viên của Quận Los Angeles. Dì tôi, Chickie Leventhal, điều hành công ty Chickie’s Bail Bonds[4] đã lâu và do đó có quen biết với Cooley. Vài năm sau, khi cuốn The Art of Deception (tạm dịch: Nghệ thuật dối lừa) của tôi được xuất bản, dì đã dùng cuốn sách này làm quà trong một cuộc vận động gây quỹ cho trẻ em mà Cooley cũng tham dự. Dì nói với Cooley rằng tôi là cháu dì, anh ta nói anh ta cũng muốn có một cuốn. Anh ta đề nghị tôi ký và viết vào sách: “Chúng ta đã đi cả quãng đường dài.” Quả thực là vậy. Tôi rất mừng vì đã làm vậy theo ý anh ta.)
Thẩm phán Phiên tòa xét xử trẻ vị thành niên có vẻ bối rối khi nghe nói về vụ của tôi: Tôi bị buộc tội vì là một hacker, nhưng tôi không hề ăn cắp hay sử dụng bất kỳ số thẻ tín dụng nào, tôi cũng không hề bán các phần mềm sở hữu hay bí mật doanh nghiệp. Tôi chỉ tấn công vào máy tính cũng như các hệ thống của công ty điện thoại vì sở thích đơn thuần. Viên thẩm phán không hiểu nổi tại sao tôi lại hành động không vì “mục đích lợi nhuận” nào. Việc tấn công chỉ vì thú vui có vẻ vô nghĩa.
Do không dám chắc về những gì tôi làm khi đột nhập vào các máy tính và hệ thống điện thoại, ông ta liền cho rằng có thể mình đã để lỡ điều gì đó. Có lẽ tôi đã nhận tiền hoặc thu lợi bằng phương thức công nghệ cao nào đó mà ông ta không hiểu. Toàn bộ sự việc đều có vẻ khả nghi.
Sự thực là, tôi đã đột nhập vào hệ thống điện thoại vì một lý do tương tự như khi một đứa trẻ đột nhập vào ngôi nhà bỏ hoang cuối phố: chỉ để xem thế nào. Cám dỗ muốn được khám phá và tìm ra điều gì ẩn trong đó quá lớn. Hiển nhiên, việc đó đi kèm với những nguy hiểm nhất định, nhưng chấp nhận rủi ro là một phần của cuộc vui.
Vì đây là trường hợp hacking đầu tiên, nên phía công tố Quận khá bối rối trong việc định tội tôi. Một số tội đã được hợp pháp hóa, như việc đột nhập vào công ty điện thoại, một số khác thì không. Công tố viên cho rằng qua việc hacking, tôi đã làm hư hại hệ thống máy tính ở US. Leasing. Sự thực là không hề, và đây cũng không phải là lần cuối cùng tôi bị buộc tội này.
Thẩm phán Phiên tòa xét xử trẻ vị thành niên gửi tôi tới Trại Cải tạo Thanh thiếu niên California (CYA) ở Norwalk, California để tiến hành đánh giá tâm lý trong suốt 90 ngày xem liệu tôi có phù hợp cải tạo ở đây không. Tôi chưa từng hoảng sợ như vậy. Những đứa khác bị ném vào đây vì các tội như hành hung, hãm hiếp, giết người hay tấn công có tổ chức. Đúng là ở đó có trẻ vị thành niên. Nhưng chúng thậm chí còn bạo lực và nguy hiểm hơn nữa bởi chúng luôn cảm thấy mình là kẻ vô địch.
Mỗi chúng tôi đều có phòng riêng và bị nhốt trong đó, chỉ được ra ngoài theo nhóm nhỏ chừng ba tiếng mỗi ngày.
Tôi viết thư về nhà, luôn mở đầu bằng câu “Kevin Mitnick bị bắt giam – Ngày 1”, “Ngày 2”, “Ngày 3”. Dù Norwalk thuộc Quận Los Angeles, mẹ và bà tôi vẫn phải mất tới một tiếng rưỡi lái xe tới đó. Hơn những gì tôi xứng đáng được hưởng, họ đều đặn tới mỗi cuối tuần và mang theo đồ ăn. Họ luôn rời nhà từ rất sớm để là người xếp hàng đầu tiên.
Tôi trải qua sinh nhật lần thứ 18 ở trại giam Norwalk. Dù tôi không còn là trẻ vị thành niên nhưng CYA vẫn giam giữ tôi thêm một thời gian. Điều đó có nghĩa là với những lần phạm tội sau, tôi sẽ bị xét xử như một người trưởng thành và nếu bị kết tội, tôi sẽ phải ngồi tù.
Sau 90 ngày, CYA đề nghị tạm tha cho tôi và theo dõi thêm tại nhà. Đề nghị này được tòa chấp thuận.
Phụ trách giám sát tôi trong thời gian bị quản chế là một phụ nữ béo phì cực độ tên là Mary Ridgeway. Tôi có cảm tưởng niềm vui thú duy nhất của bà ta là ăn uống và đánh chửi lũ nhóc thuộc thẩm quyền phụ trách của mình. Có lần điện thoại của bà ta bị hỏng. Vài tháng sau, tôi được biết là công ty điện thoại đã sửa đường dây và họ cũng không rõ tại sao điện thoại lại hỏng. Bà ta đoán chuyện này hẳn liên quan đến tôi và ghi lại trên hồ sơ. Ngay lập tức, những thông tin này được coi là chính xác và có thể được sử dụng để chống lại tôi sau này. Thời đó, rất nhiều lần những vấn đề công nghệ không giải thích được ở đâu đó đều được cho là tại tôi.
Đi kèm với hoạt động quản thúc tại nhà là các buổi tư vấn tâm lý. Tôi được chỉ định đến một phòng khám chuyên điều trị cho mấy kẻ tấn công tình dục và nghiện nặng. Người tư vấn cho tôi là một bác sĩ thực tập người Anh tên là Roy Eskapa. Khi tôi giải thích về việc mình bị bắt vì phone phreaking, mắt anh ta sáng lên: “Cậu có biết điện thoại và điện tín quốc tế (ITT) không?”
“Đương nhiên,” tôi nói.
“Cậu biết làm sao để có được một mã không?”
Anh ta hỏi tôi về mã truy cập ITT. Một khi có mã, bạn có thể quay số truy cập ITT địa phương và thêm vào mã truy cập, sau đó là số điện thoại cho cuộc gọi đường dài mà bạn muốn gọi. Nếu bạn dùng mã truy cập của một ai đó, các cuộc gọi của bạn sẽ được tính tiền lên đầu kẻ tội nghiệp kia và bạn chẳng phải trả một xu nào.
Tôi mỉm cười. Roy và tôi hẳn sẽ làm việc ổn thỏa.
Trong suốt các buổi tư vấn theo yêu cầu của tòa án những năm 1981 và 1982, chúng tôi chỉ trò chuyện và sau đó, trở thành bạn tốt. Roy nói với tôi rằng những gì tôi đã làm quá thuần tính so với các tội ác mà những bệnh nhân khác của anh phạm phải. Nhiều năm sau, năm 1988, khi tôi lại gặp rắc rối, anh viết thư gửi tới tòa, giải thích rằng tôi ham muốn hacking không phải vì các động cơ hiểm độc hay tội ác mà chỉ là dạng rối loạn cưỡng chế. Theo lời anh nói, tôi bị “nghiện” hacking.
Theo những gì tôi và luật sư của mình có thể xác định, đây là lần đầu tiên hacking được đánh giá ở góc độ này và đặt ngang hàng cùng với thuốc kích thích, rượu, cờ bạc và chứng nghiện tình dục. Khi quan tòa nghe mô tả các chẩn đoán về chứng nghiện và nhận ra tôi bị bệnh, bà đã chấp nhận các thỏa thuận nhận tội của tôi.
Đêm ngày 22 tháng 12 năm 1982, ba ngày trước lễ Giáng sinh, tôi ở trong phòng máy tính Salvatori Hall thuộc Đại học Nam California (USC) gần khu trung tâm Los Angeles. Ở cùng tôi là Lenny DiCicco, một gã cao mét tám, gầy lêu nghêu, người sau này đã trở thành chiến hữu hacking thân thiết và đáng tin cậy… và cũng là kẻ phản bội tôi.
Trước đó, chúng tôi đã cố hack vào hệ thống của USC qua modem điện thoại nhưng phát điên vì tốc độ kết nối chậm chạp. Thăm dò một hồi, sự hào hứng của chúng tôi chuyển sang sự thực là tòa nhà Salvatori Hall có một bộ máy chủ DEC TOPS-20 kết nối vào Arpanet, tiền thân của mạng Internet. Dùng máy trong khuôn viên trường giúp chúng tôi có thể truy cập nhanh hơn rất nhiều vào hệ thống của trường.
Nhờ vào đặc điểm dễ bị tấn công mà Lenny đã học lỏm được của Dave Kompel tại hội thảo của Hiệp hội Người dùng Máy tính Thiết bị Số (DECUS) mà chúng tôi tham dự một tuần trước đó, chúng tôi đã chiếm được toàn quyền đăng nhập vào toàn bộ hệ thống DEC 20 do sinh viên sử dụng. Nhưng chúng tôi muốn có được càng nhiều mật khẩu càng tốt, bởi dù chúng tôi có quyền quản trị trong tay, hệ thống đã được cấu hình để mã hóa toàn bộ mật khẩu.
Không việc gì phải lo hết. Tôi bắt đầu soát qua toàn bộ các tài khoản e-mail của nhân viên trong trường, những người có toàn quyền đăng nhập. Săn lùng bên trong hệ thống đã dẫn tôi tới hòm thư của phòng kế toán, chuyên phụ trách cấp tên đăng nhập và mật khẩu. Khi tìm kiếm trong e-mail của tài khoản này, tôi thấy đầy rẫy các tin nhắn trao đổi tên đăng nhập và mật khẩu dưới dạng văn bản thông thường. Vớ bẫm rồi!
Dù biết là nguy hiểm, nhưng tôi vẫn gửi toàn bộ tệp e-mail tới máy in. Khoảng 15 phút sau khi đặt lệnh in, nhân viên phụ trách ném tập giấy dày cộp vào khay đựng đồ sinh viên. Phòng máy tính đầy người, làm sao để biết được mình không bị theo dõi và có thể lấy được tài liệu mà không làm dấy lên nghi ngờ đâu đó? Vận dụng hết khả năng, tôi nhặt tập giấy in lên và mang lại chỗ tôi và Lenny đang ngồi.
Một lúc sau, hai nhân viên an ninh trường tiến vào, lao thẳng tới chỗ Lenny và tôi rồi hét lên: “Ngồi yên!”
Có vẻ như tôi đã nổi danh. Họ biết rõ ai là mục tiêu thực sự và còn biết cả tên tôi. Sau này tôi mới biết một trong những quản trị viên, Jon Solomon, đã có mặt tại hội thảo DECUS mà tôi và Lenny tham dự trước đó. Jon đã thấy và nhận ra tôi trong phòng máy. Anh ta gọi cho Dave Kompel, người từng ở trong nhóm đặt ra thử thách tấn công vào hệ thống phát triển RSTSE của DEC khi tôi còn là học sinh ở trường cấp ba Monroe. Kompel nói hãy gọi nhân viên an ninh trường tới và bắt tôi ngay lập tức.
Họ túm lấy chồng giấy in có tất cả mật khẩu trong đó. Do đang trong thời gian bị quản chế, tôi biết mình sẽ gặp rắc rối lớn. Nhân viên an ninh giải chúng tôi về trụ sở trong trường và còng tay chúng tôi vào ghế, sau đó biến mất khỏi văn phòng, để mặc chúng tôi ngồi một mình cạnh lối ra vào. Sau một lúc vặn vẹo, Lenny giơ tay ra trước mắt tôi – tay cậu ta không mang còng. Cậu ta có thói quen mang theo chìa khóa còng tay trong ví và đã xoay xở lấy nó ra để mở khóa.
Lenny mở khóa cho tôi và nói: “Cậu gặp rắc rối lớn hơn tớ, trốn nhanh đi.” Nhưng tôi trốn kiểu gì đây? Mấy gã nhân viên an ninh đã giữ chìa khóa xe của tôi và hơn nữa họ còn biết tôi là ai.
Bỗng có một gã quay lại. Tôi đóng còng lại sau lưng nhưng gã đã nghe thấy tiếng động và tới gần hơn để xem có chuyện gì. “Ê, có Houdini[5] này,” gã hướng về phía văn phòng và gào lên trong khi Lenny lặng lẽ vứt khóa xuống dưới sàn và đá ra xa vài mét. Chiếc chìa khóa văng xuống dưới gầm bánh xe ô tô được dựng bên tường gần đó.
Mấy gã cớm nổi điên và tra vấn: “Chìa đâu?” Họ lần lượt đưa chúng tôi tới phòng vệ sinh để khám xét và khá bối rối khi không tìm thấy nó.
Cảnh sát thuộc Đội Phòng chống Gian lận và Giả mạo của Sở Cảnh sát Los Angeles (LAPD) xuất hiện và giải chúng tôi đi. Họ định đưa tôi đến phòng giam tại trung tâm Parker, trụ sở của LAPD. Lần này, tôi bị ném vào ngục có sẵn một vài máy điện thoại bên trong. Tôi gọi cho mẹ trước tiên để nói cho bà biết chuyện gì đã xảy ra, và sau đó là dì Chickie, van vỉ dì bảo lãnh cho tôi ra càng sớm càng tốt – đây là chuyện cấp thiết bởi tôi muốn lấy xe ô tô trước khi cảnh sát lục soát ở đó. Như mọi khi, trong xe chứa đầy các giấy tờ và đĩa mềm có thể dùng để buộc tội tôi. Một đồng nghiệp của dì giúp tôi ra khỏi đó sau vài tiếng, vào khoảng 5 giờ sáng.
Mẹ tôi, người đã phải chịu đựng quá nhiều nhưng vẫn luôn tin tưởng tôi, đã tới đón và đưa tôi tới trường để lấy xe. Bà thấy mừng vì tôi vẫn ổn và không bị giữ lại. Cho dù tôi có xứng đáng phải chịu một cơn thịnh nộ hay quát mắng thế nào, đó cũng không phải là phong cách của bà. Thay vào đó, bà lo lắng cho tương lai của tôi hơn.
Tôi được tạm tha nhưng tự do chẳng tày gang. Khi lái xe đi làm tối hôm đó, tôi gọi cho mẹ từ Fromin’s Deli, nơi chúng tôi cùng làm việc dạo đó, để xem có ai tới tìm tôi không. “Không hẳn,” mẹ nói. Bỏ qua câu trả lời kín đáo của bà, tôi đi bộ tới nơi làm việc. Mary Ridge, người phụ trách quản thúc tôi trong thời gian tạm tha, đang ở đó cùng hai thám tử. Khi thấy tôi, bà ta thông báo rằng tôi bị bắt vì phạm lỗi trong thời gian chịu quản chế. Gã thám tử lái xe đưa tôi tới Trung tâm Giam giữ Trẻ vị thành niên ở Sylmar.
Thực ra, tới Sylmar lại là một điều may mắn. Tôi đã qua 18 tuổi và là một người trưởng thành theo quan điểm luật pháp. Nhưng vì vẫn đang trong thời gian quản thúc của Tòa án Thanh thiếu niên, nên tôi vẫn thuộc phạm vi quản lý của họ. Tôi được xử lý tương tự như một trẻ vị thành niên.
Nhưng mẹ tôi thì không quan tâm tới sự khác biệt. Tôi lại bị bắt và bị bỏ tù. Điều này cứ lặp đi lặp lại. Cậu con trai yêu quý của bà sẽ trở thành người thế nào đây? Liệu cả đời tôi cứ vào tù ra tội mãi sao? Bà tới thăm tôi và bật khóc. Bà đã làm rất nhiều điều vì tôi, và đây là cách mà tôi đáp trả – bằng nỗi đau và sự lo lắng. Tim tôi vỡ vụn khi thấy mẹ khóc. Đã bao lần tôi hứa với bà sẽ từ bỏ hacking? Tôi đã thực tâm muốn làm vậy nhưng vẫn chẳng khác một gã say không ngừng nốc rượu.
Cuối cùng thì lần hacking đó đã mang tới hậu quả kéo dài hơn những gì tôi có thể tưởng tượng ở thời điểm đó rất nhiều. Một trong những tài khoản tôi đăng nhập từ phòng máy của trường thuộc về một người có tài khoản sinh viên nhưng thực ra lại làm việc ở Lầu Năm góc. Khi cảnh sát phát hiện ra điều này, họ đã mớm chuyện cho cánh báo chí và các tờ báo lại cho đăng những tựa báo gây sốt bóp méo sự thật. Họ viết rằng tôi đã tấn công vào Bộ Quốc phòng. Lời cáo buộc này vẫn theo tôi tới tận bây giờ, dù nó hoàn toàn sai.
Tôi thừa nhận mình đã phạm lỗi trong thời gian chịu quản thúc tại nhà và bị gửi tới Trại Cải tạo Thanh thiếu niên trong suốt ba năm tám tháng, đây là khoảng thời gian tối đa họ có thể xử phạt tôi.
Nhưng tôi đã mắc nghiện – dù bị giam giữ, tôi vẫn tìm cách đánh bại hệ thống.
❀ ❀ ❀
[1] 28* Trung tâm đấu dây (wire center): Tòa nhà hay văn phòng trung tâm, nơi có các dây mạch được kết nối với nhau. (BTV)
[2] 29* Bom logic: Một phần mã được thiết kế để kích hoạt các tính năng độc hại dưới các điều kiện nhất định nào đó về ngày, giờ hoặc dữ liệu. (ND)
[3] 30* Hannibal Lecter: Nhân vật hư cấu trong loạt truyện trinh thám của Thomas Haris, là một bác sĩ tâm lý có vốn hiểu biết sâu rộng nhưng cũng là một trong những kẻ sát nhân ăn thịt người đáng sợ nhất. (ND)
[4] 31* Chickie’s Bail Bonds: Công ty chuyên cung cấp dịch vụ hỗ trợ bảo lãnh tạm tha. (ND)
[5] 32* Harry Houdini: Nhà ảo thuật Mỹ nổi tiếng với khả năng thoát khỏi xích, còng tay hay các thùng khóa kín. (ND)