Hãng luật tổ chức buổi tiệc Giáng sinh thường niên vào giữa tháng Mười hai. Tôi đến chỉ bởi không muốn mọi người nghi ngờ lý do vắng mặt của mình. Tôi gặm đống thức ăn thừa mứa nhưng tránh xa rượu, sợ mình sẽ nói hớ điều gì đó. Dù sao tôi cũng không phải là một người thích uống; những con số 0 và 1 mới là nguồn say của tôi.
Bất kỳ tên trộm có trình độ nào cũng đều nhòm ngó trước sau để chắc chắn đối thủ không theo kịp những nỗ lực mình. Trong suốt quãng thời gian đó, tôi đã dùng Colorado Supernet – suốt tám tháng, kể từ lần đầu đặt chân đến Denver – tôi luôn phải cảnh giác với những tay quản trị hệ thống trong thế giới ảo để chắc rằng họ không tóm được việc tôi đang dùng các máy chủ của họ như những tủ khóa lưu trữ miễn phí khổng lồ, một bệ phóng để vào các hệ thống khác. Việc này bao gồm giám sát họ trong giờ làm; đôi lúc tôi đăng nhập vào máy chủ đầu cuối họ dùng và giám sát các phiên làm việc trực tuyến của họ trong vài giờ hoặc tương tự. Và tôi cũng kiểm tra xem họ có đang theo dõi bất cứ tài khoản nào tôi đang sử dụng hay không.
Một đêm nọ, tôi quyết định sẽ nhắm vào máy trạm cá nhân của tay quản trị chính để xem gã có phát hiện ra bất cứ hoạt động nào của tôi hay không. Tôi tìm trong e-mail của gã các từ khóa có thể là dấu hiệu cho thấy gã để ý thấy bất kỳ vấn đề bảo mật nào đang diễn ra.
Tôi vô tình nhìn thấy một tin nhắn thu hút sự chú ý. Tay quản trị này đang gửi hồ sơ đăng nhập của tôi về vụ đột nhập ở Novell cho một ai đó. Vài tuần trước, tôi đã dùng một tài khoản tên là “rod” để nhét mã nguồn của NetWare lên một máy chủ tại Colorado Supernet. Rõ ràng, việc này không trót lọt và có người đã để ý đến nó.
Hồ sơ đăng nhập của “rod” trong khoảng thời gian đội an ninh ở Novell báo cáo về cuộc thâm nhập và các kết nối TỪ Novell trong thời điểm đó. Lưu ý rằng có vài lần đăng nhập bắt nguồn qua dial-up của Colorado Springs (719 575-0200).
Tôi bắt đầu điên cuồng duyệt qua những e-mail của tay quản trị viên này.
Và nó đây, ẩn hai đầu liên lạc: một e-mail tới từ quản trị viên sử dụng tài khoản từ tên miền cá nhân – “xorcom” – thay vì tài khoản Colorado Supernet của gã. Nó được gửi đến tài khoản của ai đó không dùng tên miền chính phủ nhưng dù sao, họ cũng đã nhận được ghi chép về hành động của tôi, bao gồm cả việc đăng nhập vào Colorado Supernet từ mạng của Novell và chuyển tập tin qua lại.
Tôi gọi đến văn phòng FBI ở Denver, đưa ra cái tên mà những e-mail kia đã gửi đến và được trả lời rằng không có đặc vụ FBI nào tên như vậy ở văn phòng Denver. Nhân viên trực tổng đài gợi ý tôi có thể thử gọi sang văn phòng Colorado Springs xem sao. Vậy là tôi gọi đến đó, chết tiệt, gã đó đúng là một đặc vụ FBI.
Ôi, điên mất!
Tôi phải che giấu thân phận. Và phải làm thật nhanh. Nhưng bằng cách nào đây?
Tôi phải thú nhận rằng kế hoạch tôi nghĩ ra có thể không tuyệt diệu hay bí mật đến mức đó, dù tôi biết mình sẽ phải rất, rất cẩn thận.
Tôi gửi một tập tin ghi chép giả từ tài khoản của tay quản trị viên đó đến cho gã đặc vụ FBI, bảo hắn rằng “chúng tôi” còn nhiều ghi chép chi tiết về hoạt động của tay hacker kia. Tôi hy vọng hắn sẽ điều tra và cuối cùng sẽ đi theo hướng do tôi ngụy tạo trong khi tôi vẫn tiếp tục tiến hành những dự án hacking khác của mình.
Tôi gọi chiến thuật này là “giương đông kích tây”.
Tuy biết FBI đang săn tìm tay hacker tại Novell, nhưng tôi vẫn không chịu dừng bước.
Do Art Nevarez đã nghi ngờ, nên tôi nghĩ Đội An ninh Novell sẽ lập một đội chuyên trách, cố tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra và có bao nhiêu mã nguồn bị lộ. Tôi thay đổi mục tiêu, nhắm đến các văn phòng của Novell ở San Jose và tìm các số dial-up ở California. Các cuộc gọi tấn công bằng kỹ thuật xã hội dẫn tôi đến gặp một người tên là Shawn Nunley.
“Chào, Shawn, tôi là Gabe Nault đến từ Đội Kỹ thuật ở Sandy. Tôi đang trên đường đến San Jose vào ngày mai và cần một số dial-up nội bộ để kết nối mạng,” tôi nói.
Sau một hồi qua lại, Shawn hỏi: “Được rồi, tên anh là gì?”
“g-n-a-u-l-t,” tôi đánh vần chậm rãi.
Anh ta cung cấp cho tôi số dial-up đến một máy chủ đầu cuối 3Com, 800-37-TCP-IP và nói: “Gabe, giúp tôi một việc. Hãy gọi vào số hộp thư thoại của tôi ở văn phòng và để lại lời nhắn với mật khẩu mà anh muốn.” Anh ta đưa số cho tôi và tôi để lại lời nhắn như hướng dẫn: “Xin chào, Shawn, tôi là Gabe Nault. Xin hãy đặt mật khẩu của tôi là “snowbird”. Cảm ơn anh lần nữa,” tôi nói.
Không đời nào tôi gọi số miễn cước 800-gì đó mà Shawn đã đưa: Khi bạn gọi một số miễn cước, số điện thoại bạn dùng để gọi đến sẽ tự động bị lưu lại. Thay vào đó, chiều hôm sau, tôi gọi tới Pacific Bell và dùng tấn công bằng kỹ thuật xã hội lấy được số POTS gán với số Shawn đã đưa tôi: 408 955-9515. Tôi kết nối với máy chủ đầu cuối 3Com và thử đăng nhập vào tài khoản gnault. Nó hoạt động rồi. Hoàn hảo!
Tôi bắt đầu dùng máy chủ đầu cuối 3Com như điểm truy cập vào mạng lưới. Khi nhớ ra Novell đã mua lại Phòng Nghiên cứu Hệ thống Unix từ AT&T, tôi dò theo mã nguồn UnixWare tìm thấy trên các máy chủ ở New Jersey nhiều năm trước. Trước đó, tôi đã đột nhập vào AT&T để lấy quyền truy cập đến mã nguồn SCCS (Switching Control Center System – Hệ thống Điều khiển Chuyển mạch Trung tâm) và từng có thời gian ngắn lọt vào được Nhóm Phát triển Unix của AT&T ở Cherry Hill, New Jersey. Giờ tôi cảm thấy việc này có chút giống ảo giác bởi tên máy chủ của hệ thống phát triển vẫn như trước. Tôi lấy nó, nén lại thành mã nguồn mới nhất và chuyển đến một hệ thống ở Provo, Utah, rồi lại chuyển gói dữ liệu khổng lồ này đến ổ khóa lưu trữ điện tử của tôi ở Colorado Supernet suốt cuối tuần. Thật khó tin khi chứng kiến dung lượng đĩa tôi đang sử dụng, tôi thường phải tìm thêm các tài khoản không hoạt động để giấu số dữ liệu của mình.
Một dịp nọ, tôi bỗng có cảm giác kỳ lạ sau khi kết nối vào máy chủ đầu cuối 3Com, như thể có ai đó đang đứng sau và theo dõi mọi thứ tôi gõ. Giác quan thứ sáu hay bản năng mách bảo tôi rằng những quản trị viên hệ thống ở Novell đang theo dõi mình. Tôi gõ:
Này, tôi biết là các anh đang theo dõi tôi, nhưng các anh sẽ không bao giờ bắt được tôi đâu!
(Sau này, tôi có dịp nói chuyện với Shawn Nunley ở Novell. Anh ấy kể lại rằng họ thực sự đang theo dõi tôi lúc đó rồi cả nhóm bỗng cười phá lên tự hỏi: “Thế quái nào hắn lại có thể biết được chuyện này nhỉ?”)
Dù sao thì, tôi vẫn tiếp tục hacking vào nhiều hệ thống nội bộ của Novell, nơi tôi đã cài cắm vô số công cụ để lấy cắp thông tin đăng nhập và nhìn trộm tình hình giao thông mạng để có thể mở rộng quyền truy cập thêm một chút vào các hệ thống Novell.
Vài ngày sau, tôi cảm thấy có chút khó chịu. Tôi gọi đến RCMAC ở Pacific Bell và nói với thư ký xử lý yêu cầu cho bộ chuyển mạch ở San Jose. Tôi nhờ cô ta truy vấn số dial-up trong bộ chuyển mạch và nói cho tôi biết chính xác tin nhắn đầu ra của bộ chuyển mạch. Nhờ vậy, tôi phát hiện ra bộ chuyển mạch đó có gắn kèm một thiết bị tóm-và-lần. Khốn nạn! Thiết bị này đã chạy được bao lâu rồi? Tôi gọi đến Trung tâm Điều khiển Chuyển mạch của khu vực đó, giả làm nhân viên Phòng An ninh Pacific Bell và được nối máy gặp người có thể tìm kiếm thông tin về thiết bị tóm-và-lần.
“Nó đã đi vào hoạt động từ ngày 22 tháng 1,” anh ta nói. Chỉ ba ngày trước. Oa – khỏi lo rồi! May thay, tôi chưa gọi nhiều trong thời gian đó; Pacific Bell có thể theo dấu các cuộc gọi của tôi nếu đó là cuộc gọi đường dài, nhưng không thể theo dấu các cuộc gọi về tận chỗ tôi.
Tôi thở phào nhẹ nhõm và quyết định để yên cho Novell. Mọi chuyện vẫn chưa đâu vào đâu.
Nhiều năm sau, tin nhắn thoại mà tôi từng để lại cho Shawn Nunley đã quay ngược lại cắn tôi. Shawn vì lý do nào đó đã lưu lại tin nhắn của tôi, và khi có người của Phòng An ninh Novell liên hệ, anh ta đã cho gã đó nghe. Người này sau đó đưa nó lại cho Đơn vị Phòng chống Tội phạm Công nghệ Cao San Jose. Cảnh sát không thể liên hệ giọng tôi với một nghi phạm cụ thể nào. Nhưng vài tháng sau, họ gửi chiếc đĩa đến cho FBI ở Los Angeles để xem FBI có tìm hiểu được gì không. Chiếc đĩa cuối cùng cũng tìm được đường đến bàn của Đặc vụ Kathleen Carson. Cô ta cho nó vào máy chạy đĩa trên bàn, ấn nút Chạy, lắng nghe và ngay lập tức nhận ra: Đó là Kevin Mitnick, hacker mà chúng tôi đang tìm kiếm!
Kathleen gọi cho Phòng An ninh Novell và nói: Tôi có vài tin tốt và vài tin xấu. Tin tốt là chúng tôi biết danh tính hacker các anh đang tìm – đó là Kevin Mitnick. Tin xấu là, chúng tôi không có cách nào tìm ra hắn.”
Mãi sau này, tôi gặp lại Shawn Nunley và chúng tôi trở thành bạn tốt. Tôi vui vì giờ đây chúng tôi có thể cùng cười đùa về toàn bộ chuyện này.
Bỏ lại sau lưng việc hack vào Novell, tôi quyết định sẽ nhắm vào một trong những nhà sản xuất điện thoại lớn nhất thế giới, Nokia.
Tôi gọi tới công ty Nokia Mobile Phones ở Salo, Phần Lan, đóng giả là một kỹ sư từ Nokia Mỹ tại San Diego. Cuối cùng, tôi được nối máy gặp một quý ông tên là Tapio. Ông ấy có vẻ rất lương thiện, điều đó khiến tôi cảm thấy khá tồi tệ khi phải dùng đòn tấn công bằng kỹ thuật xã hội với ông ấy. Nhưng tôi vẫn gạt bỏ tất cả cảm xúc đó sang một bên và nói với ông ấy rằng tôi cần bản phát hành mã nguồn hiện tại của điện thoại Nokia 121. Ông ấy trích phiên bản mới nhất ra từ một thư mục tạm trong tài khoản của mình. Sau đó, tôi nhờ ông ấy chuyển nó (thông qua FTP) đến Colorado Supernet. Cuối cuộc gọi, ông ấy vẫn không mảy may nghi ngờ điều gì và thậm chí còn đề nghị tôi gọi lại nếu cần giúp gì khác.
Việc này diễn ra quá êm xuôi tới mức tôi cân nhắc đến việc lấy quyền truy cập trực tiếp vào mạng lưới của Nokia ở Salo. Tôi gặp vấn đề khi thực hiện cuộc gọi đến nhân viên IT ở đó vì tiếng Anh của anh ta hóa ra không được tốt lắm. Có lẽ cơ sở Nokia ở một nước nói tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn. Tôi tìm được một văn phòng của Nokia Mobile Phones tại thị trấn Camberly ở Anh và gặp được một phụ nữ ở bộ phận IT tên là Sarah, với giọng Anh đặc sệt rất quyến rũ nhưng lại dùng quá nhiều từ lóng lạ tai khiến tôi phải tập trung và chú ý từng chi tiết một.
Tôi viện ra lý do thường dùng “gặp vấn đề với kết nối mạng giữa Phần Lan và Mỹ, trong khi có một tập tin quan trọng phải chuyển đi.” Cô ấy nói công ty không có kết nối dial-up trực tiếp nhưng cô ấy có thể cho tôi số dial-up và mật khẩu cho “Dial Plus”, nó sẽ giúp tôi kết nối đến hệ thống VMS ở Camberley thông qua mạng chuyển mạch packet X25. Cô ấy cung cấp địa chỉ thuê bao X25 – 234222300195 – bảo rằng tôi sẽ cần một tài khoản trên VAX và cô ấy sẽ thiết lập nó cho tôi.
Lúc này, tôi đang ở trong trạng thái phấn khích tột độ, bởi tôi khá chắc mình có thể đạt được mục tiêu “Mobira”, một trong các hệ thống VMS do Nhóm Kỹ thuật Di động của Nokia sử dụng. Tôi đăng nhập vào tài khoản và nhanh chóng khai thác lỗ hổng sẽ mang lại cho tôi toàn quyền ưu tiên hệ thống, sau đó gõ lệnh “show users” để liệt kê tất cả người dùng đang đăng nhập, danh sách đó trông như thế này:

Sarah chưa đăng nhập vào tài khoản này. Tuyệt vời, như vậy có nghĩa là cô ấy không để tâm nhiều đến những gì tôi đang làm trên hệ thống.
Sau đó, tôi cài đặt biến thể của bản vá lỗi Chaos Computer Club của mình vào chương trình VMS Loginout, nó cho phép tôi có thể đăng nhập vào tài khoản của bất kỳ ai với một mật khẩu đặc biệt. Việc đầu tiên tôi làm là kiểm tra tài khoản của Sarah xem cô ấy có quyền truy cập vào Mobira ở Salo không. Tôi chạy một bài kiểm tra đơn giản và nhận ra tôi đã có quyền truy cập vào tài khoản của cô ấy thông qua một giao thức mạng có tên là DECNET, tôi thậm chí còn không cần mật khẩu của cô ấy: Mobira được thiết lập để tin tưởng vào hệ thống VMS ở Anh. Tôi chỉ cần tải lên một chương trình nhỏ để chạy các lệnh của tôi bằng tài khoản của Sarah.
Tôi sẽ vào được! Tôi thấy mình như trên mây.
Tôi dùng một lỗi bảo mật để giành toàn quyền ưu tiên hệ thống rồi tạo tài khoản toàn quyền ưu tiên cho mình – tất cả những việc này chỉ mất khoảng năm phút. Trong khoảng một giờ, tôi đã có thể tìm được một chương trình nhỏ cho phép tôi trích xuất mã nguồn của bất kỳ chiếc điện thoại Nokia nào đang được phát triển. Tôi chuyển mã nguồn của vài phiên bản firmware khác nhau được phát hành cho Nokia 101 và Nokia 121 đến Colorado Supernet. Sau đó, tôi quyết định xem các quản trị viên cảnh giác với vấn đề bảo mật đến mức nào. Hóa ra, họ có quy trình kiểm định bảo mật được kích hoạt cho những việc như tạo tài khoản hay thêm quyền cho tài khoản đã có. Đó đơn giản chỉ là một gờ giảm tốc nữa trên con đường chiếm được mã nguồn của tôi.
Tôi tải lên một chương trình Macro VAX nhỏ đánh lừa hệ điều hành và cho phép tôi tắt mọi báo động an ninh mà không bị phát hiện, vừa đủ lâu để đổi mật khẩu và thêm quyền ưu tiên vào một vài tài khoản đã lâu không hoạt động – chúng có thể thuộc về những nhân viên bị hủy hợp đồng – trong trường hợp tôi cần quay lại.
Tuy nhiên, rõ ràng là một trong số các quản trị viên hệ thống đã để ý thấy các báo động được kích hoạt khi lần đầu tôi tạo tài khoản cho mình trước khi tắt cảnh báo. Vì vậy, trong lần đăng nhập tiếp theo thử vào hệ thống VMS Camberkey, tôi thấy mình đã bị khóa ở ngoài. Tôi gọi cho Sarah để dò hỏi về việc này. Cô ấy bảo tôi: “Hannu đã vô hiệu hóa truy cập từ xa do có mấy vụ hackering đang diễn ra.”
“Hackering” – đây là cách người Anh gọi nó à?
Vào ga chuyển số, tôi quyết định nhắm đến việc lấy bản sao mã nguồn của một sản phẩm được gọi tên trong nội bộ là “HD760”: Chiếc điện thoại kỹ thuật số đầu tiên của Nokia hiện đang được phát triển. Tiếp cận lập trình viên trưởng, Markku, ở Oulu, Phần Lan, tôi đã thuyết phục được ông ta trích xuất và nén bản mã nguồn mới nhất gửi cho mình.
Tôi muốn ông ta chuyển nó thông qua kết nối FTP đến một máy chủ ở Mỹ, nhưng Nokia đã chặn các kết nối truyền tập tin ra ngoài sau vụ đột nhập Mobira.
Thế cho vào đĩa thì sao? Markku không có ổ đĩa. Tôi bắt đầu gọi đến những người khác ở Oulu, tìm kiếm ổ đĩa. Cuối cùng, tôi xác định được một người ở bộ phận IT có vẻ rất thân thiện, có khiếu hài hước và quan trọng hơn là có một ổ đĩa. Tôi nhờ Markku gửi cho anh ta một gói tập tin có chứa mã nguồn tôi muốn và thuyết phục anh ta chuyển chiếc đĩa, sau khi đã sao chép mã nguồn vào đó, đến văn phòng Nokia Mỹ ở Largo, Florida. Việc này tốn rất nhiều công sắp xếp, nhưng cuối cùng tôi đã móc nối mọi thứ thành công.
Canh thời gian gói hàng đến nơi, tôi bắt đầu gọi đến phòng bưu chính ở Largo để xem họ có nhận được gì không. Trong cuộc gọi gần đây nhất, họ bắt tôi chờ máy khá lâu. Khi người phụ nữ quay lại nhấc máy, cô ta xin lỗi và nói rằng văn phòng đang chuyển địa điểm, cô ta sẽ phải “tìm kỹ” lại bưu phẩm của tôi. Phải, chính xác thì linh cảm mách bảo tôi rằng họ đang nghi ngờ tôi.
Vài ngày sau, tôi nhờ tới sự trợ giúp của Lewis De Payne, người rất hứng thú với ý tưởng lấy mã nguồn của chiếc điện thoại đang nổi tiếng đó. Cậu ta đã nghiên cứu qua và tìm hiểu được rằng Chủ tịch Nokia Mỹ là một người tên là Kari-Pekka (“K-P”) Wilska. Vì một vài lý do ngớ ngẩn đáng xấu hổ, Lewis quyết định đóng giả làm Wilska, một người Phần Lan và gọi đến văn phòng Largo để yêu cầu chuyển gói hàng đi.
Mãi sau này chúng tôi mới biết được rằng các đặc vụ của FBI đã được cảnh báo và đến văn phòng Largo, nơi họ đã chuẩn bị để ghi âm lại cuộc gọi đến tiếp theo của bất kỳ ai trong hai bọn tôi.
Lewis giả danh là Wilska gọi đến đó. Cậu ta xác nhận gói hàng đã tới và yêu cầu chuyển nó đến Ramada Inn gần văn phòng mình. Tôi gọi đến khách sạn đặt phòng cho Wilska, biết rằng lễ tân sẽ giữ gói hàng gửi cho khách đặt phòng đang tới.
Chiều hôm sau, tôi gọi đến khách sạn để chắc rằng gói hàng đã sẵn sàng chờ lấy. Người phụ nữ mà tôi nói chuyện nghe có vẻ không thoải mái và bắt tôi chờ máy nhưng rồi lại quay sang nói vâng, gói hàng đã ở đây. Tôi hỏi cô ta nó to bằng nào. Cô ta nói: “Họ để nó ở quầy lễ tân, để tôi ra xem đã.”
Cô ta lại cho tôi chờ máy và đi một lúc lâu. Tôi bắt đầu bồn chồn, có chút hoảng sợ. Đây là một báo động to đùng.
Cuối cùng, cô ta trở lại nghe máy và mô tả kích cỡ gói hàng, nghe có vẻ khá phù hợp với một chiếc đĩa máy tính.
Nhưng giờ tôi lại cảm thấy thực sự khó chịu. Liệu quầy lễ tân có thực sự có gói hàng không, hay đây chỉ là một màn dàn dựng, một cái bẫy? Tôi hỏi: “Gói hàng được chuyển đến bằng FedEx hay UPS vậy?” Cô ta nói sẽ xem và lại bắt tôi chờ máy. Ba phút. Năm phút. Khoảng tám phút trôi qua trước khi tôi nghe thấy giọng cô ta nói với tôi lần nữa: “Là FedEx.”
“Được rồi,” tôi nói. “Cô có gói hàng ngay trước mặt mình không?”
“Tôi có.”
“Được rồi, hãy đọc số tracking cho tôi.”
Thay vào đó, cô ta lại bắt tôi chờ máy thêm lần nữa.
Tôi không cần phải là nhà khoa học siêu việt để phát hiện ra có gì đó không ổn ở đây.
Đắn đo chừng nửa tiếng, tôi tự hỏi mình nên làm gì. Tất nhiên, lựa chọn hợp lý duy nhất là quay lưng bước đi và quên đi toàn bộ câu chuyện.
Nhưng tôi đã trải qua quá nhiều khó khăn để lấy được mã nguồn này, tôi thực sự muốn có nó. “Hợp lý” hay không đã không còn nằm trong tính toán.
Sau nửa tiếng, tôi gọi đến khách sạn lần nữa và xin nói chuyện với quản lý đang trực.
Khi anh ta nhấc máy, tôi nói: “Tôi là đặc vụ Wilson ở FBI. Anh có biết tình hình trong khách sạn không?” Tôi mong anh ta trả lời rằng anh ta không hiểu tôi đang nói về điều gì.
Thay vào đó, anh ta lại trả lời: “Tất nhiên tôi biết! Cảnh sát đã cho giám sát cả tòa nhà rồi!”
Những lời của anh ta như cả tấn gạch nện vào người tôi.
Anh ta bảo tôi rằng một sĩ quan vừa vào văn phòng của anh ta và tôi nên nói chuyện với viên sĩ quan đó.
Viên sĩ quan nhấc máy. Lấy giọng ra vẻ quyền chức, tôi hỏi tên anh ta. Anh ta trả lời tôi.
Tôi nói mình là đặc vụ Jim Wilson ở Đội Tội phạm Cổ cồn Trắng. “Chuyện gì đang xảy ra dưới đó vậy?” tôi hỏi. Viên sĩ quan nói: “Mấy gã của chúng ta vẫn chưa đến.” Tôi nói: “Được rồi, cảm ơn vì đã cho tôi biết tình hình” và gác máy.
Đúng là suýt chết.
Tôi gọi cho Lewis. Cậu ta vừa bước chân ra khỏi cửa để đi lấy gói hàng. Tôi hét vào điện thoại: “Khoan đã! Là bẫy đấy.”
Nhưng tôi không thể để gói hàng ở đó. Tôi gọi đến một khách sạn khác và đặt phòng cho K-P Wilska, rồi gọi lại cho người phụ nữ ở Ramada Inn và bảo với cô ta: “Tôi cần cô chuyển lại gói hàng đến một khách sạn khác. Kế hoạch của tôi vừa có chút thay đổi và tôi sẽ ở đó tối nay để kịp cuộc họp sáng sớm mai.” Tôi đưa cô ta tên và địa chỉ khách sạn mới.
Tôi đoán tôi có thể cũng nên để FBI theo đuổi một đầu mối giả khác trong một thời gian.
Khi nhìn thấy quảng cáo cho chiếc điện thoại di động mới nhất của NEC, tôi không quan tâm quá nhiều đến bản thân chiếc điện thoại; tôi chỉ biết rằng mình phải có được mã nguồn. Việc tôi lấy được mã nguồn của nhiều chiếc điện thoại đang sốt khác không phải là vấn đề: Đây sẽ là chiến tích tiếp theo của tôi.
Tôi biết rằng NEC, một công ty con của NEC Electronics, có một tài khoản của nhà cung cấp dịch vụ Internet Netcom. ISP này đã trở thành một trong những tuyến chính của tôi để truy cập vào Internet, một phần bởi họ sẵn tiện cung cấp tất cả các số dial-up cho gần như mọi thành phố lớn.
Tôi gọi đến trụ sở NEC của Mỹ tại Irving, Texas và được biết rằng công ty đang phát triển tất cả phần mềm điện thoại di động tại Fukuoka, Nhật Bản. Chỉ bằng vài cuộc gọi đến NEC Fukuoka, tôi đã tiếp cận được Ban Radio Di động, nơi người trực điện thoại đã tìm được một người nói tiếng Anh để phiên dịch cho tôi. Đây luôn là một lợi thế, bởi người phiên dịch sẽ cung cấp tính xác thực: Cô ta có thể ở ngay trong cùng tòa nhà, nói cùng ngôn ngữ với mục tiêu của bạn. Người ở cuối chuỗi này sẽ có xu hướng tin tưởng bạn là người đã được xét duyệt rồi. Và trong trường hợp này, mức độ tin cậy rất cao trong văn hóa Nhật Bản cũng góp phần tạo nên sự tin tưởng đó.
Người phiên dịch tìm được một người có thể giúp tôi, người mà cô giới thiệu là một trong những kỹ sư phần mềm đứng đầu nhóm. Tôi bảo cô ấy hãy nói với anh ta: “Đây là Ban Radio Di động ở Irving, Texas. Chúng tôi đang gặp khủng hoảng ở đây. Chúng tôi vướng phải một tai nạn khủng khiếp có liên quan đến việc hư hỏng ổ cứng và làm mất phiên bản mã nguồn mới nhất cho một vài chiếc điện thoại di động.”
Câu trả lời của anh ta là: “Tại sao các anh không lấy nó trên mrdbolt?”
Hừmmm. Nó là cái gì vậy?
Tôi thử nói: “Chúng tôi không thể truy cập máy chủ do sự cố đó.” Tôi đã vượt qua bài kiểm tra – “mrdbolt” rõ ràng là tên máy chủ của nhóm phần mềm này.
Tôi nhờ kỹ sư FTP nó đến tài khoản NEC Electronics trên Netcom. Nhưng tôi lại gặp phản ứng bởi việc đó đồng nghĩa với việc gửi dữ liệu nhạy cảm đến một hệ thống bên ngoài công ty.
Giờ phải làm sao đây? Để kiếm thêm thời gian, tôi nói với phiên dịch viên rằng tôi phải nghe một cuộc điện thoại và sẽ gọi lại sau ít phút.
Đầu tôi nảy số, dựng lên một giải pháp nghe có vẻ ổn hơn: Tôi sẽ nhờ Bộ phận Chuyển giao của NEC, phân nhóm sản xuất ô tô của công ty, làm trung gian, nơi nhân viên có lẽ không phải làm việc nhiều với những thông tin nhạy cảm, tuyệt mật của công ty và vì vậy, họ sẽ ít để tâm đến an ninh hơn. Ngoài ra, tôi thậm chí sẽ không hỏi thêm thông tin gì nữa.
Tôi nói với người tôi gặp ở Nhóm Sản xuất ô tô: “Chúng tôi đang gặp trục trặc về đường mạng giữa NEC Nhật Bản và Texas.” Tôi nhờ anh ta thiết lập một tài khoản tạm thời để tôi có thể FTP một tập tin về chỗ anh ta. Anh ta không thấy việc này có vấn đề gì. Trong khi tôi đợi điện thoại, anh ta đã thiết lập một tài khoản và cho tôi tên máy chủ của NEC, cũng như thông tin đăng nhập.
Tôi gọi lại cho bên Nhật Bản và cung cấp thông tin này để phiên dịch viên truyền đạt lại. Giờ thì họ sẽ chuyển mã nguồn đến một cơ sở NEC khác, dù việc này có vẻ hơi miễn cưỡng với họ. Họ mất khoảng năm phút để hoàn tất việc chuyển tập tin. Khi tôi gọi lại cho người ở Bộ phận Chuyển giao, anh ta xác nhận tập tin đã được chuyển đến. Do cách tôi thiết lập, anh ta mặc nhiên cho rằng tôi đã gửi nó. Tôi đưa anh ta hướng dẫn để FTP tập tin đến tài khoản NEC Electronics tại Netcom.
Sau đó, tôi truy cập vào Netcom và chuyển mã nguồn về một trong những máy chủ tại USC mà tôi đang dùng làm tủ khóa.
Vụ hack này quả là một mẻ lớn, nhưng với tôi, nó lại quá dễ dàng. Tôi vẫn chưa thấy được thỏa mãn.
Vì vậy sau đó, tôi đặt mình vào một thử thách còn lớn hơn: đột nhập vào mạng của NEC và tải về mã nguồn của tất cả các điện thoại NEC tại Mỹ. Trong lúc làm việc đó, có lẽ tôi cũng nên thiết lập ở cả Anh và Úc nữa, đề phòng một ngày nào đó, tôi lại quyết định thử sống ở một trong các quốc gia đó thì sao?
Matt Ranney, nhân viên ở NEC Dallas, đã tạo sẵn một tài khoản dial-in cho tôi dựa trên câu chuyện về chuyến ghé thăm ngắn ngày của tôi tại cơ sở NEC ở San Jose, California cùng với nhu cầu kết nối nội bộ – dù lúc đầu tôi đã phải thuyết phục cả sếp của anh ta. Một khi đã đăng nhập thành công, tôi rất dễ lấy được quyền root thông qua một trong những lỗ hổng mà tôi tìm được từ cuộc hacking lần trước vào Sun. Thêm một cửa hậu vào chương trình log-in, tôi tự tạo cho mình một mật khẩu bí mật – “.hackman.” – cho phép tôi đăng nhập vào tài khoản của bất kỳ ai, kể cả root. Sử dụng một công cụ khác từ những mẹo mực hacking của mình, tôi “sửa checksum[1]”, để phiên bản đã bị cài cửa hậu của phần mềm log-in ít có khả năng bị phát hiện hơn.
77Checksum (từ viết tắt của SUMmation CHECK). Trong truyền thông dữ liệu, đây là một phương pháp kiểm lỗi, trong đó số bit trong một đơn vị dữ liệu được cộng lại và truyền đi cùng với dữ liệu. Sau đó máy tính thu nhận sẽ kiểm tra lại tổng số này. Nếu tổng số này bị sai, thì có thể có một lỗi đã xuất hiện trong quá trình truyền. (BTV)
Vào thời đó, quản trị viên hệ thống sẽ phải thực hiện checksum trên một chương trình hệ thống, ví dụ như “log-in”, để xem nó có bị thay đổi hay không. Sau khi dịch xong một phiên bản mới của log-in, tôi sửa lại checksum về giá trị ban đầu, nhờ vậy, ngay cả khi phần mềm đã bị cài cửa hậu, mọi bài kiểm tra trả về đều không thể tìm thấy kết quả những gì tôi đã làm.
Lệnh “finger” của Unix cho tôi biết tên người dùng đang đăng nhập vào mrdbolt. Một trong số họ là Jeff Lankford; danh sách cho tôi biết số điện thoại văn phòng của ông ta và ông ta vừa gõ lệnh trên bàn phím hai phút trước.
Tôi gọi cho Jeff, giả là “Rob ở bộ phận IT” và hỏi: “Bill Puknat có đó không?” tôi đưa tên của một kỹ sư khác trong Ban Radio Di động. Bill không có ở đó.
“Ôi, chết thật. Anh ấy vừa gọi cho chúng tôi yêu cầu trợ giúp, nói rằng mình không thể tạo được các tập tin bắt đầu bằng một dấu chấm. Các anh có gặp phải vấn đề đó không?”
Không.
“Các anh có tập tin .rhosts không?”
“Nó là cái gì vậy?”
À, nghe thật êm tai, giống như một người trong đoàn diễu hành phệt một vết phấn lên lưng áo của ai đó để những người diễu hành khác biết nạn nhân là một gã khờ, hay một “dấu” (mark) (người dễ bị lợi dụng, đây là nguồn gốc của nghĩa này).
“Ồ, được rồi,” tôi nói. “Anh có thể dành ra vài phút chạy bài kiểm tra để tôi có thể chốt phiếu trợ giúp[2] này không?”
“Tất nhiên.”
Tôi bảo ông ta gõ:
echo “+ +” >~ .rhosts
Đúng, một dạng hack .rhosts. Tôi giải thích hợp lý cho ông ta từng bước một, rất chậm rãi, để ông ta nghĩ ông ta hiểu chuyện gì đang diễn ra.
Sau đó, tôi nhờ ông ta gõ “ls -al” để lấy thư mục chứa toàn bộ tập tin của ông ta.
Trong lúc thư mục của ông ta hiện trên màn hình máy trạm, tôi gõ:
rlogin lankforj@mrdbolt
để đăng nhập vào tài khoản của ông ta, “lankforj”, trên máy chủ mrdbolt.
Và tôi đã vào được tài khoản của ông ta mà không cần mật khẩu.
Tôi hỏi Jeff có thấy tập tin .rhosts chúng tôi vừa tạo không và ông ta xác nhận có thấy. “Tuyệt vời,” tôi nói. “Giờ tôi có thể chốt phiếu trợ giúp này rồi. Cảm ơn đã dành thời gian kiểm tra nó.”
Rồi tôi nhờ ông ta xóa tập tin đó đi để khiến mọi thứ trở về như trạng thái ban đầu.
Tôi thấy rất phấn khích. Ngay khi ngắt máy, tôi nhanh chóng chiếm quyền root và cài đặt cửa hậu log-in lên máy chủ mrdbolt. Tôi bắt đầu gõ với tốc độ siêu nhanh, sự phấn khích khiến tôi không thể ngừng tay lại.
Phán đoán của tôi là chính xác: mrdbolt là đường dẫn chính, kết nối dùng để chia sẻ công việc phát triển giữa Ban Radio Di động, NEC Mỹ và NEC Nhật Bản. Tôi tìm thấy nhiều phiên bản mã nguồn cho nhiều mẫu điện thoại di động NEC khác nhau. Nhưng mã nguồn tôi thực sự muốn, cho NEC P7, lại không có trên mạng. Chết tiệt! Tất cả nỗ lực đó của tôi vẫn chưa được trả công.
Vì đã ở sẵn trên mạng nội bộ của họ, nên tôi có thể lấy mã nguồn từ NEC Nhật Bản. Vài tuần sau, tôi lấy thêm được quyền truy cập đến tất cả máy chủ do Ban Radio Di động ở Yokohama sử dụng mà không gặp mấy khó khăn.
Tôi tiếp tục tìm kiếm mã nguồn cho chiếc điện thoại đó nhưng lại phát hiện ra có quá nhiều thông tin dư thừa: Công ty đang phát triển điện thoại cho một số thị trường khác nhau, bao gồm Anh, các quốc gia châu Âu khác và Úc. Vậy là quá đủ; đã đến lúc tôi tìm ra một cách tiếp cận đơn giản hơn.
Tôi kiểm tra máy chủ mrdbolt để xem ai đã đăng nhập vào đó. Jeff Lankford có vẻ như rất thích thú với việc này: Ông ta ở trên mạng rất muộn sau khi đã hết ngày làm việc bình thường.
Theo kế hoạch đã vạch sẵn trong đầu, tôi cần sự riêng tư. Darren và Liz đã rời sở, Ginger chuyển ca, nên cô ta vẫn ngồi loanh quanh, nhưng văn phòng của cô ta ở phía đối diện phòng máy tính. Tôi khép hờ cửa vào chỗ tôi ngồi cùng các đồng nghiệp, chỉ để lại khe hở đủ để nhìn xem có ai đến không.
Những gì tôi sắp làm rất liều lĩnh. Dù không phải là Rich Bé bỏng khi nói đến việc giả ngữ điệu, nhưng tôi đang chuẩn bị đóng giả là Takada-san, đến từ Ban Radio Di động của NEC Nhật Bản.
Tôi gọi đến số máy bàn của Lankford. Khi ông ta nhấc máy, tôi bắt đầu màn diễn:
“Ôngggg, ahhhh, Lahngfor, tôi Takada-san... đến từ Nhật Bản.” Ông ta biết cái tên này và hỏi mình có thể giúp gì.
“Ông ggg Lahng...for – chúng tôi tìm thấy không, ahhhh, phiên ba khônggggg năm cho hotdog dự án” – sử dụng tên mã tôi tìm thấy cho mã nguồn NEC P7. “Ông có thể, ahhh, cho lên mrdbolt?”
Ông ta đảm bảo với tôi rằng ông ta có phiên bản 3.05 trên đĩa mềm và có thể tải nó lên.
“Ahhh, cảm ơn ... ahhh, cảm ơn, ông Jeff ... tôi sẽ kiểm tra mrdbolt sớm. Tạm biệt.”
Ngay khi tôi vừa rũ bỏ ngữ điệu rõ ràng là không quá tệ của mình, cánh cửa bật mở và Ginger đang đứng đó.
“Eric... anh đang làm gì vậy?” cô ta hỏi.
Không đúng lúc chút nào.
“À, chỉ chơi khăm một anh bạn của tôi thôi,” tôi trả lời.
Cô ta nhìn tôi với vẻ kỳ lạ, rồi quay lưng bỏ đi.
Oa! Suýt chết!
Tôi đăng nhập vào mrdbolt và đợi Jeff tải xong mã nguồn, rồi lập tức chuyển nó đến một hệ thống ở USC để lưu trữ.
Trong suốt thời gian đó, tôi luôn tìm trong tất cả e-mail của quản trị viên ở NEC các từ khóa như: FBI, theo dấu, hacker, gregg (tên tôi đang dùng), bẫy và bảo mật.
Một ngày, tôi đọc được một tin nhắn khiến tôi nổi da gà toàn thân:
FBI gọi đến vì mã nguồn xuất hiện tại nơi họ đang theo dõi tại Los Angeles. Ngày 10 tháng 5, các tập tin này được FTP từ netcom7 đến một nơi tại Los Angeles. 5 tập tin, chứa khoảng 1 meg dữ liệu. 1210-29.lzh p74428.lzh v3625drlzh v3625usslzh v4428usscr. Kathlenn gọi Bill Puknat.
Puknat – người tôi đã dùng tên trong cuộc gọi đầu tiên với Jeff Lankford – kỹ sư phần mềm đứng đầu Ban Radio Di động tại Mỹ. “Kathleen” chắc chắn là Kathleen Carson, đến từ FBI Los Angeles. Và “nơi họ đang theo dõi tại Los Angeles” chắc chắn có nghĩa là FBI đang theo dõi các hệ thống tôi đang lưu trữ tập tin của NEC: USC. Họ đã theo dõi hầu hết hoặc tất cả các hoạt động chuyển tập tin của tôi đến USC.
Khốn kiếp!
Tôi cần phải tìm hiểu xem tôi đã bị theo dõi như thế nào và việc này đã diễn ra trong bao lâu.
* * *
Xem xét hệ thống đang dùng tại USC, tôi phát hiện ra một chương trình theo dõi được sử dụng để bí mật giám sát các hoạt động của tôi và thậm chí còn có thể xác định được quản trị viên hệ thống USC đã cài đặt nó – một người tên là Asbed Bedrossian. Núi cao còn có núi cao hơn, tôi tìm ra máy chủ nơi gã này và các quản trị viên USC khác nhận e-mail – soluscedu – để lấy quyền root và thử tìm từ khóa FBI trong mail của Asbel. Tôi đọc được những dòng này:
Chú ý! Chúng ta gặp phải vấn đề về bảo mật. Chúng ta có hai tài khoản do FBI và quản trị viên hệ thống ASBED theo dõi. Các tài khoản này đã bị chiếm đoạt. Nếu anh nhận được cuộc gọi từ ASBED, hãy cộng tác bằng cách chụp lại và sao chép tập tin. Cảm ơn!
Mấy gã đó tìm ra một tài khoản của tôi đã đủ tệ rồi; giờ tôi còn biết họ đã tìm ra cả cái thứ hai. Tôi lo lắng nhưng đồng thời cũng tức giận vì đã không phát hiện ra việc bị giám sát sớm hơn.
Tôi đoán ASBED hẳn đã phát hiện ra một lượng lớn dung lượng trong ổ cứng đã bị chiếm dụng mà không rõ lý do. Chỉ cần liếc qua, anh ta sẽ ngay lập tức nhận ra có tay hacker nào đó đang lưu trữ phần mềm ăn cắp trên hệ thống. Vì từng chiếm dụng nhiều hệ thống USC để lưu trữ mã nguồn trong lần hack DEC hồi năm 1988, nên tôi cho rằng mình sẽ đứng đầu danh sách nghi phạm.
Sau này, tôi biết được rằng FBI đã xem qua các tập tin và gọi cho các công ty để cảnh báo rằng mã nguồn độc quyền của họ đã bị đánh cắp khỏi hệ thống và đang nằm trên máy chủ tại USC.
Jonathan Littman đã viết cuốn sách The Fugitive Game (tạm dịch: Trò chơi lẩn trốn) kể về cuộc gặp diễn ra hồi đầu năm 1994 tại văn phòng FBI ở Los Angeles do ủy viên công tố David Schindler triệu tập. Tham dự buổi gặp là các nhà đại điện “xấu hổ và tràn đầy cảnh giác” đến từ các công ty sản xuất điện thoại di động lớn mà tôi từng hack. Không ai muốn người khác biết công ty mình là nạn nhân của một vụ hack – ngay cả trong căn phòng chỉ toàn là nạn nhân này. Littman kể Schindler bảo với ông ấy rằng: “Tôi phải dùng đến tên giả. Ông này đến từ công ty A, ông kia đến từ công ty B. Họ sẽ không làm gì đâu.”
“Mọi người đều nghi ngờ Mitnick,” Littman viết, không quên kể thêm rằng Schindler đã hỏi to: “Mục đích của việc lấy tất cả chỗ mã nguồn này là gì? Có ai đó đang trả tiền cho hắn? Hắn có đang rao bán nó không? Hãy đánh giá hiểm họa xem hắn có thể làm gì với nó?”
Rõ ràng, không ai trong số họ nghĩ đến chuyện tôi làm việc đó chỉ vì thử thách. Schindler và những người khác đang mắc kẹt trong “lối tư duy Ivan Boesky79*”: Với họ, hacking là vô nghĩa nếu không được sử dụng để kiếm tiền.
❀ ❀ ❀
[1] 78* Phiếu trợ giúp (trouble ticket): Phiếu yêu cầu hỗ trợ ghi thông tin về vấn đề của khách hàng hoặc yêu câu dịch vụ hỗ trợ. (ND)
[2] 79* Ivan Frederick Boesky: Là một cựu thương nhân chứng khoán người Mỹ đã trở nên nổi tiếng với vai trò nổi bật của mình trong một vụ bê bối thương mại nội bộ đã xảy ra tại Mỹ vào giữa những năm 1980. (BTV)