ĐÊM TRẮNG Ở SEATTLE

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
32

❊ ❊ ❊

Nếu cảnh sát liên bang phản đối việc hacking của tôi, liệu họ có phản đối cả việc tôi hack một hacker khác không?

Có một gã tên là Mark Lottor, đang bị truy tố và đợi hầu tòa vì tội đồng phạm với Kevin Poulsen. Gã có một công ty tên Network Wizards, chuyên quảng bá cho cái mà gã gọi là “Bộ công cụ của nhà thử nghiệm điện thoại di động”. Nó được thiết kế nhằm cho phép các hacker, phone phreaker và những kẻ lừa đảo có thể kiểm soát điện thoại di động OKI 900 và OKI 1150 từ máy tính cá nhân của mình. Một số người tin rằng Lottor có mã nguồn của OKI 900; một số khác thì cho rằng hắn đã dùng kỹ thuật truy ngược[1] đối với firmware để phát triển bộ công cụ này. Tôi muốn có bản sao của bất kỳ thứ gì đang nằm trong tay hắn – mã nguồn hay chi tiết kỹ thuật truy ngược.

Qua tìm hiểu, tôi tìm ra tên người yêu của Mark: Lile Elam. Bạn biết sao không? Cô ta làm việc ở Sun! Thật hoàn hảo, không thể tốt hơn được nữa. Tôi vẫn còn quyền truy cập vào mạng lưới nội bộ nhờ một số hệ thống mà tôi đã hack vào ở Canada, và nhờ đi theo hướng này, tôi không phải mất quá lâu để thâm nhập vào máy tính làm việc của Lile ở Sun. Cài đặt “sniffer” – một chương trình có thể thu thập toàn bộ lưu lượng truy cập mạng của Lile – tôi kiên nhẫn đợi tới khi cô ta kết nối vào hệ thống của Mark hay hệ thống ở nhà riêng. Cuối cùng thì cũng trúng quả:

PATH: SunCOM(2600) => artnet(telnet)

STAT: Thu Oct 6 12:08:45, 120 pkts, 89 bytes [IDLE TIMEOUT] DATA:

lile

m00n$@earth

Hai dòng cuối là tên đăng nhập, tiếp đó là mật khẩu. Vậy là tôi đã có thể đăng nhập vào tài khoản tại máy chủ của cô ta ở nhà riêng. Nhờ tận dụng một lỗi bảo mật chưa được vá, tôi đã có quyền root.

Tôi cài thêm một sniffer cho máy ở nhà riêng của Lile, “artnet”, và sau vài ngày, cô ta cũng đăng nhập vào hệ thống của Mark, tiếp tục cung cấp cho tôi tên đăng nhập và mật khẩu để vào máy của gã đó. Tôi đợi tới tầm sáng sớm, đăng nhập và chiếm quyền root nhờ tận dụng cùng một lỗi bảo mật tương tự như khi thâm nhập vào máy tính ở nơi làm việc của Lile.

Ngay lập tức, tôi tra trong máy của Mark để tìm “*oki*” (dấu sao là ký tự đại diện mà trong trường hợp này có nghĩa là “tìm kiếm mọi tên tập tin có chứa ký tự ‘oki’ trong đó). Tôi kiểm tra tất cả số tập tin của Mark và phát hiện thấy hóa ra hắn ta không có mã nguồn cho OKI 900 mà là nhờ kỹ thuật truy ngược để có được nó – và hắn đã nhận sự giúp đỡ từ một hacker khác.

Ai là người đã giúp Lottor trong dự án này? Thật bất ngờ, chính là Tsutomu Shimomura, một chuyên gia bảo mật máy tính với danh tiếng lẫy lừng và một cái tôi còn lớn hơn nữa, đang làm việc tại Trung tâm Siêu máy tính ở San Diego. Điều kỳ quặc là tại thời điểm đó, Lottor đang bị truy tố về vụ của Kevin Poulsen, vậy mà hắn vẫn nhận được sự giúp đỡ của một chuyên gia bảo mật máy tính đang làm việc cho chính phủ. Điều đó là sao?

Tôi từng có dịp chạm trán với Shimomura, nhưng anh ta chưa bao giờ phát hiện ra chuyện này. Năm trước, hồi tháng 9 năm 1993, sau khi thâm nhập vào mạng lưới của Sun, tôi phát hiện ra anh ta đang tìm kiếm và báo cáo lỗi bảo mật trong SunOS, một trong những hệ điều hành tiên tiến của Sun. Vì muốn có thông tin đó, tôi đã nhắm vào máy chủ của anh ta. Sau khi tấn công vào một máy chủ có tên “euler” tại Đại học California ở San Diego UCSD, tôi đã chiếm được quyền root và cài đặt sniffer vào hệ thống.

Hẳn là ông trời cũng muốn giúp tôi. Chỉ trong vài giờ, tôi đã tóm được một tên đăng nhập, “david”, và đăng nhập vào “ariel”, một trong những máy chủ của Shimomura. Sau khi lấy được mật khẩu của david nhờ nghe lén đường dây, tôi truy cập vào hệ thống của Shimomura và hoạt động trên đó vài ngày trước khi bị phát hiện và đá ra ngoài. Shimomura cuối cùng đã phát hiện ra david bị hack, cố dò theo tôi nhưng chỉ đâm đầu vào ngõ cụt. Có lẽ anh ta đã theo dõi lưu lượng truy cập mạng của mình và phát hiện ra vấn đề, dù có muộn màng.

Trước khi bị đá ra ngoài, tôi đã thu được rất nhiều tập tin. Hầu hết những thứ thú vị này đều vượt quá tầm hiểu biết của tôi, nhưng tôi biết mình có thể quay lại nghiên cứu chúng một lúc nào đó. Giờ đây, nhờ Lottor, tôi lại có hứng thú với đống tài liệu này.

Trong quá trình thăm dò hệ thống của Lottor, tôi còn phát hiện ra một tập tin liệt kê các hướng dẫn thay đổi ESN từ bàn phím của điện thoại OKI.

to set the esn, enter debug mode.

the command is #49 NN SSSSSSSS <SND>

NN is 01 or 02

SSSSSSSS is new ESN# in hex set security code to 000000 for easier access!

Có vẻ như Lottor và Shimomura đã dùng kỹ thuật truy ngược và xây dựng một phiên bản đặc biệt của firmware cho phép người sử dụng điện thoại dễ dàng thay đổi ESN từ bàn phím. Việc này không gì ngoài mục đích nhái số điện thoại của người khác. Tôi mỉm cười và lắc đầu. Đây là một bí ẩn còn lớn hơn: Tại sao một hacker bị truy tố và một chuyên gia bảo mật lại muốn nhái số điện thoại? Đây là bí ẩn tôi chưa bao giờ khám phá ra.

Dù sao thì tôi cũng chẳng thu được gì với mục tiêu ban đầu: tìm kiếm mã nguồn của nhà sản suất OKI. Khi nhìn qua đống tập tin dữ liệu của Lottor, tôi phát hiện ra Shimomura đã viết một chương trình phân tách “disassembler” 8051 mà Lottor dùng để truy ngược firmware. Tôi cũng đọc được vô số e-mail giữa Lottor và Shimumora thảo luận về dự án kỹ thuật truy ngược của họ. Trong một e-mail thú vị, Lottor gửi cho Shimomura một ứng dụng dòng lệnh[2] có tên là “modesnexe”.

OKI ESN Modifier. Copyright (C) 1994 Network Wizards.

Cái tên đã thể hiện tất cả: Đây là chương trình dùng để điều chỉnh ESN trên điện thoại OKI. Thật thú vị. Lại một lần nữa, tôi chỉ có thể nghĩ tới một mục đích có khả năng nhất: lừa đảo.

Tôi gom tất cả các tập tin liên quan tới điện thoại di động và nén chúng lại, bao gồm cả thư trao đổi với Shimomura. Nhưng quá trình này rất mất thời gian. Trong lúc chuyển tập tin, đột nhiên tôi bị rớt kết nối. Hẳn là Lottor đã rút cáp mạng và dừng việc chuyển tập tin. Chết tiệt! Hắn ta đã ngắt máy tính ra khỏi mạng Internet.

Máy chủ của Lottor kết nối lại vào mạng Internet ngày hôm sau, sau khi hắn đã thay đổi tất cả mật khẩu của máy chủ. Không nản lòng, tôi tìm cách khác và phát hiện ra hắn đang hỗ trợ vài máy chủ ở “pagesatcom”, một dịch vụ tin tức tốc độ cao. Chỉ mất chưa tới một ngày, tôi đã có được root và cài đặt một sniffer.

Tôi liên tục quan sát sniffer. Chỉ trong vài giờ, Mark đã đăng nhập vào pagesat và từ đó kết nối với máy chủ của mình để đăng nhập. Sniffer của tôi ngay lập tức tóm được tài khoản đăng nhập của hắn.

Thực sự kích thích! Tôi chờ đến 6 giờ sáng, hẳn là lúc này Mark đã đi ngủ. Tôi kết nối vào máy chủ của hắn và đăng nhập một lần nữa. Tuyệt vời, tập tin dữ liệu tôi định chuyển đi hôm trước vẫn còn ở đó. 30 phút sau, tôi sao chép nó vào một trong những tài khoản hack được ở Netcom.

Từ e-mail và các tập tin họ đã trao đổi, có vẻ như Lottor là trưởng dự án trong khi Shimomura chỉ làm việc khi rảnh rỗi. Rõ ràng là Shimomura cũng có mã của OKI trên máy anh ta và thậm chí còn có nhiều thông tin hơn những gì tôi lấy được từ Lottor. Tôi quyết tâm phải tìm ra bằng được. Một lúc nào đó tôi sẽ cần phải quay lại thâm nhập vào máy tính của Shimomura.

Tôi nghĩ mình không giỏi lắm trong việc che giấu cảm xúc. Sau khi làm việc Bộ phận Giải đáp hỗ trợ tại Trung tâm Y tế Virginia Mason được ba tháng, một hôm sếp nói với tôi: “Chúng tôi biết ở đây cậu thấy rất nhàm chán.”

“Vâng, đúng rồi,” tôi nói. “Tôi sẽ thử tìm việc khác.”

Dù điều này có nghĩa là tôi lại thất nghiệp và không có thu nhập, nhưng tôi thấy mừng là mình không còn phải đối mặt với sự nhàm chán mỗi ngày. Người ta vẫn thường nói rằng cuộc đời quá ngắn ngủi mà.

Quay trở lại tiệm in Kinko’s để chế thêm vài sơ yếu lý lịch, tôi mang theo chiếc máy quét cầm tay RadioShack Pro-43, vốn đã được cài đặt với các tần số vô tuyến điện được FBI, DEA, Cục Đặc trách Nhà tù Liên bang, Cảnh sát Tư pháp cũng như Sở Mật vụ sử dụng. Như tôi đã nói, cảnh sát liên bang thường “mượn” tần số của các sở ngành khác nếu họ nghi ngờ đối tượng có thể đang nghe lén. Thiết bị khử tiếng ồn của máy quét được thiết lập để bắt sóng các cuộc đàm thoại ở khu vực xung quanh.

Bản sơ yếu lý lịch đang dần thành hình thì có tiếng người phát ra từ radio. Tôi mở mạch giảm ồn một chút và chờ đợi. Một lúc sau, tín hiệu phát ra từ một trong những tần số của Sở Mật vụ.

“Có hoạt động gì không?”

“Không có.”

Thật thú vị. Rõ ràng là họ đang tiến hành hoạt động giám sát. Tôi tăng âm lượng và đặt máy quét lên nóc máy tính để bắt sóng tốt hơn.

Rất nhanh, máy quét bắt đầu xì xào đầy tiếng người nói: nghe như dần đến đoạn cao trào trong các bộ phim hình sự. Hẳn là cuộc vây bắt đã bắt đầu.

“Không có hoạt động gì ở đây,” một giọng vang lên.

“Chúng tôi đang ở ngõ, chắn phía sau,” một giọng khác đáp lại.

Một cô gái ở máy tính bên cạnh hỏi tôi đang nghe gì. Tôi mỉm cười và nói rằng đó là Sở Mật vụ, sau đó cười lớn khi nói thêm: “Nghe có vẻ như ai đó sắp có một đêm buồn.” Cô ấy cũng cười lớn. Chúng tôi chăm chú nghe để xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

“Liệu hắn có ở cửa hàng máy tính không?” một giọng nói phát ra từ radio.

Giờ thì có vẻ kỳ quái rồi đấy. “Cửa hàng máy tính” – đối tượng của bọn họ đang làm việc ở cửa hàng máy tính hay đó là một khách hàng?

Không có lời đáp.

Tôi bắt đầu thấy bồn chồn và lo lắng – có khi nào họ đang đợi tôi không? Tôi ngừng làm việc trên máy tính và tập trung chú ý vào radio.

Sau đó, tôi lại nghe thấy: “Hắn lái loại xe gì?”

Ồ như vậy không phải là tôi: Tôi dùng phương tiện công cộng. Nhưng tôi vẫn lo lắng về vụ cửa hàng máy tính. 20 phút sau, “Chúng tôi vào đây.” Và sau đó radio im bặt.

Tôi tiếp tục làm việc chăm chỉ, chỉnh sửa khoảng 15 bản sơ yếu lý lịch cho các công việc khác nhau tại khu vực Seattle, vẫn điều chỉnh để đáp ứng khoảng 90% yêu cầu trên quảng cáo như thường lệ, mánh tuyệt nhất để có thể được gọi phỏng vấn.

Vẫn không có gì trên radio. Cô gái cạnh tôi đứng dậy, mỉm cười và chúc tôi một buổi tối tốt lành. Chúng tôi cùng nhìn chiếc máy quét và cười lớn, tự hỏi điều gì đã xảy ra với gã mà họ đang đợi.

Quá nửa đêm, tôi đã hoàn thành tất cả các hồ sơ sơ yếu lý lịch và đơn xin việc của mình. Tôi phải đợi một hàng dài chủ yếu toàn những sinh viên muốn in sơ yếu lý lịch trên các tấm giấy trắng ngà. Sau cùng cũng đến lượt mình, tôi được báo rằng hồ sơ của tôi sẽ được in ra vào sáng hôm sau. Chết tiệt! Tôi muốn gửi chúng đi ngay lập tức. Nhân viên ở quầy gợi ý tôi có thể thử một tiệm Kinko’s khác cách đó vài khu phố. Tôi bước tới cửa hàng khác nhưng câu chuyện vẫn tương tự: “Chúng tôi không thể in xong cho tới sáng.” Được rồi. Tôi nói tôi sẽ lấy tài liệu vào buổi sáng, dù biết rằng mình rất có thể sẽ lên mạng cả đêm, ngủ qua buổi sáng và sẽ không quay trở lại Kinko’s cho tới tầm trưa.

Sự việc hóa ra không phải vậy.

Trên đường về nhà, tôi dừng lại ở cửa hàng 24 giờ Safeway gần khu chung cư và mua vài đồ lặt vặt cộng với một chiếc bánh kẹp thịt gà tây cùng ít khoai tây rán cho bữa đêm muộn.

Hơn 1 giờ sáng tôi mới về gần đến nhà. Cuộc vây bắt của Sở Mật vụ mà tôi nghe lén được qua máy quét khiến tôi có chút bồn chồn. Như một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết trinh thám, tôi phòng xa và bước dọc theo phía đường đối diện để quan sát xem có chiếc xe đáng ngờ nào không và để đảm bảo đèn trong căn hộ mình vẫn còn sáng.

Nhưng không. Trong nhà tối om. Không ổn rồi – tôi luôn để đèn sáng. Là do lần này tôi quên mất hay có chuyện gì đã xảy ra? Có một chiếc xe tải đỏ bên đường, tôi có thể thấy hai dáng người ngồi trên ghế trước: Một người đàn ông và một người phụ nữ đang hôn nhau. Điều này khiến tôi nghĩ tới một hình ảnh khá buồn cười: Liệu có phải là hai cảnh sát liên bang đang hôn hít nhau để cải trang không? Không thể nào, nhưng ý nghĩ này cũng làm tôi bớt phần căng thẳng.

Tôi bước thẳng tới xe tải và hỏi người trong đó: “Này, xin lỗi vì đã làm phiền nhưng tôi có hẹn với bạn ở đây. Anh có thấy ai đứng đợi quanh khu vực này không?”

“Không, nhưng mọi người mang rất nhiều thùng từ căn hộ kia ra” – người phụ nữ chỉ vào cửa sổ phòng tôiCái quái gì vậy? Tôi cảm ơn và nói rằng đó không phải là nơi bạn tôi sống.

Tôi lao lên cầu thang tới chỗ quản lý tòa nhà, David, và bấm chuông dù biết mình có thể đánh thức anh ta dậy. Một giọng ngái ngủ gào lên: “Ai thế?” Khi tôi không trả lời, anh ta hé cửa mở, chào tôi bằng giọng ngái ngủ và khó chịu: “Ồ, chào anh Brian.”

Tôi cố hết sức để che giấu sự lo lắng: “Anh có để ai vào phòng tôi không?”

Đáp lại là câu trả lời gây choáng váng mà tôi không thể ngờ đến: “Không, nhưng cảnh sát và Sở Mật vụ đã phá cửa phòng anh. Cảnh sát Seattle đã để lại lệnh bắt và một tấm danh thiếp nói rằng họ muốn anh gọi cho họ ngay lập tức.”

Có vẻ anh ta đã bắt đầu tỉnh táo để nổi cơn bực tức thực sự: “Anh sẽ trả tiền cho cái cửa chứ hả – phải không?”

“Ừm, đương nhiên rồi.”

Tôi nói với anh ta rằng tôi sẽ gọi cho họ ngay.

Mồ hôi vã ra, vị chua của nỗi hoang mang tứa đầy khoang miệng, ruột gan cồn cào, tôi lao nhanh xuống bậc cầu thang và ra ngõ, tìm kiếm một vài dấu hiệu rắc rối – một chiếc xe không đánh dấu[3], chuyển động trên mái nhà hay bất kỳ thứ gì.

Không có gì và cũng chẳng có ai.

Tôi vẫn còn một chút may mắn: Nếu là cảnh sát Seattle chứ không phải FBI thì hẳn họ đang tìm Brian Merrill, người đã thực hiện các cuộc gọi di động trái phép, chứ không phải là gã hacker lẩn tránh pháp luật Kevin Mitnick.

Drews nói cảnh sát Seattle và Sở Mật vụ đã qua khám xét phòng tôi rồi rời đi. Hẳn là họ sẽ không ngu ngốc tới mức lục tung phòng tôi mà không lưu lại quanh đây để tóm tôi.

Tôi bỏ đi thật nhanh, không dám chạy. Chắc hẳn gã quản lý đã gọi điện cho cảnh sát hoặc FBI để báo rằng tôi đã xuất hiện và bỏ đi sau đó.

Thật may, tôi đã mang theo mình chiếc cặp tài liệu chứa tất cả giấy tờ liên quan đến thân phận mới của tôi – tôi đã lường trước rằng mình có thể bắt gặp cảnh sát hay một chiếc xe không đánh dấu bất kỳ lúc nào. Tôi ném túi đồ lặt vặt mới mua vào thùng rác.

Tim tôi đập càng lúc càng gấp. Tôi đi nhanh hết mức có thể mà không cuống lên thành chạy, tránh các trục phố chính cho tới khi cách xa căn hộ vài khu phố. Tôi không ngừng nghĩ về những thứ trong cặp, bao gồm cả đống giấy khai sinh trống lấy từ Nam Dakota.

Tôi không thể ném những tài liệu đó đi được, hiện giờ tôi cần chúng hơn bao giờ hết. Danh tính “vĩnh viễn” mới của tôi đã bị ném đi rồi, nó đã vô dụng mãi mãi. Tôi giữ chặt chiếc cặp. Tôi dám chắc vẫn có một nhóm cảnh sát liên bang đang lởn vởn gần đó để đợi. Ở một trong những chiếc xe đỗ ở đó sao? Đằng sau mấy cái cây? Hay trước cửa tòa nhà cuối phố?

Miệng tôi khô khốc như thể chưa uống giọt nước nào trong suốt vài ngày. Tôi lo lắng tới mức bắt đầu cảm thấy choáng váng. Mồ hồi túa khắp mặt.

Tôi bước vào một quán bar, thở hổn hển, hoàn toàn lạc lõng giữa những con người đang tiệc tùng vui thú, trút từng hớp rượu và tận hưởng không khí. Tôi trốn vào một phòng vệ sinh nam. Tôi muốn gọi cho mẹ nhưng không dám dùng di động, vì vậy, tôi chỉ ngồi ở đó để nghĩ xem mình có thể làm gì. Bắt taxi và biến khỏi khu vực này càng sớm càng tốt ư? Sở Mật vụ hẳn đang lái xe vòng quanh để tìm kiếm. Tôi chỉ muốn biến mất vào giữa đám đông.

Khi đã nghỉ ngơi đủ lâu để có thể trấn tĩnh lại, tôi bước ra vỉa hè, vẫy một chiếc taxi có thể đưa tôi ra khỏi khu vực. Một chiếc xe buýt lăn qua.

Xe buýt! Tấm vé ra khỏi nơi này!

Tôi chạy nhanh hết mức để bắt xe tại trạm dừng ở khu phố kế tiếp. Đi đâu cũng không thành vấn đề. Miễn là ra khỏi đây.

Tôi ngồi trên xe chừng một giờ cho tới bến cuối, sau đó bước xuống và đi bộ trong khí trời se lạnh để đầu óc thảnh thơi.

Tại cửa hàng tiện lợi 7-Eleven, tôi gọi vào máy nhắn tin của mẹ từ bốt điện thoại công cộng, gửi bà mã số 3 – “Khẩn cấp”. Tôi đợi, chờ bà có thời gian thức giấc, mặc đồ, lái xe tới sòng bạc và nhắn lại cho tôi để tôi biết bà đang ở đâu. Khoảng chừng 40 phút sau, máy nhắn tin của tôi rung lên, cho tôi số điện thoại của Caesar’s Palace. Tôi gọi vào khách sạn, nhờ chuyển máy tới mẹ và đợi đến khi bà nhấc máy.

Các bạn hẳn có thể mường tượng ra, không dễ dàng gì khi nói với mẹ tôi về cú bắt hụt lần này và rằng tôi không dám quay trở lại căn hộ của mình. Tôi tuyệt vọng, nhưng mọi chuyện có thể đã tệ hơn. Tôi nói rằng mình có thể phải ngồi tù rồi.

Khi dập máy, tôi chọn một nhà nghỉ từ danh bạ Những Trang Vàng có địa chỉ ở khu trung tâm Seattle gần chợ Pike Place, nơi có cửa hàng Starbucks đầu tiên. Tôi gọi một chiếc taxi và nhờ lái xe dừng ở một trạm ATM để rút khoản tiền tối đa có thể, 500 đô-la.

Tôi dùng tên Eric Weiss để đăng ký nhà nghỉ, thân phận cũ mà tôi vẫn còn giữ giấy tờ trong cặp tài liệu.

Sáng hôm sau tôi sẽ biến khỏi đây, biến khỏi Seattle không một dấu vết – hy vọng là vậy.

Tôi nằm trên giường với cảm giác mất mát lớn lao. Tài sản duy nhất còn lại là quần áo trên người, vài món đồ ở tiệm giặt là và chiếc cặp táp chứa đầy giấy tờ chứng minh thân phận. Tất cả những thứ còn lại đều ở căn hộ.

Sáng hôm sau, tôi dậy rất sớm.

Cuộc vây bắt diễn ra vào buổi đêm. Tôi hy vọng cảnh sát liên bang đã dừng lại sau khi lập xong hồ sơ và thu thập mọi chứng cứ – và rằng họ sẽ không buồn tra tới máy tính cũng như đống giấy tờ của tôi, nơi họ có thể tìm ra hóa đơn giặt là và một cuốn sổ ngân hàng chỉ rõ nơi tôi cất giấu tiền bạc.

Điểm dừng chân đầu tiên là tiệm giặt là bởi nó mở cửa rất sớm. Tôi lấy số quần áo duy nhất còn lại ngoài chiếc quần jeans, áo da đen và áo phông Hard Rock đang mặc trên người.

Ngân hàng mở cửa lúc 9 giờ sáng, và bạn thử đoán xem ai là vị khách đầu tiên bước qua cửa? Tôi đóng tài khoản ngân hàng – chỉ có 4.000 đô-la trong đó, nhưng tôi sẽ cần tới từng số tiền ít ỏi đó cho màn hô biến sắp tới.

Cảnh sát địa phương đã tóm được laptop, đĩa mềm, chiếc máy quét vô tuyến điện thứ hai, thiết bị ngoại vi và đống đĩa lưu trữ không mã hóa. Việc phát hiện ra Brian Merrill, gã giả mạo điện thoại di động, thực ra là Kevin Mitnick, kẻ bị cảnh sát liên bang truy nã, sẽ chỉ là vấn đề theo ngày.

Hay họ đã biết điều đó?

Tôi gọi điện tới văn phòng luật sư quận Seattle, hỏi thăm xem luật sư nào hay phụ trách các vụ giả mạo điện tử.

“Ivan Orton,” họ trả lời tôi.

Gọi điện cho thư ký của Orton, tôi nói với cô ta: “Tôi là đặc vụ Robert Terrent của Sở Mật vụ. Cô có bản sao lệnh bắt giữ và tờ khai tuyên thệ của vụ điện thoại di động tối qua không?”

“Không, anh phải gọi cho Phòng Lưu trữ,” và cô ta cho tôi số điện thoại.

Người phụ nữ ở Phòng Lưu trữ hỏi tôi địa chỉ cuộc vây bắt. Sau khi nghe tôi trả lời, cô ta nói: “À vâng, tôi có ngay đây.”

“Tuyệt, tôi đang ở hiện trường, cô có thể gửi fax bản sao cho tôi được không?”

“Tiếc quá,” cô nói. “Chúng tôi không có máy fax ở đây.”

Điều này không làm tôi bối rối. “Không vấn đề gì,” tôi nói. “Tôi sẽ gọi lại cho cô sau.”

Không có máy fax ở Phòng Lưu trữ hồ sơ? Thật kỳ lạ làm sao. Chúng ta đang nói về năm 1994; tất cả mọi người đều có một chiếc máy fax. Nhưng không – những cuộc gọi tới các văn phòng trong cùng tòa nhà cho thấy thành phố Seattle rõ ràng là không có nguồn ngân sách cho máy fax.

Cuối cùng, tôi phát hiện ra Thư viện Luật có một chiếc. Ngay khi tôi sắp xếp xong thì người phụ nữ ở Thư viện Luật đã trên đường tới Phòng Lưu trữ để lấy một bản sao tờ khai có tuyên thệ và gửi fax cho vị “nhân viên Sở Mật vụ” đang cần. Bản fax được gửi tới tiệm Kinko’s ở Bellevue. Tôi đợi một lúc, đoán chừng nó đã tới nơi, tiếp tục chuyển tiếp fax như thường lệ, rồi nhận nó vài phút sau đó ở tiệm Kinko’s thứ hai – tất cả đều diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn để cảnh sát hay nhân viên Sở Mật vụ không kịp xuất hiện.

Tôi ngồi trong một quán cà phê và mải mê nghiên cứu tờ khai, như nuốt từng từ một. Tôi biết có hai gã thám tử điều tra vụ giả mạo điện thoại di động đã theo đuôi tôi trong vài tuần. Tôi nhớ lại chiếc xe Jeeep đỗ bên đường một ngày nọ, trong xe là một gã đàn ông. Khốn kiếp! Linh cảm của tôi đã đúng – hắn là một trong số hai kẻ điều tra tôi. Nội dung trong lệnh bắt giữ cho thấy những gã này đã nghe lén các cuộc gọi của tôi trong vài tuần. Tôi nhớ lại những cuộc gọi cho mẹ vài lần một tuần; đôi khi bà có nhắc đến tên tôi khi nghe điện thoại từ sòng bạc. Tuy nhiên, họ đã để lỡ điều này. Họ hẳn phải biết, hoặc ít ra cũng cảm thấy rằng, tôi không chỉ là một thằng nhóc nào đó nhái số điện thoại, dù vậy họ cũng không rõ danh tính thực của tôi là gì. Nếu nghi ngờ tôi là Kevin Mitnick, kẻ đang bị truy nã, họ hẳn đã khoanh vùng giám sát quanh căn hộ của tôi và đợi suốt đêm đến khi tôi trở về.

Tôi khá lo việc họ đã ghi âm các cuộc gọi và có lẽ còn chụp cả ảnh tôi. Biết rằng họ đã nghe thấy giọng tôi, tôi gọi cho Lewis để cậu ta có thể cập nhật tình hình và giúp tôi đánh giá tình huống. Tôi có một kế hoạch. Lewis sẽ gọi cho một trong hai gã thám tử tư để xem hắn đã thu được thông tin gì. Tôi thực sự cần phải biết họ có băng ghi âm hay ảnh gì không.

Tôi cũng ở trên đường dây để nghe lén, tắt âm điện thoại. Lewis gọi cho một gã thám tử tư tên là Kevin Pazaski và giả vờ là công tố viên Ivan Orton.

Pazaki nói: “Chúng ta có một cuộc hẹn ngày mai ở văn phòng của anh.”

Lewis chớp lấy cơ hội và trả lời: “Đúng, cuộc gặp vẫn diễn ra như cũ nhưng tôi có vài câu hỏi gấp.” Cậu ta hỏi liệu gã có băng ghi âm nào không. Pazaski nói không – họ đã giám sát các cuộc hội thoại và ghi chép lại, nhưng không thu âm.

Phù! Thật là nhẹ lòng! Tiếp đó, Lewis hỏi xem họ có bất kỳ ảnh chụp nào của đối tượng không. Lại một lần nữa, câu trả lời là không. Lạy Chúa! Lewis kết thúc cuộc gọi: “Được rồi, Kevin, tôi sẽ có thêm vài câu hỏi chuẩn bị cho buổi gặp ngày mai. Gặp lại anh sau.”

Mặc kệ tôi đã căng thẳng thế nào, Lewis và tôi bắt đầu cười lớn sau khi dập máy, tưởng tượng ra phản ứng của mấy gã này vào buổi gặp quan trọng ngày mai khi họ nhận ra mình đã bị lừa. Nhưng lúc đó thì đã quá muộn để họ có thể hành động. Tôi đã có thông tin mình cần.

Thật đáng với công sức bỏ ra. Từ các tài liệu này, tôi có thể đảm bảo rằng cuộc vây bắt nhắm vào một kẻ đã thực hiện rất nhiều cuộc gọi trái phép. Không hề liên quan tới Mitnick.

Đó là lý do tại sao cảnh sát lại để lại danh thiếp nói tôi nên gọi điện cho Sở Cảnh sát Seattle. Họ không cho rằng lưu lại quanh đấy để bắt một gã sinh viên đại học nào đó biết cách gọi điện miễn phí là cần thiết.

Nếu ở trong hoàn cảnh khác thì có lẽ tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.

Tôi rời Seattle trên chuyến xe buýt Greyhound đi Tacoma, nơi tôi có thể lên tàu đi Portland và sau đó bay một chuyến bay mệt nhoài về Los Angeles. Trên đường đi, tôi gọi cho Ron Austin và kể lại cho anh ta nghe vụ vây bắt. Hóa ra cuộc gọi cho Ron không phải là một ý tưởng hay ho: Cũng như Peterson, anh ta đã trở thành kẻ chỉ điểm của cảnh sát với hy vọng được giảm mức án phạt. Anh ta ghi âm cuộc gọi của chúng tôi và chuyển cho FBI, chơi nước đôi với cả hai bên: Một mặt là bạn bè với tôi, cho tôi quyền đăng nhập vào DMV ở California… mặt khác, anh ta lại hợp tác với cảnh sát. Anh ta đang trong thời gian bảo lãnh, thu thập thông tin về Lewis và tôi cho đặc vụ FBI McGuire và công ty. Tôi phải thừa nhận rằng anh ta rất thông minh khi lấy được lòng tin của tôi nhờ đưa cho tôi quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu của DMV.

Ngay sau đó, anh ta gọi cho người phụ trách ở FBI để báo rằng người mà Sở Mật vụ mới vây bắt vì tội danh giả mạo điện thoại thực ra chính là Kevin Mitnick. Tôi không nói với anh ta rằng mình ở thành phố nào, nhưng khẳng định người của Sở Mật vụ không mất quá lâu để tìm ra.

(Trong một cuộc trò chyện khi tôi thực hiện cuốn sách này, Austin đã tiết lộ một mẩu chuyện nhỏ lý thú: Cảnh sát liên bang đã nhái số máy nhắn tin của anh ta và đợi cuộc gọi của tôi nhằm lấy được số điện thoại công cộng cùng khoảng thời gian tôi gọi nhằm truy ra cuộc gọi kế tiếp. Họ không biết rằng tôi đã có được quyền truy cập tuyệt đối vào các bộ chuyển mạch kiểm soát số điện thoại mà tôi đang gọi – và tôi luôn kiểm tra các loại bẫy cũng như để ý đến bất kỳ tin nhắn chuyển mạch nào cho thấy sự truy dò tại thời điểm đó. Tôi cần phải cảnh giác, đặc biệt là với những hacker giỏi như Austin. Biện pháp đối phó của tôi hoàn toàn có hiệu quả: Cảnh sát chưa từng xuất hiện trước cửa nhà tôi.)

Tới Los Angeles, tôi chọn một khách sạn gần Union Station rất thuận tiện. Thức giấc vào giữa đêm, tôi bật đèn và thấy hơn chục con gián bò khắp phòng. Eoooo! Tôi phải lấy giày chỉ để bước vài bước tới nhà vệ sinh, trước tiên cẩn thận giũ từng chiếc giày để đảm bảo không có con gián nào trong đó. Cơn lạnh dọc sống lưng càng lúc càng rõ. Không dành lấy một khắc chần chừ, tôi dọn đồ ra khỏi khách sạn ngay sau đó 15 phút, chuyển tới khách sạn Metro Plaza, nơi được chọn vì cái tên có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi. Hồi bị giam trong phòng biệt giam ở Trung tâm Giam giữ Đô thị của Los Angeles, phòng giam của tôi đã trông ra chính khách sạn này. Tôi từng ao ước được ở đó biết bao thay vì căn phòng 2x3 mét vuông với đệm nằm cứng như đá!

Tôi không gặp cha trong suốt một thời gian dài. Ông lắng nghe tôi kể về việc bị bắt hụt và mấy gã cớm thậm chí còn không biết họ suýt tóm được người mà FBI đã săn lùng suốt hai năm nay. Đáp lại là sự im lặng, như thể ông không biết làm sao để giúp được tôi. Giống như tôi vừa mới mô tả một cảnh trong phim hay gì đó đến từ cái đầu tưởng tượng đầy sáng tạo của mình.

Tôi gọi cho Bonnie, nói rằng tôi đang ở Los Angeles và muốn gặp cô ấy. Tại sao lại là Bonnie? Bởi không có nhiều người tôi có thể nói về tình trạng gay go của mình. Các chiến hữu hacking của tôi, từng người từng người một, đã phản bội tôi. Không còn ai ở Los Angeles tôi có thể tin tưởng.

Cô ấy có lý do riêng để sẵn lòng gặp tôi. Lewis biết rằng các máy tính, đĩa từ và đĩa mềm của tôi đã bị tịch thu ở Seattle và cậu ta muốn biết cảnh sát có thể tìm ra quan hệ của chúng tôi ở mức độ nào – và chừng nào trong số đó có thể dùng để buộc tội cậu ta. Bonnie có lẽ chỉ muốn vì người yêu mình, hy vọng có được chút đảm bảo từ tôi rằng cảnh sát Seattle và Sở Mật vụ sẽ không lôi được bất kỳ thông tin gì có thể gây rắc rối cho Lewis trong đống tài liệu điện tử đó.

Chúng tôi gặp nhau, tôi nói với Bonnie rằng mình đã mất mọi thứ và cần phải bắt đầu lại từ đầu. Dù tất cả các tập tin trong máy tính của tôi đã bị mã hóa, tôi đã sao chép dự phòng hầu hết số đó trong các đĩa từ, không mã hóa. Tôi đã định giấu chúng trong các hộp ở ngân hàng ký gửi an toàn, nhưng tôi đã không kịp đến đó, đồng nghĩa với việc hoặc là cảnh sát liên bang, hoặc là cảnh sát Seattle, đã nắm trong tay toàn bộ thông tin đó, không mã hóa.

Cô ấy nhận ra tôi đang rất hoảng loạn. Bonnie cố gắng trấn an tôi và đưa ra vài lời khuyên, nhưng chúng tôi đều hiểu rằng lựa chọn duy nhất của tôi là đi tự thú và chấp nhận vài tháng, nếu không phải là vài năm, trong khu biệt giam đó. Nếu không thì sẽ là tiếp tục cuộc chơi “hãy bắt tôi nếu các anh có thể”. Tôi vẫn luôn hướng theo lựa chọn thứ hai và hậu quả đón đợi thậm chí còn cao hơn nữa khi giờ đây tôi không chỉ bị buộc tội vi phạm điều kiện tạm tha: Với bằng chứng từ máy tính đã bị tịch thu của tôi ở Seattle, cảnh sát liên bang giờ đây đã có đầy đủ chứng cứ cho các vụ hacking mà tôi từng thực hiện.

Tôi hiểu trực giác của Bonnie: Cô ấy chắc rằng việc tôi bị bắt chỉ còn là vấn đề thời gian và cô ấy đang lo lắng cho tôi. Nhưng tôi sẽ cố gắng đến cùng và chịu hậu quả sau. Thật tốt vì được gặp lại Bonnie kể từ khi tôi bắt đầu chạy trốn, nhưng nghĩ đến việc vợ cũ đang sống với chiến hữu hacking tốt nhất của mình, khoảng cách tồn tại giữa chúng tôi là điều tự nhiên.

Tại thời điểm tôi quay lại Vegas một tuần sau đó, mẹ và bà ngoại đã bình tĩnh lại so với lúc tôi bị bắt hụt. Khi gặp lại, tôi thấy mình đắm chìm trong tình yêu và sự quan tâm của họ.

Tuy đang rất cần một thân phận mới nhưng tôi cũng hiểu rằng việc dùng bất kỳ cái tên nào trong danh sách ở Nam Dakota cũng đều rất nguy hiểm bởi tất cả thông tin đó đều nằm trong đĩa lưu trữ không bị mã hóa mà cảnh sát đã tóm được trong vụ vây bắt ở Seattle. Tôi nhắm tới trường đại học lớn nhất ở thành phố lớn nhất của Oregon, Đại học Tiểu bang Portland.

Sau khi tấn công vào máy chủ của Phòng Tuyển sinh, tôi gọi cho quản trị viên cơ sở dữ liệu. “Tôi là nhân viên mới ở Phòng Tuyển sinh,” tôi nói với anh ta. “Tôi cần xem…” sau đó mô tả tham số mình quan tâm: Những người nhận được bằng tốt nghiệp trong giai đoạn 1985-1992. Anh ta nói chuyện điện thoại với tôi suốt 45 phút, giải thích các hồ sơ đó được sắp xếp thế nào và tôi cần các lệnh gì để có thể lấy được tất cả các dữ liệu về sinh viên tốt nghiệp trong năm nhất định nào đó.

Khi kết thúc, tôi đã truy cập được vào hồ sơ của 13.595 sinh viên, mỗi hồ sơ đều có chứa đầy đủ tên họ, ngày tháng năm sinh, bằng cấp, năm cấp bằng, mã số An sinh và địa chỉ nhà.

Tại thời điểm đó, tôi chỉ cần một danh tính trong số đó. Tôi sẽ trở thành Michael David Stanfill.

Tình thế ngày càng gấp rút. Cảnh sát liên bang giờ đây có lẽ đã phát hiện ra tôi lại lọt qua tay họ một lần nữa. Hành trình ở Las Vegas lần này sẽ rất ngắn, chỉ cần vừa đủ để tôi có thể lo liệu một thân phận mới – hai đến ba tuần. Sau đó, tôi cần biến mất thật nhanh tránh trường hợp cảnh sát liên bang có thể bế tắc tới mức bắt đầu theo dõi cả mẹ tôi, người yêu mẹ và bà ngoại.

Công cuộc làm lại danh tính mới dưới cái tên Michael Stanfill cần phải tiến triển thật nhanh. Đối với bằng lái xe, bước quen thuộc sau khi lấy được bản sao giấy khai sinh và một số điện thoại nhái W-2 là xin lấy giấy phép học lái, đưa ra lý do quen thuộc với nhân viên ở DMV rằng tôi cần học vài buổi tập lái vì trước đó sống ở London, nơi mọi người thường lái xe phía bên trái đường.

Do mới lấy bằng lái dưới cái tên Eric Weiss ở DMV Las Vages vài năm trước, tôi có chút lo lắng khi quay lại đây một lần nữa – đặc biệt là khi tôi biết cảnh sát liên bang giờ đã được cảnh báo về việc tôi có thể muốn lấy một danh tính mới. Văn phòng DMV gần nhất ngoài Las Vegas là ở một thị trấn nằm trên sa mạc ở Pahrump, thường được biết tới nhờ hai điều: Art Bell, nhân vật nổi tiếng trên đài radio, cũng sống ở đây, và đây là nơi có Chicken Ranch, một nhà chứa hợp pháp ô danh. Theo luật của Nevada, mại dâm được cấp phép ở khu vực này của tiểu bang.

Tôi tra trên danh bạ Những Trang Vàng, tìm kiếm một trường lái ở Pahrump. Không tìm được địa điểm nào, tôi bắt đầu gọi tới các trường ở Las Vegas (đương nhiên là tránh xa nơi tôi đã học lái dưới cái tên Eric Weiss vài năm trước) và hỏi xem liệu mình có thể dùng một chiếc xe của họ để thi lái ở Pahrump hay không. Sau vài lần được đáp lại rằng: “Xin lỗi, chúng tôi không đưa người tới tận Pahrump”, cuối cùng tôi đã tìm được một trường lái nhận cấp xe và bài học lái trong chừng một giờ cho một gã “mới quay trở lại từ London và cần được luyện lại để có thể lái xe bên phải”, và chờ đợi để tôi thi lấy bằng xong – tất cả chỉ với 200 đô-la. Thật tuyệt. 200 đô-la là cái giá quá rẻ cho một danh tính mới.

Bà ngoại lái xe đưa tôi tới Pahrump; tôi đề nghị bà đợi tôi trong một nhà hàng dưới đường vì sẽ rất nguy hiểm cho cả hai chúng tôi nếu có chuyện gì đó bất ngờ xảy ra như lần ở Kinko’s đêm Giáng sinh.

Chúng tôi đến sớm chừng 20 phút. Tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa rẻ tiền trong văn phòng DMV nhỏ xíu đó, hồi hộp chờ xe trường lái tới. Chỉ chưa tới hai giờ đồng hồ nữa, tôi có thể bước ra ngoài với một thân phận hoàn toàn mới dưới cái tên Michael David Stanfill.

Khi tôi ngước nhìn lên, một hướng dẫn viên lái xe bước vào cửa. Chết tiệt! Chính là cái gã đã từng dạy tôi hai năm trước đó. Hắn ta chắc đã đổi trường lái. Đúng là vận c*t chó.

Thật phi thường khi bộ óc vô thức của tôi đã lao vào hành động và vạch ra một kế hoạch ngay tức khắc. Tôi mở lời, từ ngữ tuôn ra: “Này, tôi biết anh. Anh thường mua sắm ở đâu ấy nhỉ?”

“Ở Smith’s, trên Maryland Parkway,” anh ta trả lời, có vẻ như đang cố nhớ xem đã gặp tôi ở đâu.

“À đúng rồi,” tôi nói. “Tôi hay gặp anh ở đó. Tôi vẫn mua đồ ở đó suốt.”

“Ồ, tôi cũng nghĩ đã từng gặp anh,” anh ta nói, có vẻ chấp nhận lời giải thích này.

Giờ thì tôi phải thay đổi câu chuyện bởi lần trước tôi đã dùng bối cảnh “London” rồi. Thay vào đó, tôi nói với anh ta rằng tôi phục vụ trong Tổ chức Hòa bình của Mỹ ở Uganda và đã không lái xe năm năm nay rồi.

Lời nói dối này đã phát huy tác dụng. Anh ta rất hài lòng với việc tôi đã lấy lại khả năng lái xe của mình một cách nhanh chóng.

Tôi vượt qua bài kiểm tra không chút vấn đề và rời đi với bằng lái xe có tên Michael David Stanfill.

❀ ❀ ❀

[1] 85* Kỹ thuật truy ngược (reverse engineering): Quá trình tìm ra các nguyên lý kỹ thuật của một phần mềm ứng dụng hay thiết bị cơ khí qua việc phân tích cấu trúc, chức năng và hoạt động của nó. Trong quá trình này, người ta thường phải tháo dỡ đối tượng (ví dụ một thiết bị cơ khí, một thành phần điện tử, một phần mềm) thành từng phần và phân tích chi tiết hoạt động của nó, thường là với mục đích xây dựng một thiết bị hoặc phần mềm mới hoạt động giống hệt nhưng không sao chép bất cứ thứ gì từ đối tượng nguyên bản. (Wikipedia)

[2] 86* Ứng dụng dòng lệnh (console application): Ứng dụng không có giao diện đồ họa để thao tác chuột, tương tác bằng cách gõ lệnh. (ND)

[3] 87* Xe cảnh sát không được đánh dấu, trông như một chiếc xe thông thường. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.