Giờ đây, khi chúng tôi đã có quyền truy cập SAS, Lewis và tôi muốn lấy số dial-up của tất cả các CO để có thể theo dõi mọi điện thoại trong khu vực phủ sóng của Pacific Bell. Thay vì phải tấn công bằng kỹ thuật xã hội với nhân viên Pacific Bell để lấy được số dial-up mỗi lần muốn truy cập, chúng tôi sẽ có tất cả.
Tôi đã học được từ một nhân viên ở Pasadena, người đã đọc dòng chú ý bản quyền cho tôi về cách họ dùng SAS như thế nào. Nhân viên kiểm tra sẽ phải nhập thủ công số dial-up cho RATP cho văn phòng trung tâm của đường dây cần kiểm tra. Các nhân viên kiểm tra có một danh sách các số dial-up cho RATP trong tất cả các văn phòng trung tâm mà họ quản lý.
Có một vấn đề nho nhỏ là: Làm thế nào tôi có thể có được bản sao số dial-up SAS cho tất cả các văn phòng trung tâm khi mà tôi không biết bản danh sách chết tiệt đó gọi là gì? Rồi tôi nghĩ ra một cách. Có thể thông tin này đã có sẵn trong một cơ sở dữ liệu. Tôi gọi đến nhóm ở Pasadena sử dụng SAS để chạy các bài kiểm tra đường dây khi một thuê bao gặp vấn đề về điện thoại. Tôi tự nhận mình “từ phòng Kỹ thuật” và hỏi rằng liệu tôi có thể tìm thấy các số dial-up SAS trong một cơ sở dữ liệu không. Câu trả lời là “Không, nó không có trong cơ sở dữ liệu mà chỉ có trong bản cứng thôi.”
Tệ thật! Tôi hỏi: “Anh sẽ gọi cho ai khi gặp một vấn đề kỹ thuật với một đơn vị SAS?”
Lại thêm một ví dụ nữa về việc mọi người sẵn lòng giúp đỡ người mà họ tin là đồng nghiệp: Anh ta đưa cho tôi số điện thoại của một văn phòng Pacific Bell ở Thung lũng San Fernando. Hầu hết mọi người đều rất sẵn lòng giúp đỡ.
Tôi gọi đến đó, một viên quản lý nhấc máy và tôi nói với anh ta: “Tôi tới từ phòng Kỹ thuật ở San Ramon”, một cơ sở kỹ thuật lớn của Pacific Bell tại Bắc California. “Chúng tôi đang nhập các số dial-up SAS vào một cơ sở dữ liệu, vì thế, chúng tôi cần mượn một bản danh sách đầy đủ có liệt kê tất cả các số. Có ai có bản sao như vậy không?”
“Tôi có,” anh ta nói, thừa nhận câu chuyện của tôi không chút đắn đo. Hẳn nhân viên ẩn sâu trong nội bộ tổ chức của Pacific Bell không thể nghĩ rằng một gã bên ngoài nào đó có thể tra ra mình.
“Fax sang đây có dài lắm không?”
“Khoảng 100 trang.”
“À, vậy tôi muốn mượn một bản copy trong mấy hôm. Tôi sẽ tự đến đó hoặc có ai đó qua lấy hộ tôi. Thế được không?” Anh ta cho tôi biết địa chỉ văn phòng.
Alex lại tiếp tục hứng thú với việc thay mặt cho tôi. Khoác một bộ vest doanh nhân, anh ta lái xe đến cơ sở của Pacific Bell ở Thung lũng San Fernando. Nhưng viên quản lý kia không đơn giản chỉ đưa Alex gói hàng như chúng tôi nghĩ. Thay vào đó, anh ta hỏi Alex tại sao lại cần những thông tin này.
Thoáng chút lúng túng. Giờ là mùa xuân, ở Nam California. Ngoài trời rất ấm. Và Alex đang đeo găng tay.
Khi viên quản lý nhìn thấy đôi tay đeo găng của Alex, anh ta nhìn Alex và nói: “Cho tôi xem ID của anh được không?”
Lại một thoáng khó chịu khác.
Trên đời này, không gì có giá trị bằng khả năng ứng biến trong một tình huống toát mồ hôi hột.
Alex uể oải nói: “Tôi không phải là người của Pacific Bell. Tôi là cộng sự của nhóm kinh doanh đang trên đường đến buổi họp của Pacific Bell ở trung tâm thành phố. Họ nhờ tôi qua đây và lấy nó.”
Viên quản lý nhìn anh một lúc.
Alex nói: “Được rồi – nếu đây là vấn đề thì không sao cả” và quay người như thể anh chuẩn bị bỏ đi.
Viên quản lý nói: “Ồ, không, không – nó đây,” và chìa gói hàng ra cho Alex.
Alex cười nhe nhởn như thể “Tôi làm được rồi!” khi đưa cho tôi tập tài liệu chứa tất cả số dial-up của các đơn vị SAS ở mọi văn phòng trung tâm tại Nam California.
Sau khi sao chép tập tài liệu, Alex đến một văn phòng thu phí khách hàng của Pacific Bell và thuyết phục thư ký đặt gói hàng vào hệ thống thư tín nội bộ của công ty để trả lại người đã cho mượn – che đi dấu vết của chúng tôi bằng cách tránh gây ra bất kỳ câu hỏi nào về tập tài liệu bị mất, vốn có thể dẫn đến việc Pacific Bell phát hiện ra SAS đã bị xâm nhập, nhân tiện cũng cắt đuôi cho Alex.
Một ngày nọ, tôi có linh cảm Lewis cũng có thể là mục tiêu của một cuộc điều tra. Để phòng xa, tôi thử kiểm tra và phát hiện ra tất cả đường điện thoại tại công ty Lewis đang làm, Impac Corporation, đã bị nghe lén. Tại sao vậy? Liệu Eric có liên quan đến chuyện này không? Lewis và tôi quyết định gọi cho Eric và xem xem liệu chúng tôi có lừa hắn khai ra được gì không.
Lewis xử lý cuộc gọi, còn tôi nghe ngóng và nhắc lời.
Eric chủ yếu trả lời với một giọng Hừmmm lảng tránh. Cuối cùng, hắn nói: “Nghe như các cậu đang gặp rắc rối.” Ờ, cảm ơn. Chẳng giúp ích được gì cả.
Eric hỏi, “Một trong các số theo dõi cậu là gì? Tôi muốn thử gọi vào xem có lấy được gì không.” Lewis đưa cho hắn số theo dõi đang dùng để nghe lén một trong các đường dây tại Impac: 310-608-1064
Lewis bảo hắn: “Còn một điều lạ lùng nữa – Giờ tôi còn bị nghe lén cả đường dây điện thoại ở nhà riêng nữa.”
“Lạ thật đấy,” Eric trả lời.
Lewis nói: “Cậu nghĩ chuyện gì đang xảy ra, Eric? Kevin cứ hỏi tôi những câu đó. Cậu ấy muốn cậu phán đoán. Liệu có thể có liên quan đến cơ quan chấp pháp không?”
“Tôi không biết.”
Lewis ép: “Cứ nói có đi, để cậu ta hết hỏi.”
Eric nói: “Tôi nghĩ là không. Tôi nghĩ chỉ là công ty điện thoại thôi.”
“Ờ, nếu họ định theo dõi tất cả đường dây điện thoại chỗ tôi làm, họ sẽ phải nghe hàng nghìn cuộc gọi mỗi tháng,” Lewis trả lời.
Hôm sau, tôi lại ngồi nghe ngóng qua loa ngoài điện thoại, Eric gọi cho Lewis, hắn ta bắt đầu bằng câu hỏi: “Cậu có đang gọi từ một đường dây an toàn không?”
Eric trả lời: “Có, tôi đang gọi từ máy điện thoại công cộng” và tuôn ra một trong những lời phàn nàn thường thấy: “Các cậu phải tôn trọng sự riêng tư của tôi.”
Rồi, như từ trên trời rơi xuống, hắn hỏi Lewis: “Các cậu có cài đặt bất cứ tính năng CLASS nào ở chỗ làm không?”
Hắn đang nhắc đến “các dịch vụ báo hiệu địa phương tùy biến” (Custom Local Area Signaling Services), ví dụ như định danh người gọi, chuyển tiếp cuộc gọi có chọn lọc, trả lời cuộc gọi, hay các tính năng khác không dành cho người dùng đại chúng. Nếu Lewis nói có, anh sẽ thú nhận một hành vi phạm pháp.
Trước khi Lewis có cơ hội để phủ nhận, chúng tôi nghe thấy tín hiệu chờ cuộc gọi ở bên đầu dây của Eric.
Tôi nói với Lewis: “Từ khi nào máy điện thoại công cộng có chờ cuộc gọi vậy!?”
Eric càu nhàu rằng hắn phải gác máy một phút. Khi hắn quay lại, tôi vặn hắn về việc liệu hắn có đang gọi từ máy điện thoại công cộng hay không. Eric thay đổi câu chuyện, nói rằng giờ hắn đang gọi từ nhà của một người bạn gái.
Trong khi Lewis tiếp tục cuộc điện thoại, tôi gọi đến căn hộ của Eric. Một người đàn ông nghe máy. Tôi thử lại lần nữa, phòng trường hợp tôi gọi nhầm. Vẫn gã đó. Tôi bảo Lewis ép hắn về chuyện này.
Lewis nói: “Có gã nào đó đang trả lời điện thoại nhà cậu. Chuyện quái quỷ này là sao, Eric?”
Hắn nói: “Tôi không biết.”
Nhưng Lewis lại tiếp tục ép: “Ai đang ở trong căn hộ của cậu thế, Eric?”
“Hừm, tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Đúng ra làm gì có ai đang ở trong căn hộ của tôi. Tôi sẽ đi kiểm tra,” hắn trả lời. “Với tất cả những gì đang diễn ra, tôi sẽ chuyển sang chế độ an toàn. Hãy tiếp tục cho tôi biết tin.” Và hắn gác máy.
Có quá nhiều lời dối trá về những điều nhỏ nhặt không đáng.
Eric đang trở thành một bí ẩn cần giải mã, tương đương với bí ẩn về những chiếc hộp nghe lén. Cho đến giờ, tất cả những gì tôi có là ba con số xuất phát từ đâu đó ở Oakland kết nối đến mấy chiếc hộp.
Trên thực tế, những cuộc gọi theo dõi đó bắt nguồn từ đâu? Không quá khó để tìm ra câu trả lời. Tôi chỉ đơn giản gọi đến Trung tâm Phân bổ Vòng lặp Cơ học (MLAC), cung cấp một trong những số đó và lấy được địa chỉ thực tế nơi đặt đường dây điện thoại đó: số 2150, phố Webster, Oakland, cụm văn phòng của Phòng An ninh Pacific Bell. Trước đó, chúng được đặt ở San Francisco nhưng giờ đã chuyển sang phía bên kia vịnh.
Thật tuyệt vời! Nhưng đó chỉ là một trong các số điện thoại. Tôi muốn biết tất cả số điện thoại Phòng An ninh Pacific Bell đang dùng để kết nối đến những chiếc hộp theo dõi bí mật. Tôi đã nhờ quý cô ở MLAC tìm hộ yêu cầu dịch vụ gốc đã thiết lập số điện thoại mà tôi vừa khám phá ra. Đúng như tôi đã dự đoán, yêu cầu này cho thấy nhiều số điện thoại khác – khoảng 30 số – đã được thiết lập vào cùng khoảng thời gian. Chúng đều xuất phát từ “phòng nghe lén”, nơi họ giữ lại bản ghi âm các cuộc điện thoại. (Thực ra, một thời gian dài sau đó, tôi phát hiện ra rằng không có phòng nghe lén chuyên biệt nào cả; khi bắt đầu cuộc gọi trên bất kỳ đường dây bị theo dõi nào, nó sẽ được ghi lại bởi một máy ghi âm kích hoạt bằng giọng nói nằm trên bàn của nhân viên điều tra an ninh đang thụ lý vụ án, để họ có thể nghe lại vào bất cứ lúc nào có dịp.)
Có trong tay các số theo dõi, giờ tôi cần phải tìm ra mỗi số này đang gọi đến đâu. Đầu tiên, tôi gọi từng số, biết rằng bất cứ số nào trong chúng nếu không có tín hiệu máy bận thì chắc chắn không thể đang nghe lén; tôi sẽ bỏ qua những số đó.
Với tất cả các số khác, những số đang được dùng để nghe lén, tôi gọi đến SCC Oakland và tấn công bằng kỹ thuật xã hội với kỹ thuật viên trực bộ chuyển đổi để thực hiện lệnh truy vấn bộ nhớ cuộc gọi (Query Call Memory – QCM) trên bộ chuyển đổi DMS-100 cung cấp số máy đó (QCM trả về số điện thoại cuối cùng gọi từ điện thoại đó). Với những thông tin mới này, giờ tôi đã có danh sách các số dial-up theo dõi cho mỗi máy nghe lén của Pacific Bell trong bang California.
Mã vùng và tiền tố của một số theo dõi chỉ ra văn phòng trung tâm nào đang đặt máy nghe lén. Nếu Lewis hay tôi biết bất cứ ai có một số điện thoại do CO cung cấp mà ở đó có một máy nghe lén đang hoạt động, tôi sẽ gọi đến CO đó, nói rằng mình ở Phòng An ninh PacBell và giải thích: “Chúng tôi có một trong số các hộp ở đó. Tôi cần lần theo kết nối.” Sau một vài bước, tôi sẽ có số điện thoại mục tiêu bị nghe lén. Nếu nó không thuộc về ai mà tôi biết, tôi sẽ tiếp tục đến số tiếp theo.
Tôi tiếp tục kiểm tra việc nghe lén để đề phòng, nhòm ngó trước sau trong khi tập trung vào việc quan trọng là cố tìm ra Eric đang thực sự làm trò gì. Tôi chợt nảy ra một cách tiếp cận chưa từng nghĩ đến trước đây. Tôi gọi đến Trung tâm Điều khiển Chuyển mạch quản lý bộ chuyển mạch cung cấp dịch vụ điện thoại cho Eric và thuyết phục nhân viên kỹ thuật thực hiện một block lịch sử-đường dây (line history block – LHB), một cách để lấy được báo cáo về số điện thoại cuối cùng được gọi đi từ một đường dây do bộ chuyển mạch 1A ESS thực hiện.
Sau đó, tôi bắt đầu gọi lấy LHB của hắn vài lần một ngày để tìm hiểu các số hắn đang gọi.
Một trong những số điện thoại đó khiến tôi đổ mồ hôi lạnh. Eric đã gọi đến 310 477-6565. Tôi không cần tiến hành bất cứ điều tra nào nữa. Đây là số điện thoại mà tôi vẫn luôn nhớ như in trong tâm trí.
Trụ sở Los Angeles của FBI!
Ôi...
Tôi gọi tới chỗ làm của Lewis từ một trong những chiếc điện thoại nhái số của tôi và nói: “Bật ham radio của cậu lên đi.” Anh ta hiểu ngay câu nói đó mang một nghĩa hoàn toàn khác. Nó có nghĩa là: “Bật điện thoại nhái số của cậu lên đi.” (Lewis là mẫu người chỉ muốn tập trung vào mỗi việc một lúc; khi đang xử lý công việc hiện tại, cậu ta sẽ tắt điện thoại di động và máy nhắn tin để chúng không cắt ngang luồng suy nghĩ.)
Kéo được Lewis đến máy điện thoại an toàn, tôi bảo cậu ta: “Này, chúng ta gặp rắc rối rồi. Tôi đã thực hiện LHB trên đường dây của Eric. Tiên sư, hắn đang gọi cho FBI.”
Cậu ta không có vẻ gì bận tâm. Hoàn toàn không cảm xúc. Là saoooo?!
À, có thể có ai đó đang ở trong văn phòng, nên cậu ta không thể phản ứng. Hoặc có thể đó là do sự cứng đầu của cậu ta, thái độ cao ngạo, thể hiện rằng cậu ta là kẻ bất khả xâm phậm.
Tôi nói: “Cậu cần chuyển đống đĩa mềm và ghi chép ra khỏi căn hộ và văn phòng của mình. Hãy giấu bất cứ thứ gì cậu làm với SAS vào chỗ an toàn. Tôi cũng sẽ làm thế.”
Cậu ta có vẻ không cho rằng một cú điện thoại đến FBI là một điều gì to tát.
“Cứ làm đi!” tôi nói với cậu ta, cố không gào lên.
Linh tính mách bảo tôi hãy tiếp tục gọi đến Cục Tên và Địa chỉ Khách hàng của Pacific Bell. Đây là công việc thường ngày nhưng luôn mang tới kết quả không ngờ. Một quý cô vui vẻ nhận cuộc gọi của tôi và hỏi PIN; tôi dùng một trong những mã PIN đã lấy được vài tháng trước bằng cách hack vào cơ sở dữ liệu của CNL và đưa cho cô ta hai số điện thoại trong căn hộ của Eric.
“Số đầu tiên, 310 837-5412, được ghi nhận thuộc về ông Joseph Wernle, ở Los Angeles,” cô ta nói với tôi. “Và nó là một số non-pub” – tên gọi tắt của “non-published” (không công khai), số điện thoại mà nhân viên trực tổng đài không thể cung cấp thông tin. “Số thứ hai, 310 837-6420, cũng được ghi nhận thuộc về Joseph Wernle và cũng là non-pub.” Tôi bảo cô ta đánh vần cái tên cho tôi.
Vậy ra “Eric Heinz” là tên giả, tên thật của hắn là Joseph Wernle. Hoặc Eric có một người bạn cùng nhà... Giả thuyết có vẻ không hợp lý lắm với một gã khẳng định mỗi đêm lại có một ả khác nhau đến qua đêm. Hoặc có thể đơn giản là hắn đã đăng ký số điện thoại bằng một cái tên giả.
Nhiều khả năng Eric Heinz là tên giả và Joseph Wernle là tên thật của hắn. Tôi cần phải tìm ra gã này thực sự là ai và tôi cần làm việc đó thật nhanh.
Bắt đầu từ đâu đây?
Giấy thuê nhà mà hắn điền tại khu căn hộ phức hợp có thể có chút thông tin về gia cảnh – những mối quan hệ hay gì cũng được.
Khu căn hộ Oakwood, nơi Lewis và tôi đã đến thăm hắn bất ngờ, hóa ra chỉ là một trong những chuỗi bất động sản cho thuê trên toàn quốc do một tập đoàn địa ốc khổng lồ sở hữu. Khu phức hợp này được các công ty thuê để nhân viên đến ở khi công tác tạm thời, hay cho người vừa chuyển đến một thành phố mới và cần một chỗ để ở trong khi tìm nhà. Ngày nay, công ty này mô tả họ là “công ty giải pháp cho thuê nhà lớn nhất thế giới”.
Để sắp xếp mọi thứ, tôi tìm số fax của trụ sở toàn cầu của Oakwood, rồi hack vào bộ chuyển mạch của công ty điện thoại và tạm thời chuyển tiếp đường điện thoại đó để bất cứ cuộc gọi fax đến nào cũng sẽ được chuyển đến chiếc máy fax ở Kinko’s tại Santa Monica.
Trong một cuộc gọi đến trụ sở Tập đoàn Oakwood, tôi hỏi tên viên quản lý rồi gọi đến văn phòng cho thuê ở tòa nhà của Eric. Một phụ nữ trẻ với giọng nói dễ chịu và thái độ niềm nở nghe máy. Tự xưng mình là viên quản lý mà tôi vừa lấy được tên, tôi nói: “Chúng tôi có vấn đề pháp lý với một trong số những người thuê nhà ở đó. Tôi cần cô fax cho tôi đơn đăng ký thuê nhà của Joseph Wernle.” Cô ấy nói sẽ giải quyết ngay. Tôi chắc chắn số fax cô ấy có là số mà tôi đã chuyển tiếp đến Kinko’s.
Tôi đợi cho đến khi bản fax được gửi đi, gọi đến tiệm Kinko’s mà bản fax được chuyển đến. Tôi nói với viên quản lý ở đó rằng tôi là trưởng gian hàng ở một địa điểm Kinko’s khác và giải thích: “Tôi có một khách hàng ở đây đang đợi một bản fax. Anh ta vừa nhận ra anh ta gửi đến nhầm tiệm Kinko’s.” Tôi nhờ anh ta tìm bản fax và gửi lại đến Kinko’s “của tôi”. Bước thứ hai này khiến cho bất cứ cảnh sát liên bang nào muốn truy lần ra tác phẩm của tôi cũng gặp phải nhiều khó khăn hơn. Tôi gọi nó là “rửa fax”.
Nửa tiếng sau, tôi đến một tiệm Kinko’s địa phương và lấy bản fax, trả tiền mặt.
Nhưng sau tất cả những nỗ lực đó, tờ đăng ký cũng không làm sáng tỏ điều gì. Nó chỉ làm tăng thêm sự bí ẩn. Các chủ sở hữu của những tòa nhà cho thuê thường yêu cầu thông tin cá nhân để chắc chắn người thuê mới của họ không đem đến rủi ro tài chính nào. Nhưng trong trường hợp này, Oakwood đã cho một gã thuê nhà gần như không cung cấp thông tin gì. Không người thân. Không tài khoản ngân hàng. Không địa chỉ trước đó.
Và đáng kể nhất, không đề cập đến tên của Eric. Căn hộ được cho thuê với cùng một cái tên trong dịch vụ điện thoại, Joseph Wernle. Thông tin khác duy nhất trong cả tờ đơn là số điện thoại chỗ làm, 213 507-7782. Nhưng ngay cả số điện thoại đó cũng rất bí hiểm: Tôi có thể dễ dàng xác định, nó không phải là số điện thoại văn phòng, mà là một số điện thoại di động do PacTel Cellular cung cấp dịch vụ.
Nhưng ít nhất nó cũng cho tôi một đầu mối để lần theo.
Tôi thực hiện một cuộc gọi đến PacTel Cellular để lấy tên cửa hàng đã bán số điện thoại được liệt kê trong đơn xin thuê nhà của Eric: One City Cellular, ở khu lân cận Westwood của Los Angeles, khu vực bao gồm khuôn viên UCLA. Tôi thực hiện một cú điện thoại giả danh đến cửa hàng này và nói rằng tôi muốn một ít thông tin về tài khoản “của tôi”.
“Tên ông là gì, thưa ông?” người phụ nữ đầu dây bên kia hỏi.
Tôi nói với cô ta: “Nó nằm dưới mục ‘Chính phủ Mỹ’” – hy vọng là cô ta sẽ sửa sai cho tôi... hy vọng là tôi đã nói sai. Và tôi cũng hy vọng cô ta có thể đưa giúp tôi tên tài khoản.
Cô ta nói. “Ông là Mike Martinez phải không?”
Cái quái gì vậy?!
“Phải, tôi là Mike. Nhân tiện, phiền cô nhắc lại số tài khoản của tôi là gì vậy?”
Đó chỉ là thử vận may, nhưng cô ta là nhân viên bán hàng ở một cửa hàng điện thoại di động, không phải là một nhân viên chăm sóc khách hàng đầy hiểu biết ở một công ty điện thoại di động. Cô ta không chút nghi ngờ đọc số tài khoản cho tôi.
Heinz ... Wernle... Martinez.
Cái quái gì đang xảy ra vậy?
Tôi gọi lại cho cửa hàng điện thoại. Vẫn cùng một người phụ nữ trả lời. Tôi gác máy, đợi thêm một chút và thử lại. Lần này tôi tóm được một anh chàng. Tôi đưa cho anh ta tên, số điện thoại và số tài khoản “của tôi”. “Tôi làm mất ba hóa đơn gần nhất rồi,” tôi nói và nhờ anh ta fax chúng cho tôi ngay lập tức. “Tôi lỡ xóa danh bạ khỏi điện thoại di động và cần những hóa đơn này để làm lại nó,” tôi nói.
Trong vòng vài phút, anh ta đã gửi tôi bản fax của những tờ hóa đơn. Tôi tăng tốc xe, nhưng hy vọng không nhanh đến mức khiến tôi bị tấp vào lề đường, vì vội đến Kinko’s. Tôi muốn biết càng sớm càng tốt xem có gì trong những hóa đơn kia.
Bản fax hóa ra đắt giá hơn rất nhiều so với tôi dự tính. Khi nhìn vào hóa đơn của Martinez, tôi há hốc mồm. Mỗi một tờ hóa đơn trong ba tháng đó dài gần 20 trang, liệt kê hơn trăm cuộc gọi. Rất nhiều trong số đó đến từ mã vùng 202 – Washington, DC. – và cũng có rất nhiều cuộc gọi đến 310 477-6565, trụ sở Los Angeles của FBI.
Ôi, chết tiệt! Tôi lại thêm phần khẳng định rằng Eric chắc chắn là một đặc vụ FBI. Tình thế càng lúc càng đáng lo ngại mỗi khi tôi tiến thêm một bước. Tất cả đầu mối tôi lần theo đều dẫn tôi đến những người mà tôi muốn tránh xa nhất.
Bình tĩnh nào! Đó không phải là khả năng duy nhất. “Người bạn” mới Eric Heinz của tôi có thể thực sự là một đặc vụ, nhưng nghĩ lại thì điều đó thật khó tin – lúc đó, tôi đã phát hiện ra hắn ta không chỉ giao du ở các câu lạc bộ rock-and-roll. Đám người mà hắn hay đi cùng bao gồm cả người trung gian ban đầu của chúng tôi, Henry Spiegel, người đã nói với tôi rằng anh ta từng thuê cả Susan Headley, hay còn gọi là Susan Thunder, ả điếm hacker, người đã chỉ điểm tôi vụ đột nhập vào trung tâm COSMOS và cũng từng cắt hết đường dây điện thoại đi ra từ khu chung cư của mẹ tôi để trả thù. Còn có cả những câu chuyện của chính Eric về việc làm tình mỗi đêm với các vũ nữ khỏa thân khác nhau.
Không, hắn có vẻ không giống dạng người có thể vượt qua vòng sát hạch của FBI để thành đặc vụ tương lai. Vì vậy, tôi đoán hắn không thể nào là đặc vụ. Có thể gã chỉ bị một kẻ ở FBI tóm gáy và bị buộc trở thành người đưa tin bí mật – một kẻ chỉ điểm. Nhưng tại sao?
Chỉ có một lời giải thích hợp lý: FBI đang cố tập hợp một vài hacker.
FBI trước đây từng nhắm đến tôi, và muốn triển khai một vụ truy quét lớn. Giờ đây, nếu những nghi ngờ của tôi là đúng, hẳn họ đang lúc lắc củ cà rốt trước mặt tôi. Bằng cách khiến Eric xuất hiện trong đời tôi, các đặc vụ đang thực hiện hành động dí một chai Scotch vào mũi một gã cai nghiện rượu để xem hắn có lầm đường lạc lối nữa không.
Bốn năm trước, vào năm 1988, tờ USA Today thậm chí còn in đè mặt tôi lên một tấm ảnh lớn của Darth Vader[1] trên trang nhất của chuyên mục Money, bôi xấu tôi là “Darth Vader của thế giới hacking” và đào biệt danh cũ “Hacker Hắc ám” của tôi lên.
Do đó, có lẽ cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi FBI quyết định biến tôi thành đối tượng ưu tiên.
Và cũng chẳng khó khăn gì. Sau cùng, thời tôi còn là một chàng trai trẻ, bên phía công tố đã cảm thấy thích đáng khi thao túng một thẩm phán bằng một câu chuyện lố bịch rằng tôi có thể phóng tên lửa hạt nhân chỉ bằng một cuộc gọi đến NORAD và huýt sáo vào điện thoại. Tôi chắc rằng họ sẽ không ngần ngại làm lại chuyện đó lần nữa nếu có cơ hội.
Địa chỉ trên hóa đơn điện thoại của Mike Martinez hóa ra là văn phòng của một tay luật sư nào đó ở Beverly Hills.
Tôi gọi đến văn phòng đó, tự nhận mình đến từ One City Cellular, nhà cung cấp di động của Martinez. “Hóa đơn của các anh quá hạn rồi,” tôi nói với cô gái nghe máy. “Ồ, chúng tôi không thanh toán những hóa đơn này,” cô ta nói. “Chúng tôi chỉ chuyển nó đến một hộp thư ở Los Angeles” và đưa cho tôi số hộp thư kèm địa chỉ – Tòa nhà Liên bang tại số 11000 Đại lộ Wilshire. Không hay rồi.
Cuộc gọi tiếp theo của tôi là đến Dịch vụ Giám sát Bưu chính ở Pasadena. “Tôi cần gửi khiếu nại,” tôi nói. “Ai là giám sát viên khu vực Westwood ở Los Angeles vậy?”
Dùng tên của giám sát viên này, tôi gọi đến bưu điện trong Tòa nhà Liên bang, hỏi người quản thư, và nói: “Tôi cần ông tìm đơn đăng ký cho hộp thư này rồi đưa tôi tên và địa chỉ người nhận.”
“Hộp thư này được đăng ký cho FBI ở đây tại 11000 Wilshire.” Tin này không có gì bất ngờ.
Vậy ai là người đã nhận mình là Mike Martinez? Mối quan hệ của anh ta với FBI là gì?
Dù rất nóng lòng muốn biết chính phủ đã biết gì về tôi, nhưng việc đào sâu hơn không hợp lý chút nào. Nếu lún sâu hơn nữa vào chuyện này, khả năng tôi bị tóm và tống lại nhà tù sẽ cao hơn. Tôi không thể đối mặt với việc đó. Nhưng liệu tôi có thể thực sự chối bỏ ham muốn đó?
❀ ❀ ❀
[1] 61* Nhân vật phản diện nổi tiếng trong loạt phim Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao). (BTV)