KHÔNG THỂ GIẤU GIẾM

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Tôi đã chìm đắm vào việc điều tra cái chết của Adam tới mức cần phải nghỉ ngơi – phải có thứ gì đó không thiên về cảm xúc để tôi có thể tập trung vào. Không khó để tôi tìm ra trò tiêu khiển nhằm đánh lạc hướng bản thân: Tôi sẽ quay trở lại và xử lý Neill Clift, gã người Anh chuyên tìm kiếm các lỗ hổng bảo mật trong hệ điều hành VMS của DEC. Làm sao để tôi có thể lừa anh ta cho tôi biết mọi lỗi bug mà anh ta tìm thấy?

Từ những tin nhắn đọc được, tôi biết Clift khao khát được làm việc cho DEC từ lâu; có lẽ nên ra tay từ đây. Tôi lừa công ty điện thoại British Telecom cho tôi số điện thoại nhà riêng của Clift, sau đó gọi cho anh ta, tự giới thiệu mình là Derrell Piper, mượn tên của một kỹ sư phần mềm kỹ thuật số ở phòng phát triển VMS. Tôi nói với anh ta: “Đợt tuyển dụng đã kết thúc rồi nhưng chúng tôi vẫn muốn tìm thêm vài kỹ sư bảo mật. Chúng tôi nghĩ tới tên cậu vì cậu đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc tìm kiếm và báo cáo các điểm yếu bảo mật.” Sau đó, tôi tiếp tục câu chuyện về những tài liệu hướng dẫn ở DEC mà tôi biết anh ta muốn có.

Kết thúc cuộc gọi, tôi nói: “Rất vui được nói chuyện với cậu, lâu lắm rồi nhỉ.”

Ố ồ – đây quả là một sai lầm lớn. Hai người này chưa từng gặp nhau trước đó.

Về sau tôi mới biết được rằng Neill đã gọi cho Ray Kaplan, một cố vấn bảo mật nổi tiếng mà anh ta biết từng phỏng vấn tôi trong chuỗi hội thảo “Meet the Enemy” (Gặp gỡ kẻ thù). Ray bật một đoạn trong băng ghi âm cuộc phỏng vấn.

Neill chỉ cần nghe qua một thoáng là có thể khẳng định. “Đúng – gã gọi cho tôi là Kevin Mitnick.” Sau này khi gặp nhau, Ray bảo tôi: “Tôi đoán anh vẫn đang chơi trò tấn công bằng kỹ thuật xã hội.”

Hơi bối rối, tôi hỏi lại: “Anh nói vậy là ý gì?”

“Neill đã gọi cho tôi. Tôi bật một đoạn băng phỏng vấn của anh. Cậu ấy nhận ra ngay giọng anh và nói anh đã gọi điện.”

Đương nhiên, trong thời gian này tôi vẫn thường liên lạc với Eric Heinz và hắn vẫn không ngừng nhắc tới Kevin Poulsen. Tôi chưa từng gặp Poulsen nhưng đã đọc và nghe về cậu ta đủ nhiều để ngưỡng mộ những gì cậu ta đạt được trong hacking. Thật lạ là chúng tôi chưa từng gặp mặt, chưa từng hack cùng nhau, dù chúng tôi cùng tuổi và lớn lên chỉ cách nhau vài cây số. Sau này, cậu ta giải thích rằng mình bắt đầu học về phone phreaking sau tôi – khi cậu ta mới chập chững vào nghề thì tôi đã rất nổi tiếng trong giới hacking rồi.

Lewis và tôi đều rất nóng lòng biết thêm về những gì Eric và Poulsen đã làm cùng nhau. Trong một cuộc trò chuyện qua điện thoại, Eric lại bắt đầu luyên thuyên về những hệ thống của Pacific Bell mà hắn và Poulsen từng giành quyền kiểm soát. Danh sách khá quen thuộc, trừ duy nhất một cái tên tôi chưa từng nghe tới: “SAS”.

“SAS là gì?” tôi hỏi.

“Đó là hệ thống kiểm tra nội bộ có thể dùng để giám sát đường dây.”

Trong thuật ngữ của các công ty điện thoại thì “giám sát” là một cách nói nhã nhặn về việc nghe lén.

Tôi nói với Eric: “Nếu truy nhập vào bộ chuyển mạch, cậu có thể giám sát đường dây bất kỳ lúc nào mà.” Tôi biết Eric hiểu rằng các bộ chuyển mạch 1A ESS có tính năng “nói và giám sát”, chúng sẽ cho phép bạn nhảy vào một đường dây và nghe lén cuộc hội thoại.

Eric nói: “SAS còn tốt hơn.”

Eric kể hắn và Poulsen đã thực hiện một chuyến thăm đêm tới CO của Sunset ở phía Tây Hollywood. Chuyến đi này mang lại một thứ mà họ chưa từng nhìn thấy trước đó. Họ tìm ra một nơi lạ mắt: Không giống như các CO khác, văn phòng này được trang bị các máy tính và ổ đĩa rất khác thường, “trông như thể từ ngoài hành tinh vậy”. Một chiếc thùng to cỡ tủ lạnh với các loại thiết bị kêu ầm ì bên trong. Họ bắt gặp một cuốn hướng dẫn cho biết đây là máy Switched Access Service – Dịch vụ Truy cập Chuyển mạch – gọi tắt là SAS. Khi Poulsen lướt qua các trang hướng dẫn, cậu ta nhận ra SAS vốn dùng để kiểm tra đường dây, nghe như là nhờ nó bạn có thể kết nối tới bất kỳ đường dây điện thoại nào.

Nhưng nó chỉ dành để kiểm tra các đường dây xem chúng có đang hoạt động không thôi hay sao? Hay bạn có thể nghe lén cả cuộc gọi? Poulsen bắt đầu vọc vạch máy tính kiểm soát SAS.

Gõ vào dãy số điện thoại công cộng vẫn thường dùng, Poulsen đã khẳng định được rằng đúng là bạn có thể nhảy vào một đường dây nào đó và nghe lén cuộc hội thoại.

Cậu ta quay lại CO vào một đêm khác, cầm theo máy ghi đĩa để ghi lại dữ liệu được gửi ra từ thiết bị SAS. Poulsen muốn thử truy ngược lại giao thức và thu được thêm vài khả năng nào đó ở nhà.

Tôi phải truy cập được vào hệ thống này. Nhưng khi hỏi thêm chi tiết, Eric liền ngậm miệng và nhanh chóng đổi chủ đề. Tôi bắt đầu nghiên cứu về nó ngay ngày hôm sau.

Thiết bị SAS bí ẩn chính là điều tôi còn thiếu trong đời: Một bài toán khó phải giải, một cuộc phiêu lưu với nhiều rủi ro. Thật không thể tin được khi tôi chưa hề nghe về nó trong suốt những năm phone phreaking của mình. Nó thật hấp dẫn. Tôi phải tìm ra nó.

Nhờ những chuyến thăm đêm tới các văn phòng công ty điện thoại, tất cả tài liệu hướng dẫn của công ty mà tôi có thể có được và đọc kỹ, cũng như những lần thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội với các nhân viên công ty điện thoại từ thời trung học, tôi có được kiến thức khá phong phú về các phòng ban, quy trình, thủ tục và số điện thoại khác nhau ở Pacific Bell. Có lẽ không nhiều người làm trong công ty nắm rõ được cấu trúc tổ chức ở đó hơn tôi.

Tôi bắt đầu gọi điện tới các bộ phận khác nhau. Chiến thuật của tôi là: “Tôi ở bộ phận Kỹ thuật. Nhóm anh có dùng SAS không?” Sau khoảng nửa tá cuộc gọi, tôi tìm được một gã ở Pasadena hiểu tôi muốn nói gì.

Với hầu hết mọi người thì có lẽ phần khó nhất trong mánh khóe dạng này là phải tìm ra cách tóm được thứ tri thức mà mình mong muốn. Tôi muốn biết cách có được quyền đăng nhập vào SAS, cũng như các lệnh cho phép tôi kiếm soát nó. Nhưng tôi cũng muốn có được nó một cách an toàn hơn so với cách mà Eric và Poulsen đã làm; tôi muốn có nó mà không cần phải trực tiếp đột nhập vào cơ sở của Pacific Bell.

Tôi nhờ gã nhân viên biết về SAS ở Pasadena lấy bản hướng dẫn từ trên giá xuống cho tôi. Khi anh ta quay trở lại điện thoại, tôi nhờ anh ta mở nó ra và đọc dòng chú ý về bản quyền.

Chú ý bản quyền?

Chính nó – thứ này sẽ cho tôi biết tên công ty phát triển sản phẩm. Nhưng từ đoạn này thì tôi gặp khó khăn. Công ty này đã dừng hoạt động.

Cơ sở dữ liệu LexisNexis duy trì một lượng khổng lồ các nội dung trực tuyến của những bài báo và tạp chí, hồ sơ pháp lý cũng như tài liệu công ty. Có lẽ bạn đã đoán ra, việc một công ty ngừng hoạt động không có nghĩa là LexisNexis đã xóa bỏ dữ liệu về nó. Tôi tìm ra tên vài người từng làm việc cho công ty phát triển SAS, bao gồm cả một trong những lãnh đạo công ty. Công ty đặt ở Bắc California. Tôi truy tìm danh mục điện thoại ở vùng đó và có được số điện thoại của tay lãnh đạo.

Khi tôi gọi điện thì gặp anh ta ở nhà. Tôi nói với anh ta hiện mình đang làm việc với nhóm kỹ thuật của Pacific Bell và muốn thực hiện vài tùy chỉnh nhằm cải thiện “cơ sở hạ tầng SAS” của chúng tôi. Tôi muốn nói chuyện với ai đó hiểu về công nghệ này. Anh ta chẳng chút nghi ngờ, nói tôi đợi vài phút rồi quay trở lại đường dây, cho tôi biết tên và số điện thoại của tay kỹ sư trưởng trong nhóm phát triển sản phẩm.

Còn một điều phải làm trước khi thực hiện cuộc gọi mấu chốt này. Tại thời điểm đó, các số điện thoại nội bộ của Pacific Bell đều bắt đầu bằng đầu số 811; bất kỳ ai hợp tác với công ty này đều biết điều đó. Tôi tấn công vào bộ chuyển mạch của Pacific Bell và thiết lập một số điện thoại 811 chưa dùng, rồi thêm vào tính năng chuyển cuộc gọi, và chuyển nó tới số điện thoại nhái số mà tôi sử dụng lúc đó.

Tôi vẫn còn nhớ tên mình dùng khi gọi điện cho tay kỹ sư phát triển: Marnix van Ammers, tên của một kỹ sư chuyển mạch thực sự ở Pacific. Tôi kể cho anh ta câu chuyện tương tự về việc cần phải tích hợp mấy máy SAS ở công ty. “Tôi đã có bản hướng dẫn dành cho người dùng, nhưng nó không có ích lắm cho mấy việc chúng tôi cần làm. Chúng tôi cần giao thức thực sự được dùng giữa các thiết bị SAS ở trung tâm kiểm tra và văn phòng trung tâm.”

Tôi đã viện tới tên của một lãnh đạo ở công ty cũ của anh ta và còn sử dụng tên thực của một kỹ sư Pacific Bell. Tôi cũng không hề tỏ ra lo lắng; tôi không nói vấp điều gì cả. Không hề có chút gì đáng ngờ trong cuộc gọi đó. Anh ta nói: “Tôi vẫn còn các tập tin trong máy tính. Đợi chút.”

Sau vài phút, anh ta trở lại. “Tôi tìm thấy rồi đây. Anh muốn tôi gửi chúng tới đâu?”

Tôi đã quá nóng vội. “Tôi đang sốt sình sịch lên đây,” tôi nói. “Anh có thể gửi fax được không?” Anh ta nói có quá nhiều tài liệu để có thể fax tất cả, nhưng anh ta có thể gửi fax những trang mà anh ta nghĩ là hữu ích nhất, sau đó gửi bưu điện hoặc chuyển phát nhanh đĩa mềm có tập tin hoàn chỉnh. Tôi đọc cho anh ta số điện thoại nhận fax mà mình đã thuộc nằm lòng. Đương nhiên đó không phải là máy fax của Pacific Bell mà là một máy có cùng mã vùng, số fax của một trạm in tiện lợi ở Kinko’s. Điều này thường có chút rủi ro bởi rất nhiều máy fax khi gửi tài liệu sẽ hiển thị tên của máy mà chúng đang kết nối. Tôi luôn lo ngại ai đó sẽ nhận ra dòng hiển thị “Cửa hàng Kinko’s #267” hoặc gì đó, vậy thì tôi sẽ lộ hết bài vở. Nhưng trong trí nhớ của tôi thì chưa có ai phát hiện ra điều này.

Chuyển phát nhanh FedEx có vẻ dễ dàng hơn. Tôi cho tay kỹ sư địa chỉ của những nơi bạn có thể thuê hòm thư và lưu trữ kiện hàng, đồng thời đánh vần tên của nhân viên Pacific Bell mà tôi đang giả dạng, Marnix van Ammers. Tôi cảm ơn anh ta và nói chuyện thêm một chút. Trò chuyện vẩn vơ là một dạng xã giao thân thiện bổ sung nhằm mang tới cảm xúc tích cực và hạn chế những nghi ngờ có thể xảy ra.

Dù đã thực hiện nghệ thuật tấn công bằng kỹ thuật xã hội trong nhiều năm, nhưng tôi vẫn chưa hết ngừng ngạc nhiên bởi độ dễ dàng của nó. Đó là một trong những khoảnh khắc bạn cảm nhận được sự hưng phấn kích thích, hay như thể bạn trúng quả ở Vegas – endorphins[1] cứ rần rật chảy trên khắp cơ thể bạn.

Ngay chiều hôm đó, tôi lái xe tới cửa hàng cho thuê hòm thư để đặt một địa chỉ hòm thư dưới tên Marnix van Ammer. Họ luôn đòi phải có thẻ ID. Không thành vấn đề. Tôi giải thích: “Tôi vừa chuyển tới đây từ Utah và bị đánh cắp mất ví. Tôi cần có địa chỉ để họ gửi bản sao giấy khai sinh để làm lại giấy phép lái xe. Tôi sẽ cho anh xem chứng minh thư ngay khi có nó.” Đúng, họ đã vi phạm luật bưu chính khi cho tôi thuê một hòm thư ngay cả khi không xuất trình được thẻ ID, nhưng những chỗ thế này thường rất sốt sắng mở rộng hoạt động kinh doanh: Họ thực sự không muốn phải từ chối khách hàng. Tất cả những gì tôi cần là một lời nói dối ngon ngọt.

Và đến tối cùng ngày, tôi đã có bản fax trong tay – những thông tin cơ bản hy vọng có thể giúp tôi nghe lén được điện thoại của Pacific Bell ở vùng Nam California. Nhưng chúng tôi vẫn cần phải tìm ra cách sử dụng giao thức SAS.

* * *

Để tìm ra cách thức hoạt động của SAS, Lewis và tôi tiếp cận vấn đề từ một số góc độ khác nhau. Hệ thống cho phép kỹ thuật viên có khả năng kết nối với bất kỳ đường dây điện thoại nào, nhờ vậy, anh ta có thể chạy các bài kiểm tra để tìm ra lý do tại sao khách hàng thường nghe thấy tiếng nhiễu trong đường dây hay vấn đề nào đó. Kỹ thuật viên sẽ chỉ thị cho SAS gọi tới CO có đường dây đang cần kiểm tra. Việc này sẽ kích hoạt cuộc gọi tới một bộ phận trong cơ sở hạ tầng của SAS ở CO có tên là “điểm kiểm tra đăng nhập từ xa” (remote access test point) hay còn gọi là RATP.

Đó là bước đầu tiên. Để nghe được âm thanh trên đường dây điện thoại – giọng nói, tạp nhiễu, tiếng tĩnh điện hay bất kỳ thứ gì – kỹ thuật viên phải cài đặt kết nối âm thanh tới bộ phận SAS ở CO. Những bộ phận này được thiết kế với một điều khoản bảo mật khá thông minh: Chúng có một danh sách các số điện thoại được cài sẵn trong bộ nhớ. Kỹ thuật viên sau đó sẽ phải gửi lệnh tới bộ phận SAS để quay số gọi ngược lại tới một trong những số có sẵn đó – số điện thoại của nơi anh ta làm việc.

Làm sao để chúng tôi có thể vượt qua biện pháp an toàn thông minh mà rõ ràng là không thể sai lầm này?

À, hóa ra cũng không khó lắm. Phải là một kỹ thuật viên của công ty điện thoại hay phone phreaker thì bạn mới hiểu được tại sao nó lại hiệu quả, nhưng đây là cách mà tôi đã làm. Tôi dùng điện thoại của mình để quay số gọi vào đường dây mà tôi biết chắc SAS sẽ dùng để thực hiện cuộc gọi đi, sau đó ngay lập tức kích hoạt SAS để nó gọi lại vào một số đã được lập trình sẵn trong bộ nhớ.

Khi SAS dùng một đường dây để thực hiện cuộc gọi đi, thực ra là nó đang trả lời cuộc gọi đến từ điện thoại của tôi. Nhưng nó phải đợi âm điệu quay số và không thể kết nối đường dây được vì đã bị tôi chặn.

Tôi ừmmmmmmmmmmmmmmm một tiếng dài vào điện thoại.

Tôi không thể ầm ừ ra âm thanh chính xác bởi âm điệu quay số ở Mỹ thực chất được tạo thành từ hai tần số. Nhưng điều này không quan trọng, bởi thiết bị này không được thiết kế để có thể đo được tần số chính xác; nó chỉ cần nghe được đại loại một tiếng ầm ừ. Tiếng ừmmmmmm như đang thưởng thức món súp Campbell của tôi là đủ xài rồi.

Tại thời điểm này, SAS vẫn cố gắng thực hiện cuộc gọi đi… nhưng không thể bởi tôi đã kết nối với đường dây mà nó định sử dụng.

Bước cuối cùng: Tôi gõ vào máy tính dòng lệnh mật chỉ thị cho SAS nhảy vào số điện thoại của người dùng mà tôi muốn giám sát.

Trong lần thử đầu tiên, tôi kích động tới mức nghẹt thở.

Làm được rồi!

Sau đó, Lewis nói: “Kevin, cậu không ngồi yên được à? Cứ nhảy nhót lung tung thế? Như chúng ta đã tìm ra Chén thánh vậy.”

Chúng tôi đã có thể nghe lén bất kỳ số điện thoại nào của Pacific Bell rồi!

Tôi thực sự lo sốt vó, muốn tìm ra sự thật về Eric. Có quá nhiều thứ đáng ngờ về hắn.

Eric không có vẻ đang đi làm. Vậy làm sao hắn có đủ khả năng tài chính để tụ tập ở những câu lạc bộ mà hắn nhắc đến? Những nơi có tiếng như Whiskey à Go-Go, nơi Alice Cooper và nhóm the Doors, còn cả những tay rock thần sầu thuở ấy như Jimi Hendrix đôi khi vẫn thường ghé tới.

Và cả cái kiểu không cho tôi số điện thoại nữa? Eric thậm chí còn không cho tôi số máy nhắn tin của hắn. Thật đáng ngờ!

Lewis và tôi cùng bàn bạc về vấn đề này và quyết định chúng tôi cần phải tìm hiểu ngọn ngành xem điều gì đang diễn ra. Bước đầu tiên là xuyên thủng tấm màn “Tôi không thể cho các cậu số điện thoại được”. Sau khi đã có số điện thoại, chúng tôi sẽ dùng nó để tìm ra địa chỉ sinh sống của hắn.

Thời ấy, khách hàng ở California chưa được sử dụng tính năng Caller ID[2] bởi Hội đồng các Ngành dịch vụ Công cộng của bang vẫn còn lo ngại về vấn đề quyền riêng tư và chưa phê chuẩn cho phép nó được sử dụng rộng rãi. Nhưng cũng như hầu hết các công ty điện thoại khác, bộ chuyển mạch ở văn phòng trung tâm của Pacific Bell đều do Bell Labs phát triển và AT&T sản xuất. Giới phreaker đều biết rằng những bộ chuyển mạch này đều có gắn tính năng nhận diện người gọi cài sẵn trong phần mềm.

Ở tòa nhà nơi anh bạn Dave Harrison của tôi làm việc, thiết bị đầu cuối đặt tại tầng một có hàng trăm đường dây điện thoại chạy tới. Tôi lén đi xuống đây bởi có khu trực của nhân viên an ninh ngay gần đó, khá may là nó không nằm ở hướng trực diện. Sử dụng thiết bị cầm tay của người đặt đường dây đặt ngay cạnh chỗ ngồi của Dave trong văn phòng, tôi kết nối tới vài cặp dây cáp, tìm một cặp có âm hiệu quay số. Khi tìm ra, tôi quay mã đặc biệt để có được số điện thoại. Đây sẽ là số điện thoại mồi nhử mà tôi định lừa Eric gọi vào.

Sau đó, Dave kéo cặp dây ra khỏi thiết bị đầu cuối, kết nối đường dây đó với một đường đây điện thoại không dùng trong văn phòng. Ở trên tầng, chúng tôi nối máy điện thoại vào đường dây trộm được và vào hộp hiển thị Caller ID.

Từ thiết bị đầu cuối VT100 cũ của mình, tôi gọi vào bộ chuyển mạch của văn phòng trung tâm trên đường Webster và thêm tính năng Caller ID vào đường dây điện thoại mồi nhử.

Tối hôm đó, tôi quay trở lại căn chung cư của cha ở Calabasas, đặt chuông báo thức lúc 3 rưỡi sáng và leo lên giường đi ngủ. Khi chuông reo, tôi nhắn tin cho Eric bằng chiếc điện thoại mạo danh thuê bao của người khác. Lúc này, Eric đã bắt đầu thoáng hơn chút và cho tôi số máy nhắn tin của hắn. Tôi để lại số điện thoại mồi để hắn gọi lại cho tôi. Khi Eric quay số, dữ liệu định danh người gọi sẽ được gửi đi ngay giữa hồi chuông thứ nhất và thứ hai, cho thấy số máy của hắn. Bắt được mày rồi!

Dave thường lén sinh hoạt và ngủ ngay tại văn phòng của cậu ta. Ngay khi tôi cho rằng Eric đã trả lời tin nhắn, tôi gọi cho Dave. Lúc đó là 3 giờ 40 phút sáng. Tôi liên tục gọi điện cho Dave cho tới khi cậu ta nhấc máy và vô cùng giận dữ. “Cái gì đấy?!” cậu ta gào lên trong điện thoại.

“Thấy Caller ID chưa?”

“Rồi!”

“Dave, rất quan trọng đấy. Số bao nhiêu?”

“Sáng mai gọi lại đi!” cậu ta lại gào lên trước khi dập máy.

Tôi đi ngủ tiếp và không liên lạc với cậu ta cho tới tận chiều hôm sau. Lúc này, cậu ta mới đọc cho tôi số điện thoại một cách khiên cưỡng: 310 837-5412.

Được rồi, vậy là tôi đã có số điện thoại của Eric. Tiếp đến là địa chỉ của hắn.

Giả vờ là một kỹ thuật viên hiện trường, tôi gọi cho Trung tâm Phân bổ Vòng lặp Cơ học (MLAC), hay còn được biết tới dưới cái tên đơn giản là Văn phòng Phân bổ Đường dây của Pacific Bell. Một phụ nữ nhấc máy: “Chào chị, tôi là Terry đang ở hiện trường. Tôi cần F1 và F2 của số 310 837-5412.” F1 tức là đường cáp ngầm từ văn phòng trung tâm còn F2 là đường cáp tải thứ cấp kết nối một căn nhà hay tòa văn phòng tới (hộp vùng dịch vụ). F2 cuối cùng sẽ kết nối với F1, quay lại về văn phòng trung tâm.

“Terry, mã kỹ thuật của anh là gì?” cô ta hỏi.

Tôi biết cô ta sẽ chẳng tra lại đâu – họ chẳng bao giờ làm vậy. Bất kỳ mã nào có ba số đều được, miễn sao là tôi tỏ vẻ tự tin và không ngập ngừng.

“Sáu ba bảy,” tôi nói, lấy bừa một số.

“F1 là số 416 ở cáp 23, đầu cực 416,” cô ta nói. “F2 là số 36 ở cáp 10204, đầu cực 36.”

“Thiết bị đầu cuối ở đâu?”

“Không-chấm-một ở 3636 Nam Sepulveda.” Đó là vị trí hộp đầu cuối, nơi kỹ thuật viên hiện trường đặt kết nối tới nhà hay văn phòng khách hàng.

Tôi vốn không quan tâm đến những gì vừa hỏi. Chúng chỉ để giúp cho tôi có vẻ hợp lý thôi. Thông tin kế tiếp mới là điều tôi thực sự muốn.

“Địa chỉ thuê bao là gì nhỉ?” Tôi hỏi.

“Cũng là 3636 Nam Supulveda.” Cô ta nói. “Phòng 107B.”

Tôi hỏi: “Còn số nào khác đang dùng cho 107B không?”[3]

Cô ta nói, “Có, còn một số khác nữa,” và cho tôi số thứ hai cùng với F1 và F2 của nó. Dễ như vậy đó. Tôi chỉ mất vài phút đồng hồ để biết được địa chỉ của Eric và cả hai số điện thoại của Eric.

Khi tấn công bằng kỹ thuật xã hội, hay “pretexting”[4], bạn phải trở thành một diễn viên đang sống trong vai diễn của mình. Tôi đã nghe nhiều người cố gắng giả danh người khác và trở thành một trò cười lớn. Không phải ai cũng có thể lên sàn diễn và thuyết phục khán giả; không phải ai cũng có thể pretexting và hoàn thành nhiệm vụ.

Với bất kỳ ai thành thạo pretexting như tôi, mọi việc sẽ trôi chảy như thể một nhà vô địch bowling ném bóng xuống đường băng. Cũng như người ném bóng, tôi không kỳ vọng mình sẽ ghi điểm mỗi lần. Nhưng khác với người ném bóng, nếu thất bại, tôi thường có cơ hội thử lại mà không bị mất điểm.

Nếu bạn biết tiếng lóng và từ trong ngành, điều này giúp bạn có được sự tín nhiệm – bạn chính là một đồng nghiệp thực sự cũng đang vật vã với công việc hệt như đối tượng của mình và họ hầu như sẽ không bao giờ đặt câu hỏi về uy tín của bạn. Ít ra là thuở đó, họ không làm như vậy.

Tại sao người phụ nữ ở phòng phân bổ đường dây lại sẵn lòng trả lời mọi câu hỏi của tôi? Đơn giản là vì tôi đã đưa ra câu trả lời đúng và hỏi những câu hỏi đúng, sử dụng tiếng lóng đúng. Do đó, đừng cho rằng nhân viên ở Pacific Bell, người đã cho tôi địa chỉ của Eric, là ngu ngốc hay không nhanh trí. Những người làm việc ở văn phòng thường bỏ qua nghi ngờ khi nhận được những yêu cầu có vẻ xác thực.

Con người, như tôi đã nhận ra ngay từ thuở còn thơ, thường rất cả tin.

Có lẽ sự liều lĩnh trở lại với con đường hacking của tôi có thể tha thứ được, hoặc chí ít thì cũng được thông cảm, khi xét tới mong muốn tìm ra được bí ẩn trong cái chết của em trai. Nhưng đột nhiên tôi nhận ra mình đã vượt quá sự ngu ngốc thông thường: Tôi đã dùng một trong ba đường dây điện thoại ở căn hộ của cha để thực hiện tất cả các cuộc gọi tấn công bằng kỹ thuật xã hội tới Pacific Bell, truy dấu điều tra về Adam và để nói chuyện với Lewis.

Đây là sự vi phạm rõ ràng điều kiện quản chế. Điều gì sẽ xảy ra nếu cảnh sát liên bang theo dõi đường dây điện thoại của cha tôi và nghe được các cuộc hội thoại đó?

Tôi cần phải tìm hiểu xem họ đã biết những gì.

❀ ❀ ❀

[1] 53* Endorphins: Chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ, có tác dụng tạo cảm xúc tích cực, cải thiện tâm trạng, giảm đau, v.v… (BTV)

[2] 54* Caller ID (Định danh người gọi): Dịch vụ cho phép người dùng nhìn thấy tên của người đang gọi tới trên các máy điện thoại analog thế hệ thời xưa. (BTV)

[3] 55* Trong đoạn hội thoại này, Kevin Mitnick có sử dụng một số từ lóng trong ngành nhưng đã bị lược bỏ khi dịch. (ND)

[4] 56* Pretexing: Kỹ thuật giả danh người khác để lấy được thông tin mong muốn. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.