Do Lewis hạn chế rất nhiều thời gian hacking để khiến Bonnie vui lòng, nên tôi lại sa vào hacking với một người bạn khác của anh ta. Terry Hardy chắc chắn không phải là kiểu người mà bạn có thể gặp hằng ngày. Anh ta có dáng người dong dỏng và vầng trán cao, cùng giọng nói đều đều như rô-bốt. Chúng tôi đặt cho anh ta biệt danh là “Klingon”, dựa theo một chủng người ngoài hành tinh trong loạt phim Star Trek (tạm dịch: Du hành giữa các vì sao), bởi chúng tôi cho rằng anh ta có một vài đặc trưng ngoại hình giống họ. Là một người uyên bác, anh ta có thể liên tục vừa nhìn thẳng vào mắt bạn nói chuyện vừa gõ 85 chữ một phút trên máy tính. Bạn sẽ phải ngạc nhiên và kinh sợ khi chứng kiến khả năng này.
Một ngày nọ, khi Terry, Lewis và tôi đang ở cùng Dave Harrison ở văn phòng của Dave, tôi nói: “Này, chúng ta hãy cùng xem liệu mình có thể lấy được mật khẩu hòm thư thoại của Darrell Santos không.” Đây sẽ là một cách để chứng tỏ bản thân với những người ở Teltec. Nếu tôi thực sự có thể thực hiện thành công.
Tôi gọi đến khung dây cung cấp các số điện thoại tại văn phòng của Phòng An ninh Pacific Bell và nhờ một kỹ thuật viên tìm cáp đôi cho một số điện thoại mà tôi đã đưa cho anh ta: số của nhân viên điều tra an ninh thuộc Pacific Bell, Darrell Santos.
Mục đích của tôi là đặt một kết nối SAS lên đường dây của Santos, nhưng tôi muốn thực hiện việc này theo cách thật đặc biệt. Sau khi nghiên cứu về SAS, tôi biết có một thứ được gọi là “giày SAS”, một kết nối vật lý cho phép bạn nhảy vào một đường dây và ở lại đó, nghe thấy mọi cuộc gọi mà thuê bao đó gọi đi hoặc nhận được. Và với phương pháp này, sẽ không có tiếng click trên đường dây khi kết nối SAS được thiết lập.
Nhân viên kỹ thuật này sẽ nghĩ gì nếu anh ta biết nhánh điện thoại mà anh ta đang cài đặt lại nằm trên đường dây thuộc về Phòng An ninh Pacific Bell?
Giờ là thời điểm thích hợp nhất. Ngay khi vừa nhảy vào đường dây, tôi nghe thấy một giọng nữ nói: “Xin hãy nhập mật khẩu.” Terry Hardy cũng vô tình ở cạnh tôi khi đó. Một trong những khả năng dị thường khác của Terry là anh ta có khả năng cảm âm hoàn hảo hiếm gặp: Anh ta có thể nghe được âm bàn phím của một số điện thoại đang được nhập và nói cho bạn biết số đó.
Tôi gào qua phòng để Lewis và Dave trật tự rồi nói: “Terry, nghe đi, nghe đi!” Anh ta tiến gần tới loa ngoài điện thoại vừa đúng lúc nghe được tiếng bấm phím khi Santos nhập mật khẩu hòm thư thoại của ông ta.
Terry đứng đó, như thể lạc theo dòng suy nghĩ. Trong khoảng 20 giây. Tôi không dám chen ngang.
Rồi anh ta nói, “Tôi nghĩ đó là ‘1313.’”
Trong 2-3 phút sau đó, chúng tôi đều đứng đó chết lặng trong khi Santos – và cả bốn chúng tôi – cùng nghe các tin nhắn trong hộp thư thoại của ông ta. Sau khi Santos gác máy, tôi gọi đến số truy cập hòm thư thoại của ông ta và nhập vào mật khẩu “1313”.
Vào được rồi.
Chúng tôi choáng váng! Dave, Lewis, Terry và tôi đều nhảy lên đập tay nhau.
Terry và tôi cùng lặp lại quy trình tương tự và cuối cùng, chúng tôi đã lấy được cả mật khẩu hòm thư thoại của Lilly Creek.
Tôi bắt đầu coi việc kiểm tra hộp thư thoại của Creek và Santos là công việc thường ngày, sau giờ làm, khi tôi có thể khá chắc chắn họ sẽ không thử gọi vào cùng lúc: nhận được tin nhắn rằng hộp thư thoại của họ đang được sử dụng sẽ tạo ra một báo động đỏ to đùng.
Vài tuần sau, tôi nghe được một chuỗi tin nhắn do thám tử Simon để lại, thông báo cho Santos tình hình điều tra của ông ta ở Teltec. Khi biết họ không phát hiện ra điều gì mới, các sếp của tôi sẽ rất an tâm. (Còn có một sự ngẫu nhiên khó tin nổi trong thế giới nhỏ bé này, thám tử Simon – khi đó vẫn đang đương chức tại Sở Cảnh sát Los Angeles, giờ là Cảnh sát trưởng Dự bị – lại là anh em sinh đôi với đồng tác giả cuốn sách này của tôi, Bill Simon.)
Trong lúc đó, cứ thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến thông tin như trêu ngươi đó, khi tôi nhận được một trong những lời cáo buộc chống lại Kevin Poulsen vì một vụ hack mà Eric nói hắn đã tham gia: Cuộc thi trên sóng phát thanh được cho là đã đem về cho Eric một chiếc Porsche và bản thân Poulsen hai cái nữa. Vào một khoảnh khắc lạ thường khác, tôi lại nhớ ra cuộc thi từng nghe trên radio, trong lúc lái xe đến Vegas, vào cái ngày thê lương không lâu sau cái chết của người em trai cùng cha khác mẹ. Cuối cùng, tôi đã móc nối hai sự việc này lại với nhau.
Eric từng nói với Lewis và tôi rằng bước đầu chuẩn bị cho cuộc thi trên sóng phát thanh của Poulsen dựa vào việc hack vào bộ chuyển mạch của công ty điện thoại ở văn phòng trung tâm chuyên xử lý các đường dây điện thoại của đài radio. Tôi nghĩ có thể có cách làm việc đó mà không cần phải chọc phá bộ chuyển mạch. KRTH phát thanh từ các văn phòng không quá xa chỗ Dave và cả hai đều do cùng một văn phòng trung tâm cung cấp dịch vụ.
Để bắt đầu, tôi sẽ cần một số điện thoại khác số 800 mà người dẫn chương trình đã thông báo trên sóng. Gọi đến một ban nội bộ Pacific Bell, tôi hỏi số “POTS” cho số 800. (“POTS” là từ viết tắt của “plain old telephone service” – số dịch vụ điện thoại cũ; đây là một thuật ngữ chuẩn, được sử dụng hằng ngày tại các công ty điện thoại.) Tôi cần số POTS bởi số 800 dùng cho cuộc thi trên sóng phát thanh có đặt một “van điều tiết”, giới hạn luồng cuộc gọi đến từ mỗi vùng phát thanh của đài và kế hoạch sẽ bị đổ bể nếu bất cứ cuộc gọi nào của tôi bị nghẽn. Người phụ nữ nhấc máy thậm chí còn không buồn hỏi tên tôi hay liệu tôi có làm ở Pacific Bell hay không; cô ta cứ thế đưa tôi con số.
Tại văn phòng của Dave Harrison, tôi lập trình tính năng gọi nhanh trên bốn đường điện thoại, sao cho tất cả những gì tôi cần làm để quay số trực tiếp đến số POTS ở đài radio là ấn “#9”. Dựa theo thực tế, tôi tính toán sao cho các cuộc gọi định tuyến đến số 800 sẽ mất nhiều thời gian kết nối hơn một chút. Ngoài ra, các số trong văn phòng của Dave cũng được chuyển mạch qua cùng một văn phòng trung tâm với số POTS của đài, nghĩa là các cuộc gọi của chúng tôi sẽ được hoàn tất ngay lập tức. Nhưng liệu những lợi thế nhỏ nhoi đó, cộng với việc sử dụng nhiều đường dây điện thoại, có đủ để tạo nên sự khác biệt?
Khi tất cả đã được thiết lập, Lewis, Terry Hardy, Dave và tôi mỗi người ngồi ôm một chiếc điện thoại và sẵn sàng gọi. Chúng tôi khó có thể chờ đến khi cuộc thi được phép bắt đầu. Người gọi đến thứ bảy sẽ là người thắng cuộc. Chúng tôi chỉ cần gọi liên tục cho đến khi một trong số chúng tôi là người gọi thứ bảy.
Ngay khi chúng tôi nghe thấy nhạc hiệu thông báo bắt đầu nhận cuộc gọi – giai điệu “The best oldies on radio” (tạm dịch: Những khúc nhạc cũ tuyệt vời nhất trên radio) – chúng tôi sẽ nhanh chóng bấm “#9”. Mỗi lần chúng tôi kết nối thành công và nghe DJ nói: “Bạn là người gọi thứ ___,” và đưa ra một con số nhỏ hơn bảy, chúng tôi sẽ ngắt máy ngay lập tức và lại gọi “#9” một lần nữa. Chúng tôi cứ lặp đi lặp lại hành động đó liên tục.
Lần thứ ba quay số nhanh, tôi nghe thấy giọng nói thông báo: “Bạn là người gọi thứ bảy!”
Tôi đã gào toáng lên trên điện thoại: “Tôi thắng rồi! Không thể nào, tôi đã thắng rồi ư? Các anh đang đùa à? Không thể tin được! Tôi chưa bao giờ thắng bất cứ thứ gì!” Tất cả chúng tôi đứng dậy và đập tay. Giải thưởng là 1.000 đô-la và chúng tôi đồng ý sẽ chia nhau. Mỗi khi bất kỳ ai trong chúng tôi thắng, chúng tôi sẽ bỏ tiền số thắng cuộc vào một chiếc lọ.
Sau bốn lần thắng đầu tiên, dù biết hệ thống đã hoạt động, nhưng chúng tôi còn phải đối mặt với một thử thách mới: Nhà đài có quy định rằng không ai có thể thắng cuộc thi quá một lần một năm. Chúng tôi bắt đầu đề nghị thỏa thuận với gia đình, bạn bè hay bất kỳ ai đủ tin tưởng: “Khi tấm séc được chuyển đến, cậu hãy giữ lại 400 đô-la cho mình và chuyển 600 đô-la cho chúng tôi.”
Trong ba hay bốn tháng sau đó, chúng tôi đã thắng cuộc thi khoảng 50 lần. Cuối cùng, chúng tôi chỉ chịu dừng lại khi không còn bạn bè nào nữa! Thật tiếc là Facebook lúc đó chưa tồn tại – chúng tôi sẽ có thêm rất nhiều bạn bè cùng đồng hành.
Cái hay của chuyện này là nó thậm chí không hề bất hợp pháp. Tôi đã xác nhận lại với luật sư rằng miễn là chúng tôi không tiếp cận bất hợp pháp thiết bị của công ty điện thoại hoặc dùng danh tính của bạn bè không xin phép, thì đây không phải là hành vi lừa đảo. Thậm chí, khi lần đầu lấy số POTS, tôi còn không tự nhận mình là nhân viên công ty điện thoại, tôi chỉ hỏi số và người phụ nữ đó đã đưa nó cho tôi.
Về mặt kỹ thuật, chúng tôi cũng tuân thủ luật của trò chơi. Đài radio có quy định rằng một người chỉ được thắng một lần một năm. Chúng tôi cũng tuân thủ điều đó. Chúng tôi chỉ đơn giản khai thác một kẽ hở. Chúng tôi chưa bao giờ vi phạm bất cứ quy định nào.
Một lần, tôi đã tự khiến mình ngạc nhiên khi thử vận may. Đài phát thanh đưa ra một số điện thoại để bạn có thể gọi đến chương trình. Tôi đã gọi từ phòng khách căn hộ của mẹ tôi tại Las Vegas và khi chương trình lên sóng, tôi gọi, không dám nghĩ mình có thể gọi đến đài kịp lúc để trở thành người gọi thứ bảy. Nhưng khi tôi nghe thấy những từ kỳ diệu kia, những lời chúc mừng... theo sau là câu hỏi của người phát thanh viên: “Anh tên là gì?”, tôi cứ ậm ừ cho đến khi nghĩ ra tên của một người bạn mà tôi chưa dùng tới. Tôi dùng tên anh ta và bao biện cho khoảnh khắc ngập ngừng bằng cách phun ra: “Tôi vui quá, nghẹn ngào tới mức không thể thốt ra tên của chính mình!”
Bốn người chúng tôi thu về gần 7.000 đô-la mỗi người trong cả phi vụ. Có lúc, khi tôi gặp Lewis ở một nhà hàng và đưa cho cậu ta phần của mình, tôi còn cầm nhiều tiền mặt đến mức tôi cảm giác như mình đang thanh toán một vụ buôn ma túy hay gì đó.
Tôi dùng phần lớn số tiền kiếm được để mua cho mình chiếc laptop tân tiến nhất đầu tiên, một chiếc Toshiba T4400SX có vi xử lý 486 với tốc độ ấn tượng vào thời điểm đó, 25 megahertz, nhanh đến nỗi chóng cả mặt. Tôi đã chi 6.000 đô-la. Và đó là giá bán buôn!
Thật buồn khi chúng tôi đã không còn ai có thể tin tưởng để hợp tác.
Một tối nọ, không lâu sau khi chúng tôi bắt đầu cuộc thi trên sóng phát thanh, khi tôi đang lái xe về lại căn hộ của cha thì một ý tưởng bỗng nảy ra trong đầu tôi, một kế hoạch có thể đem về cho tôi một chút không khí dễ chịu khi đang cố vạch ra chân tướng vụ bí ẩn về Eric HeinzMike MartinezJoseph WernleJoseph Ways.
Ý tưởng của tôi là để Lewis buột miệng mớm thông tin về tôi cho Eric. Cậu ta sẽ nói một số chuyện kiểu như: “Kevin đang nghĩ đến việc cộng tác với vài hacker ở châu Âu. Cậu ta chắc rằng việc đó sẽ khiến mình trở nên rất giàu có.”
Tôi nghĩ rằng: Bất cứ thông tin gì FBI biết về tôi sẽ chỉ nhỏ như hạt cát trên sa mạc khi đặt cạnh viễn cảnh bắt được tận tay tôi trong một cuộc hacking lớn, cướp đi hàng núi đô-la hay franc Thụy Sĩ hoặc mark Đức từ một tổ chức tài chính hay tập đoàn nào đó. Họ sẽ muốn giữ kỹ hồ sơ về tôi nhưng sẽ sẵn sàng nhẫn nại chờ đến khi tôi thực hiện phi vụ lớn này, với hy vọng sẽ xông vào, lấy lại tiền và bắt tôi diễu hành trong chiếc còng tay trước đám đông thèm muốn scandal và lũ truyền thông đói khát: FBI đang cứu nước Mỹ thoát khỏi tay một gã ác nhân.
Trong khi chờ dàn xếp vụ hack, tôi hy vọng lệnh quản chế của tôi sẽ hết hiệu lực. Đây có vẻ là một cách trì hoãn tuyệt vời và cho tôi thêm chút thời gian.
Luật sư của Lewis, David Roberts, không thể tìm ra bất cứ vấn đề gì với kế hoạch này. Lewis và tôi đã gặp và bàn chi tiết với ông ta vài lần. Việc Lewis nói dối không vi phạm bất kỳ luật nào, bởi cậu ta sẽ không trực tiếp nói chuyện với một cảnh sát liên bang.
Lệnh quản chế của tôi sẽ hết hiệu lực trong vài tháng tới. Khi Cục mất bình tĩnh vì chờ đợi vụ hack châu Âu của tôi xảy ra, thời gian hết hiệu lực đã trôi qua, họ sẽ để lỡ mất cơ hội tóm lấy và đưa tôi về lại nhà tù vì những vi phạm điều khoản trong điều kiện quản chế.
Họ có chịu đợi lâu đến thế không? Tôi chỉ có thể hy vọng. Vài ngày sau, Lewis báo lại rằng anh ta đã nhắc tới vụ hack quy mô lớn ở châu Âu của tôi với Eric và hắn đã ép anh ta cung cấp thêm thông tin. Lewis bảo hắn rằng vụ hack lớn đến mức tôi không hé lộ chút thông tin nào về nó.
Xuân qua hè tới, tôi bắt đầu cảm thấy mọi việc ở Los Angelino dần đi vào ổn định một lần nữa. Nhưng tôi cần lưu tâm đến việc sắp xếp cuộc sống. Ban đầu, việc chuyển về ở với cha khiến tôi có cảm giác đó như là cách bù đắp cho ngần ấy năm sống xa ông hơn 3.000km khi ông xây dựng gia đình mới. Tôi đã dùng phòng của Adam, một phần bởi cảm giác muốn giúp cha và ở bên ông trong quãng thời gian khó khăn sau cái chết của Adam, và bởi tôi hy vọng chúng tôi sẽ trở nên gần gũi hơn.
Nhưng mọi việc không suôn sẻ như tôi đã hy vọng, còn không gần được như vậy. Chúng tôi đã có vài quãng thời gian tốt đẹp bên nhau nhưng cũng có cả những khoảng thời gian khó khăn như khi tôi còn thơ ấu, khi mối quan hệ của chúng tôi hệt như một bãi chiến trường dày đặc bom mìn.
Tất cả chúng ta đều nhượng bộ khi ở bên những người khác. Dù nghe thật sáo rỗng, nhưng đúng là chúng ta không thể được chọn gia đình. Nhưng đâu đó vẫn có một lằn ranh giữa những thứ chúng ta chọn bỏ qua và chấp nhận, và những thứ khiến mỗi ngày trôi qua trở nên thật khó chịu. Những người phụ nữ đi qua đời tôi đều nhận ra rằng, bản thân tôi không phải là một người dễ sống cùng, vì vậy, tôi chắc lỗi không chỉ nằm ở một phía.
Cuối cùng, cũng đến thời điểm tôi không thể chịu được nữa, tôi thấy khó chịu bởi những lời than phiền thường xuyên của cha rằng tôi đã dành quá nhiều thời gian với điện thoại, nhưng còn khó chịu hơn bởi sự tôn sùng của ông dành cho sự chính xác. Tôi thích sống ở một nơi sạch sẽ và gọn gàng, nhưng với ông, đó lại là nỗi ám ảnh. Nếu bạn nhớ Felix, nhân vật trong phim The Odd Couple (tạm dịch: Cặp đôi lập dị), do Jack Lemmon đóng phiên bản điện ảnh và Tony Randall đóng phiên bản truyền hình, hẳn bạn sẽ nhớ ông ta là kẻ ám ảnh sạch sẽ tới mức ác cảm với những thứ lộn xộn dù là nhỏ nhất.
Felix chỉ là con mèo con so với cha tôi.
Một ví dụ để chứng minh cho điều này là khi cha tôi dùng thước đo để chắc chắn đống mắc treo quần áo trong tủ của ông cách nhau chính xác đến từng phân.
Phiền phức đó sẽ nhân lên gấp bội khi nó được áp dụng vào mọi chi tiết trong căn hộ ba phòng ngủ và bạn sẽ bắt đầu hiểu kiểu ác mộng mà tôi đã trải qua.
Mùa xuân năm 1992, tôi bỏ cuộc và quyết định chuyển ra ngoài. Tôi thấy hạnh phúc vì vẫn ở cùng khu căn hộ đó, đủ gần để đến thăm cha thường xuyên nhưng không quá gần khiến tôi bị ông kiểm soát thái quá. Tôi không muốn cha nghĩ tôi đang quay lưng lại với ông.
Tôi đã vô cùng choáng váng khi người phụ nữ ở văn phòng cho thuê bất động sản nói với tôi rằng đang có một danh sách đợi và tôi có thể sẽ phải mất tới vài tháng cho đến khi tìm được một căn hộ. May thay, tôi không mắc kẹt ở chỗ của cha: Mark Kasden ở Teltec đã đồng ý cho tôi dọn đến phòng ngủ dành cho khách của ông ta cho đến khi tìm được nhà.
Sau khi ổn định chỗ ở mới, tôi lao vào một dự án chống lại sự giám sát khác. Từ văn phòng của Dave Harrison, dùng laptop mới, tôi quyết định sẽ xem xem mình có thể thu thập được gì thông qua việc sử dụng SAS để nghe lén các cuộc điện thoại của quản lý Phòng An ninh Pacific Bell, John Venn. Thỉnh thoảng tôi lại nhảy vào đường dây của Venn. Thường thì tôi sẽ vớ phải một cuộc gọi đang diễn ra, cũng không có gì quá thú vị và tôi sẽ chỉ nghe một tai trong khi làm việc khác.
Nhưng vào một ngày mùa hè năm đó, tôi nhảy vào đường dây của Venn khi ông ta đang tiến hành một cuộc điện họp với vài đồng nghiệp. Nếu đây là một cảnh trong phim, hẳn bạn sẽ phải hét toáng lên bởi khả năng nó thực sự xảy ra nghe có vẻ thật xa vời. Nhưng nó đã thực sự xảy ra: Khi nghe thấy ai đó nhắc đến “Mitnick”, tôi lập tức dỏng tai lên nghe ngóng. Cuộc điện thoại thật say sưa, nhiều thông tin... và thật kích thích. Hóa ra mấy gã này vẫn không hiểu làm thế nào tôi có thể đánh bại tất cả hệ thống, đánh sập bẫy của họ và điều đó khiến họ phát cáu.
Họ nói về việc đặt bẫy tóm gọn tôi, có khả năng mang lại bằng chứng đanh thép chống lại tôi để giao tôi cho FBI. Họ đang băn khoăn tôi có thể sẽ làm gì tiếp theo, để chuẩn bị sẵn tận tay tóm tôi.
Ai đó gợi ý một kế hoạch hết sức ngu xuẩn. Tôi rất muốn nhảy vào cuộc hội thoại của họ và nói: “Tôi không nghĩ nó sẽ hiệu quả đâu. Tay Mitnick này khá thông minh đấy. Các anh chả bao giờ biết được đâu – hắn có thể đang nghe lén chúng ta ngay lúc này đấy!”
Đúng, tôi từng làm những việc khác cũng liều lĩnh và bất cẩn như vậy, nhưng lần này tôi đã kiềm chế được cơn ham muốn.
Mặt khác, tôi lại ít kiềm chế hơn khi làm những việc liều lĩnh nếu ai đó cần nhờ. Một ngày thứ Năm đầu tháng Sáu, khi không đến chỗ làm do vướng phải một số việc vặt cần làm, tôi nhận được một cuộc gọi điên rồ từ Mark Kasden: Armand Grant, người đứng đầu Teltec, vừa bị bắt. Con trai ông ta là Michael và Kasden đang cố đứng ra bảo lãnh, nhưng phía cảnh sát nói rằng, có thể phải chờ đến một ngày rưỡi sau khi nộp tiền bảo lãnh, Grant mới được thả ra ngoài.
Tôi nói: “Không thành vấn đề. Hãy cho tôi biết khi nào xong, bởi một khi ông ta được bảo lãnh, tôi sẽ đưa ông ta bước ra khỏi đó trong vòng 15 phút.”
Kasden nói: “Không thể nào.”
Vì biết nhân viên chấp pháp rất tôn trọng cấp bậc, tôi chỉ cần gọi đến một trại giam khác ở phía bắc Los Angeles – Wayside – và hỏi: “Chiều nay, trung úy nào trực ca ở đó?” Họ đưa cho tôi tên ông ta. Sau đó, tôi gọi đến Trại giam Trung tâm dành cho nam giới, nơi Grant đang bị giam giữ. Trước đó, tôi đã biết số nội bộ và gọi trực tiếp cho Phòng Ra lệnh bắt. Khi một phụ nữ nghe máy, tôi hỏi số máy lẻ của Phòng Tiếp nhận và Phóng thích. Với một người như tôi, trong tình huống như thế này, việc từng vào tù có rất nhiều lợi thế. Tôi nói với cô ta rằng tôi là Trung úy này nọ (sử dụng cái tên tôi vừa được cho) ở Wayside. “Cô có một tù nhân vừa được nộp tiền bảo lãnh. Anh ta là người đưa tin mật cho một vụ chỗ chúng tôi và tôi cần đưa anh ta ra ngay lập tức” và cung cấp tên của Grant.
Tiếng gõ phím máy tính vang lên qua điện thoại. “Chúng tôi vừa nhận được lệnh, nhưng chưa nhập vào.”
Tôi nói tôi muốn nói chuyện với viên hạ sĩ. Khi anh ta nhấc máy, tôi diễn lại vở cũ và nói rằng: “Hạ sĩ, anh có thể giúp tôi một việc cá nhân được không?”
“Vâng, thưa ngài,” anh ta nói. “Ngài cần gì?”
“Khi tiền bảo lãnh của người kia được nộp, anh có thể trực tiếp hướng dẫn anh ta các bước và đưa anh ta ra khỏi đó càng sớm càng tốt được không?”
Anh ta trả lời: “Không vấn đề gì, thưa ngài.”
20 phút sau, tôi nhận được cuộc gọi từ Michael Grant nói rằng cha anh ta đã ra ngoài.