HỒI KẾT: VẬN MỆNH ĐỔI CHIỀU

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
38

❊ ❊ ❊

Không dễ gì mô tả cuộc đời tôi từ khi bước ra khỏi nhà tù, nhưng câu chuyện sẽ không hoàn chính nếu thiếu đi phần thông tin này.

Vào tháng 3 năm 2000, hai tháng sau khi tôi được thả, Thượng nghị sĩ Fred Thompson đã gửi thư tới và hỏi tôi có muốn bay tới Washington để làm chứng trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Thượng viện Mỹ không? Tôi rất bất ngờ, vui sướng và lấy làm hãnh diện vì người của Chính phủ đã thừa nhận và tôn trọng kỹ năng máy tính của mình, đủ để muốn nghe ý kiến của tôi về cách bảo vệ mạng lưới và hệ thống máy tính của chính phủ. Tôi phải xin phép Phòng Quản chế để được bay tới Washington, DC.; tôi ắt phải là một trong số ít người nằm trong quyền quản lý của họ, nếu không phải là trường hợp duy nhất, lấy lý do “làm chứng trước Ủy ban Thượng viện” để xin chấp thuận cho chuyến đi.

Chủ đề của buổi điều trần là “Tấn công mạng: Liệu Chính phủ có an toàn?” Jack Biello, bạn thân và cũng là một người ủng hộ tôi, một cây bút khá cừ, đã giúp tôi phác thảo bài phát biểu trên giấy.

Chúng ta đều đã thấy các buổi điều trần trên C-SPAN, nhưng việc được dẫn tới và ngồi yên ở đó, trước một sàn nâng với những gương mặt quen thuộc gồm các chính trị gia đứng đầu đất nước, đang nhìn chằm chằm xuống bạn và sẵn sàng nuốt lấy từng lời bạn nói – ừm, trải nghiệm này quả là kỳ diệu.

Phòng họp kín người. Tôi là người làm chứng chính trong buổi lễ do Thượng nghị sĩ Fred Thompson làm chủ tọa. Ban hội thẩm gồm có các Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman và John Edwards. Dù có chút lo lắng lúc đầu khi đọc lời làm chứng nhưng tôi đã lấy lại sự tự tin khi phần Hỏi Đáp diễn ra. Tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngoài mong đợi, thậm chí còn đưa ra vài lời nói đùa khiến mọi người phải phì cười. (Bạn có thể tham khảo trên mạng lời làm chứng của tôi dưới dạng văn bản tại địa chỉ: http://hsgacsenategov/030200_mitnickhtm.)

Sau bài phát biểu của tôi, Thượng nghị sĩ Lieberman đã đặt ra vài câu hỏi về lịch sử hacking của tôi. Tôi đáp lại và nói động cơ của tôi là học hỏi, không phải vì lợi ích hay ý định gây hại cho ai. Tôi nhắc tới trường hợp nhân viên Sở Thuế vụ, Richard Czubinski, đã lật ngược bản án của mình khi tòa án chấp nhận lý lẽ của anh ta rằng Czubinski tiếp cận các thông tin mật chỉ vì lòng hiếu kỳ; anh ta chưa từng có ý định sử dụng hay để lộ ra các thông tin đó.

Lieberman, hiển nhiên rất ấn tượng với lời khai và án lệ do chính tôi phát hiện ra, đã gợi ý rằng tôi có thể trở thành một luật sư.

“Với trọng tội mình đã mắc phải, tôi khó có thể trở thành một luật sư,” tôi nói. “Nhưng có lẽ một ngày nào đó, ngài sẽ đạt tới vị trí có thể xá tội cho tôi[1]!”

Mọi người cười ồ lên.

Như thể có một cánh cửa phép thuật đã mở ra. Mọi người bắt đầu gọi cho tôi đặt lịch phát biểu. Tôi từng tuyệt vọng khi các lựa chọn công việc của mình bị giới hạn chặt chẽ trong điều khoản quản chế. Vậy mà giờ đây, sau buổi điều trần, khả năng về một công việc diễn thuyết kiếm bộn tiền bỗng đột nhiên xuất hiện.

Vấn đề duy nhất là tôi mắc chứng sợ đứng trên sân khấu nghiêm trọng! Tôi phải mất rất nhiều giờ luyện tập cùng hàng nghìn đô-la trả cho huấn luyện viên diễn thuyết mới có thể vượt qua nỗi sợ này.

Tôi tham gia một câu lạc bộ Toastmaster[2] địa phương nhằm cố gắng làm quen với nỗi sợ khi phải phát biểu trước đám đông. Điều buồn cười là các buổi gặp của họ thường được tổ chức tại văn phòng chính của General Telephone ở Thousand Oaks, nơi tôi từng làm việc trong một thời gian ngắn. Thẻ qua cửa của Toastmaster cho tôi quyền tự do đi tới bất kỳ văn phòng nào trong tòa nhà. Tôi không thể nén nổi nụ cười mỗi khi bước vào đó, nghĩ tới việc mấy gã trong tổ An ninh phải hoảng loạn thế nào nếu biết được chuyện này. Một trong những lời mời phỏng vấn tôi nhận được khi đó đến từ Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ trong Thế kỷ XXI, nhóm cố vấn có nhiệm vụ đưa ra khuyến nghị về an ninh tới Quốc hội và Tổng thống. Có hai người thuộc Bộ Quốc phòng, đại diện cho hội đồng, đã tới nhà tôi ở Thousand Oaks và dành hai ngày để hỏi ý kiến của tôi về việc làm thế nào để hệ thống máy tính của chính phủ và quân đội Mỹ có thể an toàn hơn.

Thật ngạc nhiên, tôi cũng được mời xuất hiện trong một số chương trình thời sự và chương trình nói chuyện trên truyền hình. Bỗng dưng tôi trở thành nhân vật nổi tiếng trên các phương tiện truyền thông, nhận lời phỏng vấn của các trang báo hàng đầu thế giới, bao gồm Washington Post, Forbes, Newsweek, Time, Wall Street Journalvà Guardian. Trang tin trực tuyến Brill’s Content còn đề nghị tôi nhận viết một chuyên mục hàng tháng. Dù tôi không được phép tới gần máy tính, nhưng những người ở Brill nói họ sẵn lòng nhận các bản thảo viết tay.

Cùng lúc đó, những lời mời làm việc lạ thường khác cũng ập tới. Một công ty bảo mật muốn tôi trở thành thành viên trong ban cố vấn và hãng phim Paramount còn mời tôi tới cố vấn cho một loạt ý tưởng về phim truyền hình mới của họ.

Sau khi nghe nói về các lời đề nghị này, viên quản chế của tôi, Larry Hawley, đã nhắc nhở tôi rằng tôi không được phép viết các bài báo về công nghệ máy tính hay tham gia vào bất kỳ dạng công việc nào có thảo luận tới vấn đề này. Anh ta khăng khăng nói Phòng Quản chế cho rằng tất cả công việc đó đều là hoạt động “tư vấn về máy tính”, điều mà tôi không được phép làm nếu không có sự đồng ý của anh ta. Tôi phản đối rằng viết về chủ đề đó không có nghĩa rằng tôi là một cố vấn. Những bài báo này vốn được dành cho toàn công chúng. Tôi chỉ làm cùng một loại việc mà cựu hacker Kevin Poulsen đã làm khi cậu ta còn trong thời gian quản chế thôi.

Không nản lòng, tôi tìm đến cố vấn pháp lý. Sherman Ellison, một người bạn luật sư, đã đồng ý đại diện cho tôi miễn phí. Hiển nhiên, điều này đồng nghĩa với việc tôi sẽ phải đứng ra tự bào chữa trước thẩm phán Pfaelzer. Mối quan hệ pháp lý kéo dài suốt ba năm gần đây không mấy có tác dụng trong việc tăng cường thiện ý mà chúng tôi dành cho nhau. Không ai muốn gặp lại người kia.

“Tòa không hề nghi ngờ việc sẽ còn gặp lại ngài Mitnick một lần nữa,” thẩm phán Pfaelzer nói. Dĩ nhiên, ý của bà ta là bà ta biết rõ sẽ còn gặp lại tôi khi tôi bị buộc thêm các tội mới, hay khi tôi tiếp tục vi phạm các điều luật quản chế. Nhưng cuối cùng, bà ta nói rằng các luật sư sẽ phải tự làm việc với nhau về vấn đề này và nhấn mạnh thêm bà ta không muốn nhìn thấy tôi trong phiên tòa một lần nào nữa. Bà ta phát chán các vụ của Mitnick rồi.

Phòng Quản chế nhận được tin nhắn: “Hãy linh hoạt trong các vấn đề liên quan đến Mitnick để hắn ta không còn xuất hiện trong lịch làm việc của chúng tôi một lần nữa.” Phòng Quản chế bắt đầu hợp lý và dễ dãi hơn đối với tôi.

Vào mùa thu năm 2000, ngay sau khi kết thúc buổi phỏng vấn trên chương trình chào buổi sáng nổi tiếng của Bill Handel trên đài phát thanh KFI-AM 640 của Los Angeles, tôi đã nói chuyện với Giám đốc Chương trình của đài, David G. Hall. Anh ấy nói rằng người dẫn chương trình trò chuyện quốc tế Art Bell sẽ sớm về hưu và muốn giới thiệu tôi với công ty sản xuất, Premiere Radio Networks, để thay thế David Hall. Một lời ca ngợi quá bất ngờ! Tôi choáng váng. Phải thừa nhận rằng tôi không có chút kinh nghiệm nào trong việc dẫn chương trình trò chuyện trên sóng phát thanh và thực ra tôi còn chưa từng nghe bất kỳ chương trình nào, nhưng tôi vẫn nói mình sẵn sàng thử sức.

Vài ngày sau, tôi thử sức trong vai trò khách mời của chương trình Tim Neil và David đã đề nghị tôi thực hiện một chương trình của riêng mình có tên là The Darkside of the Internet (tạm dịch: Góc khuất của Internet). Sau đó, tôi rủ anh bạn thân Alex Kasperavicius cùng dẫn chương trình với mình. Chúng tôi đã lột trần những góc khuất trên mạng Internet, nhắc nhở người nghe về việc bảo vệ sự riêng tư cũng như trả lời các câu hỏi do thính giả của chương trình gửi tới xin được tư vấn cách bảo mật máy tính cá nhân cùng nhiều vấn đề khác nữa. Chúng tôi cũng nói về tất cả các dạng trang web và dịch vụ thú vị đang dần xuất hiện trên mạng.

David Hall, một lãnh đạo có tiếng trong giới truyền thanh, đã cho tôi lời khuyên chỉ có ba từ: một chương trình cần phải có tính giải trí, thích hợp và giàu thông tin. Ngay lập tức, tôi mời các khách mời như Steve Wozniak, John Draper và thậm chí cả ngôi sao phim khiêu dâm Danni Ashe, người đã lột cả áo ngay tại trường quay để chứng tỏ mình nóng bỏng cỡ nào. (Nghe này, Howard Stern, tôi đang theo bước anh đó!)

Do tôi không được phép sử dụng máy tính, đài phát thanh đã rất tốt bụng cử riêng một nhà sản xuất hỗ trợ tôi, người này vừa đảm nhận các nhiệm vụ thông thường vừa giúp tôi tìm hiểu thông tin trên Internet. Chương trình dài cả tiếng đồng hồ cứ lên sóng đều đặn vào mỗi Chủ nhật. Trong suốt thời gian đó, đài phát thanh từ vị trí xếp hạng thứ 14 trên Aibitron[3] đã nhảy lên đứng thứ hai. Bất chấp giả định mà thẩm phán Pfaelzer đã dùng để tính toán khoản tiền tôi có thể bồi thường trước đó, tôi kiếm được tới 1.000 đô-la cho mỗi chương trình.

Trong quá trình làm việc với cương vị người dẫn chương trình trò chuyện, J. J. Abrams, nhà sản xuất phim và truyền hình nổi tiếng, đã liên lạc với tôi. Anh nói anh là người hâm mộ của tôi và thậm chí còn từng đặt một sticker “Hãy trả tự do cho Kevin” trên xe ô tô trong loạt phim truyền hình mang tên Felicity (tạm dịch: May mắn) của mình. Sau khi gặp nhau ở một studio tại Burbank, anh đã mời tôi vào vai diễn khách mời, đặc vụ FBI, cho chương trình Alias (tạm dịch: Bí danh) của anh, một cách chọc cười tinh tế. Cuối cùng, khi kịch bản chương trình thay đổi, tôi đã vào vai một đặc vụ CIA làm việc chống lại kẻ phản bội SD6.

Chính phủ liên bang không cho phép tôi gõ máy tính thực sự trong khi quay phim, do đó, tổ đạo cụ phải đảm bảo rằng bàn phím máy tính phải được ngắt kế nối. Tôi xuất hiện trong cảnh quay cùng với Jenifer Garner, Michael Vartan và Greg Grunberg. Thật tuyệt vời – đó quả là một trong những trải nghiệm thú vị nhất mà tôi từng có.

Khoảng mùa hè năm 2001, tôi nhận được cuộc gọi từ một người đàn ông có tên là Eddie Muñoz. Anh ta đã tìm hiểu về quá khứ hacking của tôi và muốn thuê tôi giải quyết một vấn đề bất thường. Dịch vụ cung cấp “vũ công tay vịn” qua điện thoại ở Las Vegas của anh ta vốn vô cùng ăn nên làm ra nay lại sụt giảm khách hàng một cách đáng kể. Eddie cảm thấy chắc chắn là Mafia đã tấn công vào bộ chuyển đổi điện thoại của Sprint và tái lập trình nó để hầu hết các cuộc gọi tới dịch vụ của Eddie sẽ bị chuyển hướng tới dịch vụ gái gọi do nhóm Mafia dẫn dắt.

Muñoz đã gửi khiếu nại lên Hội đồng các Ngành dịch vụ Công (PUC) nhắm vào Sprint, cho rằng ngành kinh doanh của anh ta đang phải chịu thiệt hại nặng nề bởi công ty Sprint đã không có chế độ an ninh thích đáng đối với cơ sở hạ tầng của mình nhằm chống lại các hacker. Muñoz muốn thuê tôi làm chứng trước tòa trong vai trò chuyên gia máy tính. Tôi khá nghi ngờ việc Sprint phải chịu trách nhiệm cho việc sụt giảm thu nhập của Eddie, nhưng cũng đồng ý đứng ra làm chứng về những thiếu sót trong bảo mật của họ.

Trong suốt phiên tòa, tôi đã mô tả lại việc mình đã tấn công vào các công ty điện thoại trong nhiều năm ra sao, bao gồm cả Sprint. Tôi giải thích rằng hệ thống CALRS mà Sprint sử dụng để kiểm tra cũng tương tự như hệ thống SAS của Pacific Bells, nhưng có khả năng bảo mật tốt hơn: Bất kỳ ai có ý định thâm nhập vào thiết bị kiểm tra CALRS từ xa ở các văn phòng trung tâm sẽ phải cung cấp được đáp án chính xác cho những thử thách mà hệ thống đưa ra. Hệ thống được lập trình với 100 thử thách khác nhau – gồm số hai ký tự từ 00 đến 99, mỗi câu hỏi tương ứng với một đáp án riêng gồm các cụm bốn ký tự như b7a6 hoặc dd8c. Không dễ gì vượt qua được… trừ khi đặt máy nghe lén hoặc tấn công bằng cách sử dụng kỹ thuật xã hội.

Tôi nói với hội đồng, cách tôi đã vượt qua thử thách này là gọi điện tới Northern Telecom, nhà sản xuất của hệ thống, giả vờ là một nhân viên phòng kỹ thuật của Sprint, rồi nói rằng tôi đang xây dựng một công cụ kiểm tra tùy chỉnh cần phải kết nối với thiết bị kiểm tra CALRS trong các văn phòng trung tâm. Tay kỹ thuật viên đã gửi fax cho tôi một “danh mục” liệt kê tất cả 100 câu hỏi cùng đáp án tương ứng.

Một trong các luật sư của Sprint phản bác lại lời khai của tôi: “Mitnick là người tấn công bằng kỹ thuật xã hội, nói dối là một phần công cụ kiếm ăn của anh ta, quý tòa không thể tin những gì anh ta nói được.” Không chỉ phủ nhận hoàn toàn việc Sprint từng bị tấn công hay có thể bị tấn công trong tương lai, gã luật sư còn chỉ ra rằng tôi chính là người đã viết “cuốn sách về nói dối”: The Art of Deception (tạm dịch: Nghệ thuật dối lừa) (tôi sẽ nói thêm về cuốn sách này sau).

Một trong những nhân viên của PUC đối chất với tôi và nói: “Anh đã đưa ra tất cả lập luận này, nhưng chưa có lấy một mẩu bằng chứng nào. Anh có cách nào để chứng minh rằng Sprint có thể bị tấn công không?”

Dù không chắc chắn nhưng vẫn còn một cơ hội để tôi có thể chứng minh điều này. Trong giờ nghỉ trưa, tôi tới hộp chứa đồ mình đã mở ở Las Vegas ngay trước khi chạy trốn. Trong đó nhét đầy điện thoại di động, chip, giấy in, đĩa mềm và nhiều thứ khác – những thứ mà tôi không thể mang theo nhưng cũng không muốn để mất hay liều lĩnh để lại chỗ mẹ hay bà ngoại, nơi cảnh sát có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào với một tờ lệnh khám xét và tìm ra tất cả.

Thật kỳ diệu, trong đống đồ xưa cũ đó, tôi tìm được thứ mà mình muốn có: Một tờ giấy, giờ đã khá rách nát, quăn góc và bụi bẩn, chứa toàn bộ danh mục câu hỏi của CALRS. Trên đường quay trở lại phòng xử án, tôi dừng lại tại một tiệm Kinko’s và in thành nhiều bản, đủ cho người của Hội đồng, các luật sư, thư ký cũng như nhân viên ở đây đều đọc được.

Kevin Poulsen, lúc này đã là phóng viên công nghệ rất được tôn trọng, đã bay tới Las Vegas để đưa tin về phiên tòa trong vai trò một phóng viên. Đây là những gì cậu ta viết về lúc tôi quay lại chỗ đứng của người làm chứng:

“Nếu hệ thống vẫn còn nguyên và họ chưa thay đổi danh mục câu hỏi của mình, quý tòa có thể dùng danh sách này để đăng nhập vào CALRS,” Mitnick khai. “Hệ thống sẽ cho phép quý tòa đặt thiết bị nghe lén một đường dây nào đó, hoặc chặn tín hiệu quay số.”

Mitnick quay trở lại phiên tòa với một danh sách khiến người của Sprint phản ứng mạnh mẽ; Ann Pongracz, cố vấn pháp lý của Sprint, cùng một nhân viên khác trong công ty lao nhanh ra khỏi phòng – Pongracz bấm điện thoại trên tay ngay khi vẫn đang bước vội.

Việc hai người của Sprint xám mặt phi nhanh ra khỏi phòng đã chứng minh một điều: Sprint có lẽ vẫn đang dùng thiết bị CALRS kiểu cũ, loại được lập trình với cùng một danh mục câu hỏi. Pongracz và đồng nghiệp hẳn đã nhận ra tôi có thể tấn công vào hệ thống CALRS bất kỳ lúc nào mình muốn và có khả năng nghe lén bất kỳ đường dây điện thoại nào của họ ở Las Vegas.

Dù có tôi đứng ra làm chứng, Eddie cũng không thu được kết quả mong muốn. Chứng minh rằng Sprint có thể bị hack không có nghĩa là chứng minh được tổ chức Mafia hay bất kỳ ai đó cũng thực hiện hành vi này để chuyển hướng các cuộc gọi làm ăn. Eddie trắng tay trở về.

Mùa thu năm 2001 đã mở ra một chương mới trong cuộc đời tôi khi tôi được giới thiệu với đại diện nhà văn[4] David Fugate. David cho rằng câu chuyện của tôi thực đặc biệt. Anh nhanh chóng liên lạc với nhà xuất bản John Wiley Sons và đề xuất rằng tôi có thể viết một cuốn sách về tấn công bằng kỹ thuật xã hội nhằm giúp các công ty và khách hàng có thể tự bảo vệ mình trước kiểu tấn công mà tôi đã thành công. Wiley rất nhiệt tình với dự án này và David gợi ý Bill Simon làm đồng tác giả, người sẽ hợp tác với tôi để cùng phát triển cuốn sách The Art of Deception (tạm dịch: Nghệ thuật dối lừa).

Với hầu hết mọi người, có được một đại diện, một đồng tác giả đáng tin cậy và một hợp đồng xuất bản hợp lý, là phần khó nhất để xuất bản được cuốn sách của riêng mình. Còn với tôi, câu hỏi đặt ra là: Làm sao để viết được một cuốn sách mà không dùng tới máy tính?

Tôi nhìn vào thiết bị gõ văn bản tách rời mà mọi người vẫn thường dùng trước thời có máy tính cá nhân. Vì chúng thậm chí còn không thể kết nối được với các máy tính khác, tôi nghĩ mình sẽ có một cơ sở vững chắc để trình bày trước viên quản chế của mình.

Câu trả lời của anh ta hoàn toàn nằm ngoài dự đoán.

Anh ta gạt bỏ ý tưởng về máy gõ văn bản và nói rằng tôi có thể sử dụng một chiếc máy tính xách tay, miễn sao không kết nối vào Internet và giữ bí mật với cánh truyền thông là được!

Khi Bill và tôi đang viết sách, Eric Corley đã cho ra mắt bộ phim tài liệu Freedom Downtime nói về cuộc vận động “Hãy trả tự do cho Kevin”. Bộ phim dành rất nhiều thời gian để vạch trần những chi tiết thiếu chính xác trầm trọng trong bộ phim Takedown, thậm chí còn có cả một cảnh quay John Markoff thừa nhận rằng nguồn tài liệu duy nhất hắn có về việc tôi đã tấn công như thế nào vào NORAD bắt nguồn từ một người bị buộc tội phone phreak chuyên phát tán tin đồn sai lệch.

Sau khi xuất bản, The Art of Deception nhanh chóng trở thành cuốn sách ăn khách trên thế giới, được dịch sang 18 ngôn ngữ khác nhau. Thậm chí cho đến giờ, rất nhiều năm sau đó, nó vẫn là một trong những cuốn sách viết về hacking nổi tiếng nhất và là cuốn sách phải đọc trong các khóa học về máy tính ở một số trường đại học.

Khoảng tháng 2 năm 2003, tôi đột nhiên được mời tới Ba Lan để quảng bá cho cuốn sách. Ở trạm dừng đầu tiên tại Warsaw, phía đối tác đã cử bốn vệ sĩ mặc com-lê với bộ đàm cầm tay hệt như người của Sở Mật vụ để phụ trách vấn đề an toàn của tôi. Tôi cười lớn, cho rằng điều này thật kỳ cục. Hiển nhiên là tôi không cần được bảo vệ.

Những vệ sĩ này đưa tôi qua cửa sau tòa nhà, đi vào một trung tâm thương mại lớn. Tiếng người nói chuyện dần trở nên ầm ĩ cho tới lúc chúng tôi bước ra để vào trung tâm, nơi đây có tới hàng trăm người hâm mộ đang chen chúc sau đường dây phân cách. Khi trông thấy tôi, họ ùa tới và những nhân viên bảo vệ phải chặn họ lại.

Cho rằng họ đã nhầm tôi với một người nổi tiếng tầm cỡ thế giới nào đó, tôi bắt đầu nhìn xung quanh để xem có ngôi sao nào đang đứng quanh đó hay không. Nhưng thật kỳ diệu, đám đông thực sự ở đó vì tôi.

Cuốn sách của tôi trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ, thậm chí còn vượt cả cuốn sách mới sách mới xuất bản của Giáo hoàng John Paul II. Một người bản địa giải thích: Ở Ba Lan sau thời Cộng sản, nếu bạn có thể đánh bại hệ thống, thì bạn chính là người hùng!

Sau cả cuộc đời hacking chỉ làm việc đơn lẻ hoặc với một người bạn nào đó, với mục tiêu chính là để học hỏi thêm nữa về cách hoạt động của hệ thống máy tính cũng như hệ thống điện tử viễn thông, cùng thành công trong việc hack vào bất kỳ thứ gì, tôi đã trở thành hình tượng tương tự như một ngôi sao nhạc rock. Đây là điều cuối cùng tôi có thể mường tượng ra.

Dù vậy, một trong những ký ức mang ý nghĩa cá nhân lớn nhất trong khoảng thời gian này chính là chuyến hành trình quảng bá sách đưa tôi tới New York. Ở đó, cuối cùng tôi cũng gặp được những người ủng hộ tạp chí2600 đã ở bên tôi trong những thời khắc đen tối nhất qua cuộc vận động “Hãy trả tự do cho Kevin”. Khi tôi đang phải đối đầu với những khó khăn đến từ hệ thống tư pháp, việc có được cả một nhóm người làm việc không biết mệt mỏi để hỗ trợ tôi mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Điều này mang lại cho tôi nhiều hy vọng và can đảm hơn hẳn những gì họ biết. Tôi không bao giờ có thể thể hiện hết lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với những con người này.

Giây phút được phép sử dụng máy tính sau tám năm kể từ khi bị bắt hẳn phải là một trong những khoảnh khắc có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời sau khi ra tù của tôi. Đó là ngày hội lớn của tôi với sự góp mặt của gia đình và bạn bè từ khắp nơi trên thế giới.

Chương trình truyền hình cáp trực tiếp có tên The Screen Saver, do Leo Laporte và Patrick Norton đạo diễn, đã đề nghị được lên sóng lần tương tác Internet đầu tiên này của tôi.

Xuất hiện trong chương trình cùng với tôi, ngoài Eric Corley, người đứng đầu cuộc vận động “Hãy trả tự do cho Kevin” và cũng là người luôn hết mình ủng hộ tôi, còn có Steve Wozniak, nhà đồng sáng lập công ty Apple và cũng là một trong những người bạn thân nhất của tôi. Họ cùng đến để “giúp” tôi nghiên cứu mạng sau chừng đấy năm bị cấm đoán.

Woz đã tặng tôi một món quà bất ngờ là chiếc Apple PowerBook G4 mới tinh gói trong tờ giấy có in hình hoạt họa ngộ nghĩnh về một gã đang ra sức với tới chiếc máy tính bằng một cây gậy từ sau chấn song nhà tù. Xét trên nhiều góc độ, khoảnh khắc có được chiếc laptop từ chính cha đẻ của dòng máy tính cá nhân chính là lúc tôi biết rằng mình đã chính thức được trở lại cuộc sống trước đây.

Đã 11 năm trôi qua kể từ ngày tôi bước ra khỏi nhà giam. Tôi đã lập một công ty tư vấn với hoạt động kinh doanh khá ổn định. Công việc này đã đưa tôi đi khắp nước Mỹ và tất cả các châu trừ châu Nam Cực.

Với tôi, công việc hiện tại không khác gì một điều kỳ diệu. Các bạn hãy thử điểm tên một vài hoạt động phi pháp lại có thể được thực hiện một cách hợp pháp và có lợi cho tất cả mọi người xem. Chỉ có một cái tên duy nhất xuất hiện trong đầu tôi: hacking có đạo đức.

Tôi đã vào tù vì hacking. Giờ thì mọi người lại trả tiền để tôi làm điều tương tự, nhưng theo phương thức hợp pháp và có giá trị hơn.

Tôi chưa bao giờ có thể mường tượng ra điều này, nhưng nhiều năm sau khi ra tù, tôi đã xuất hiện tại vô số sự kiện trong giới và các cuộc họp công ty trong vai trò diễn giả chính, tôi đã viết bài cho tạp chí Harvard Business Review, cũng đã có các buổi trò chuyện với sinh viên và giáo sư tại Đại học Luật Harvard. Mỗi khi có tin tức liên quan tới các hacker, tôi sẽ được đề nghị đưa ra ý kiến trên kênh truyền hình Fox, CNN và các phương tiện truyền thông khác. Tôi đã xuất hiện trên chương trình 60 Minutes, Good Morning America (tạm dịch: 60 phút, nước Mỹ chào buổi sáng) và nhiều chương trình khác nữa. Tôi cũng được các văn phòng chính phủ như Cục Hàng không Liên bang Mỹ, Phòng Quản lý An sinh Xã hội thuê làm việc. Bất chấp những việc làm phạm pháp của tôi trong quá khứ, FBI và InfraGard cũng tìm đến tôi nhờ hỗ trợ.

Mọi người thường hỏi tôi đã hoàn toàn từ bỏ được thói quen hacking của mình chưa.

Thường thì tôi vẫn giữ thói quen của một hacker – thức khuya, ăn sáng khi tất cả mọi người đã kết thúc bữa trưa và bận rộn với máy tính đến ba, bốn giờ sáng.

Và tôi lại quay lại với nghiệp hacking… nhưng theo một cách khác. Với Công ty Tư vấn Bảo mật Mitnick LLC, tôi thực hiện việc hacking có đạo đức – dùng kỹ năng hacking của mình để kiểm tra khả năng bảo mật của các công ty nhờ xác định những điểm yếu trong hệ thống kiểm soát bảo mật vật lý, kỹ thuật và nhân lực, nhờ vậy các công ty này có thể nâng cao khả năng phòng thủ trước khi bị kẻ xấu tấn công. Tôi làm việc cho các công ty trên toàn thế giới và thường đảm nhiệm vai trò diễn giả chính cho khoảng 15-20 chương trình một năm. Chúng tôi còn kiểm tra sản phẩm bảo mật của các công ty khác trước khi nó được tung ra thị trường, để xem liệu chúng có đáp ứng được yêu cầu mà các công ty đề ra hay không. Công ty của tôi cũng cung cấp chương trình đào tạo nâng cao nhận thức về bảo mật, chủ yếu tập trung vào việc giảm nhẹ mối đe dọa từ tấn công bằng cách sử dụng kỹ thuật xã hội.

Những gì tôi đang làm cũng mang lại niềm đam mê hacking tương tự như hồi tôi còn thâm nhập bất hợp pháp trước đây. Sự khác biệt có thể được tóm tắt trong cụm từ: được ủy quyền.

Tôi không cần tới sự ủy quyền để thâm nhập.

Đó là cụm từ đã biến đổi tôi tức thì từ Hacker bị Truy nã Gắt gao nhất Thế giới thành một trong những Chuyên gia Bảo mật được Săn đón nhất Thế giới. Mọi việc cứ như thể một phép màu.

❀ ❀ ❀

[1] 97* Ý Mitnick muốn nói đến vị trí Tổng thống Mỹ. (ND)

[2] 98* Câu lạc bộ nơi các thành viên luyện tập diễn thuyết bằng tiếng Anh với các chủ đề nhất định và độ khó tăng dần. (ND)

[3] 99* Công ty nghiên cứu người dùng tại Mỹ, chuyên thu thập dữ liệu trên đài phát thanh và sử dụng các dữ liệu này để cung cấp dịch vụ xếp hạng phát thanh. (BTV)

[4] 100* Đại diện nhà văn (Literary agent): Đại diện cho các tác giả, đứng ra liên hệ với các nhà xuất bản và đàm phán hợp đồng viết sách. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.