CÔNG VIỆC THÁM TỬ

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
22

❊ ❊ ❊

Nếu có thể giúp Grant một cách dễ dàng như vậy, tại sao đến giờ tôi vẫn chưa tìm ra được sự thật về Wernle? Rất may là bí mật sắp được hé mở.

Eric liên tục nói về việc hắn ta phải đi làm, nhưng lại luôn đổi chủ đề mỗi khi tôi hỏi hắn làm nghề gì.

Vậy ai là người trả tiền cho hắn? Có lẽ việc hacking vào tài khoản ngân hàng của hắn sẽ giúp tôi có được câu trả lời. Do tên của Eric không xuất hiện trên hợp đồng thuê nhà cũng như các hóa đơn điện nước, nên tôi tìm tài khoản dưới tên Wernle.

Hắn dùng ngân hàng nào vậy? Các ngân hàng đương nhiên sẽ bảo vệ thông tin khách hàng rất chặt chẽ. Nhưng họ cũng cần đảm bảo rằng các nhân viên có thẩm quyền có thể lấy được thông tin từ các chi nhánh khác nhau.

Thời đó, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng một hệ thống cho phép nhân viên xác minh bản thân với đồng nghiệp làm việc ở chi nhánh khác nhờ cung cấp một mã số thay đổi theo ngày. Ví dụ như Bank of America (Ngân hàng Mỹ) dùng năm mã số mỗi ngày, đánh dấu “A”, “B”, “C”, “D” và “E”, mỗi chữ cái tương ứng với một số có bốn chữ số khác nhau. Khi một nhân viên ngân hàng gọi điện tới chi nhánh khác để lấy thông tin, anh ta sẽ phải đưa ra con số chính xác cho mã A, mã B hay gì đó. Đây là ý tưởng bảo mật hết sức ngu ngốc của ngành ngân hàng.

Chỉ cần tấn công bằng kỹ thuật xã hội đảo ngược[1], tôi có thể dễ dàng vượt qua lớp bảo mật này.

Kế hoạch của tôi có vài bước. Trước tiên vào buổi sớm, tôi gọi tới chi nhánh mục tiêu, hỏi gặp ai đó ở Phòng Tài khoản Mới, giả vờ là một khách hàng tiềm năng với số tiền kha khá trong tay đang quan tâm tới việc làm sao để có được lãi suất cao nhất. Sau khi tạo được mối quan hệ với nhân viên ngân hàng, tôi nói mình có một cuộc họp bây giờ và sẽ gọi lại sau.

Tôi hỏi tên nhân viên ngân hàng và nói: “Cô nghỉ ăn trưa lúc mấy giờ nhỉ?”

“Tôi là Ginette,” cô ta nói. “Tôi sẽ ở đây đến 12 giờ rưỡi.”

Tôi đợi qua 12 giờ 30 phút, gọi điện lại và đòi gặp Ginette. Khi nghe trả lời rằng cô ta đã ra ngoài, tôi giới thiệu bản thân và nói tôi thuộc chi nhánh khác của ngân hàng. “Ginette gọi cho tôi lúc nãy,” tôi giải thích, “cô ấy cần tôi gửi fax thông tin khách hàng. Nhưng tôi có hẹn gặp bác sĩ ngay giờ nên tôi gửi qua cho anh được không?”

Tay đồng nghiệp sẽ nói không vấn đề gì và cho tôi số fax.

“Tốt,” tôi nói. “Tôi gửi giờ đây. À khoan đã… Anh cho tôi biết mã bảo mật ngày hôm nay nhé?”

“Nhưng anh gọi cho tôi cơ mà!” nhân viên ngân hàng kêu lên.

“À vâng, nhưng Ginette gọi cho tôi trước. Mà anh cũng biết chính sách của chúng ta yêu cầu mã bảo mật trước khi gửi đi thông tin khách hàng rồi còn gì...,” tôi bịp bợm. Nếu người đó phản đối, tôi sẽ nói mình không thể gửi thông tin được. Rồi tiếp tục nói thêm kiểu: “Anh nói với Ginette giúp tôi là tôi không gửi tài liệu cho cô ấy được vì anh không xác minh mã bảo mật nhé. Nói thêm với cô ấy là tôi sẽ không ở đây tới tận tuần tới và chúng tôi sẽ bàn thêm sau.” Như vậy là đủ cưỡng ép anh ta phải quyết định, bởi không ai lại muốn làm hỏng việc của đồng nghiệp.

Sau đó, tôi nói: “Vâng, vậy mã E là gì?”

Anh ta cho tôi mã E, ngay lập tức tôi lưu lại trong trí nhớ.

“Không, không phải!” tôi nói.

“Cái gì?”

“Anh nói ‘6214’ đúng không? Mã đó không đúng,” tôi kiên trì.

“Đó đúng là mã E mà!” anh ta sẽ nói vậy.

“Không, tôi không hỏi mã E, tôi nói ‘B’ cơ!” Và sau đó anh ta đọc cho tôi mã B.

Giờ thì tôi có 40% cơ hội có được thông tin mình muốn khi gọi cho bất kỳ chi nhánh ngân hàng nào trong ngày hôm đó, vì tôi đã biết được 2 trong số 5 mã. Nếu gặp một nhân viên ngân hàng nào đó có vẻ dễ tính, tôi sẽ thử dò thêm một mã khác. Đôi khi, tôi thậm chí còn lấy được ba mã số trong một cuộc gọi. (Rất may là các ký tựB, D và E nghe có vẻ na ná nhau.)

Khi gọi tới một chi nhánh và họ hỏi mã A trong khi tôi chỉ có B và E, tôi sẽ nói: “Giờ tôi không ở bàn làm việc. Tôi báo mã B hay E có được không?”

Những cuộc hội thoại này thường rất thân thiện khiến các nhân viên ngân hàng không có lý do gì để nghi ngờ và vì không muốn tỏ ra vô lý quá mức, họ sẽ đồng ý. Nếu không, tôi chỉ đơn giản nói là mình sẽ quay lại bàn làm việc để lấy mã A. Tôi gọi lại sau đó, gặp một một nhân viên khác.

Với Wernle, tôi thử Ngân hàng Mỹ đầu tiên. Mẹo này có tác dụng, nhưng lại không có tên khách hàng nào ứng mã số An sinh của Joseph Wernle. Vậy ngân hàng Wells Fargo thì sao? Dễ hơn một chút: Tôi không cần tới mã bảo mật vì Danny Yelin, một trong những tay thám tử ở Teltec, có bạn làm ở đó. Do các đường dây điện thoại đều bị giám sát, nên Danny và Greg có cách nói chuyện bằng ám hiệu riêng và giờ họ cũng cho tôi biết.

Tôi gọi cho Greg và nói chuyện với anh ta về việc hẹn xem trận bóng vào cuối tuần hay đại loại thế, rồi nói gì đó kiểu như: “Nếu anh muốn tham gia thì gọi cho Kat nhé, cô ấy sẽ kiếm vé cho anh.”

“Kat” là ám hiệu. Điều đó đồng nghĩa với việc tôi muốn có mã số của ngày hôm đó. Anh ta sẽ trả lời: “Được, cô ấy vẫn dùng số máy 310 725-1866 chứ hả?”

“Không,” tôi đọc cho anh ta một số khác, chỉ để đánh lạc hướng.

Bởi bốn số cuối cùng trong số điện thoại ảo kia chính là mã bí mật trong ngày.

Khi đã có mã, tôi gọi tới một chi nhánh và nói tôi từ chi nhánh xyz nào đó: “Chúng tôi gặp vấn đề với máy tính, máy chạy chậm quá khiến tôi không thế xử lý công việc được. Cô có thể tra giúp tôi được không?”

Để tìm thông tin Wernle, tôi đưa ra mã bảo mật và nói kiểu như: “Tôi cần thông tin tài khoản khách hàng.”

“Số tài khoản là gì?”

“Cô tìm bằng mã số An sinh hộ tôi.” Và tôi đưa số của Wernle.

Một lúc sau, cô ta đáp: “Tôi thấy có hai tài khoản.”

Tôi nhờ cô ta đọc cả hai số tài khoản và số tiền trong đó.

Phần đầu của tài khoản ngân hàng thể hiện chi nhánh lập tài khoản đó; cả hai tài khoản của Wernle đều ở chi nhánh Tarzana tại Thung lũng San Fernando.

Một cú điện tới chi nhánh ngân hàng để yêu cầu “sig card” (thẻ chữ ký mẫu) của Wernle đã giúp tôi có được câu trả lời hằng mong đợi cho câu hỏi: “Chủ sở hữu lao động là ai?”

“Alta Services, 18663 Ventura Boulevard.”

Khi gọi tới Alta Services và hỏi thăm Joseph Wernle, đáp lại tôi là câu trả lời lạnh nhạt: “Hôm nay anh ấy không có ở đây.” Có vẻ đáng nghi như thể câu tiếp theo sẽ là “Và chúng tôi cũng không nghĩ anh ấy sẽ ở đây.”

Trong kỷ nguyên “thông tin ngân hàng nằm gọn trong tay bạn”, không khó để có được các thông tin còn lại. Với số tài khoản ngân hàng và bốn số cuối mã An sinh của Wernle, tôi chỉ cần gọi điện cho hệ thống tự động của ngân hàng và lấy được toàn bộ chi tiết giao dịch mình muốn.

Thông tin nhận được khiến cho bí ẩn này càng thêm bí ẩn: Joselp Wernle có nguồn quỹ ra vào tài khoản tới vài nghìn đô-la mỗi tuần.

Ái chà – điều đó nghĩa là sao? Tôi không thể tưởng tượng ra nổi.

Với từng này tiền giao dịch qua tài khoản ngân hàng, hẳn là khoản hoàn thuế của hắn ta sẽ cho tôi vài gợi ý hữu ích về chuyện đang xảy ra.

Tôi biết mình có thể dễ dàng lấy được thông tin thuế từ Cục Thuế Nội địa (IRS) nhờ thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội với mấy nhân viên sử dụng máy tính ở đó. Khu tổ hợp IRS ở Fresno, California có tới vài trăm đường dây điện thoại; tôi gọi cho một trong số đó một cách ngẫu nhiên. Nhờ đã tìm hiểu từ trước, tôi sẽ nói kiểu như: “Tôi gặp trục trặc trong việc truy cập vào IDRS – máy của anhchị có sao không?” (“IDRS” là viết tắt của “Integrated Data Retrieval System” – Hệ thống phục hồi dữ liệu tích hợp”.)

Đương nhiên máy của anh ta hay cô ta vẫn làm việc bình thường và hầu như mọi người đều sẵn lòng giúp đỡ đồng nghiệp.

Lần này, khi tôi đưa mã số An sinh của Wernle, nhân viên ở đó nói dữ liệu hoàn thuế trong hai năm gần đây trên hệ thống cho thấy không có nguồn thu nhập nào được ghi lại.

Vậy là đã rõ, ít ra là ở một khía cạnh nào đó. Hồ sơ An sinh của Wernle trước đó đã cho thấy anh ta không có thu nhập nào. Giờ thì dữ liệu từ IRS đã xác thực thông tin này.

Một đặc vụ FBI không đóng tiền An sinh và thuế thu nhập… nhưng lại thường xuyên có hàng nghìn đô-la giao dịch qua tài khoản ngân hàng. Điều đó tức là sao?

Có một câu nói cũ đại loại là: “Những thứ chắc chắn nhất trên đời chính là cái chết và tiền thuế.” Có vẻ như đối với một đặc vụ FBI thì vế thứ hai không còn chính xác.

Tôi cố gọi điện cho Eric và phát hiện ra số điện thoại của hắn không còn liên lạc được nữa. Tôi thử số thứ hai; cũng tương tự.

Tôi sử dụng phương pháp tấn công bằng kỹ thuật xã hội gọi tới văn phòng bất động sản khu Eric ở và được biết hắn đã chuyển đi. Không, hắn không chuyển sang căn hộ khác cùng tổ hợp như lần trước – lần này là chuyển đi hoàn toàn. Người phụ nữ ở văn phòng tra cứu thông tin giúp tôi, nhưng đúng như dự đoán, hắn không để lại bất kỳ địa chỉ nào để liên lạc.

Tôi trở lại Tổ Chuyên trách Đặc biệt của DWP lần nữa. Tuy ít có cơ hội nhưng đây là một xuất phát điểm tốt. Tôi nhờ thư ký tra cứu các dịch vụ mới dưới tên Wernle. Chỉ mất một lúc, cô ta đã trả lời: “Vâng, chúng tôi có tài khoản mới đứng tên Joseph Wernle” và cho tôi địa chỉ ở McCadden Place, Hollywood.

Không thể tin được một cảnh sát liên bang lại có thể ngu ngốc tới mức dùng tên của chính mình để đăng ký tài khoản dịch vụ sinh hoạt cho thân phận mà họ đang cố gắng che giấu.

Tôi có số máy nhắn tin của Eric. Số đó vẫn hoạt động và từ đó tôi có thể suy ra công ty tin nhắn nào cung cấp dịch vụ cho hắn. Tôi gọi và lừa tay trực máy nói cho tôi biết một mã số riêng biệt chỉ thuộc về máy của Eric: mã CAP (“Channel Access Protocol” – Giao thức Truy cập Kênh). Sau đó, tôi mua một chiếc máy nhắn tin cùng hãng, nói với nhân viên ở đây rằng tôi làm rơi cái máy cũ xuống toilet khi đi vệ sinh. Anh ta cười tỏ vẻ rất đồng cảm – anh ta cũng từng gặp những người khác gặp tình huống tương tự – và không ngại lập trình cho chiếc máy mới của tôi với mã CAP tôi đưa cho anh ta.

Từ thời điểm đó, bất kỳ ai từ FBI (hay người nào khác) nhắn tin cho Eric, tôi sẽ thấy nội dung tin nhắn hiển thị chính xác trên máy nhắn tin nhái số của tôi.

Còn việc khi tôi nghe lén hai cuộc hội thoại liên tiếp và chúng đều nhắc tới tôi thì sao? Không lâu sau khi nghe được mấy gã ở Phòng An ninh Pacific Bell bàn cách đặt bẫy tôi, tôi lại tiếp tục phải nghe những lời rầy la về mình.

Tôi không thử nghe lén Eric bởi hắn biết chúng tôi có thể truy cập vào SAS và tôi e ngại rằng mấy tay kỹ thuật viên thiết bị có thể đã được yêu cầu gọi ngay tới Phòng An ninh của Pacific Bell hay FBI khi có bất kỳ ai định gắn thiết bị vào đường dây của hắn. Eric nghĩ hắn đã phòng hộ an toàn cho đường điện thoại của mình. Hắn nghịch SAS đủ nhiều để biết rằng bạn có thể nghe được tiếng click đặc trưng khi ai đó định dùng nó nghe lén đường dây của bạn. Nhưng hắn không biết rằng việc tạo kết nối với giày SAS, như tôi đã giải thích, là kết nối trực tiếp, sử dụng chính cáp mà kỹ thuật viên thiết bị đặt trực tiếp trên đường dây của khách hàng và do đó, nó sẽ không tạo ra tiếng click nghe được trên điện thoại.

Rất tình cờ một ngày nọ, tôi đã kết nối được vào đường dây của Eric nhờ dùng giày SAS và nghe được cuộc hội thoại của hắn ta với một người tên là “Ken”.

Tôi cũng không buồn thắc mắc Ken là ai: Chính là đặc vụ đặc biệt của FBI, Ken McGuire.

Họ nói chuyện về chứng cứ cần thiết để Ken có thể có lệnh khám xét Mitnick.

Cuộc gọi khiến tôi hoảng loạn thực sự. Tôi tự hỏi liệu họ có đang theo dõi tôi hay thậm chí là chuẩn bị bắt tôi hay không. Eric không có vẻ giống một người đưa tin mật; thay vào đó, kiểu nói chuyện của hắn với McGuire “Ken” nghe như hai đặc vụ nói chuyện với nhau. Như thể McGuire, một đặc vụ già hơn, có kinh nghiệm hơn, đang hướng dẫn một đặc vụ trẻ về những gì họ cần để có lệnh khám xét.

Lệnh khám xét! Bằng chứng chống lại Mitnick!

Khỉ thật, tôi nghĩ. Lại một lần nữa tôi cần phải loại bỏ từng mẩu nhỏ chứng cứ có thể được dùng để chống lại mình.

Ngay khi họ dập máy, tôi tái lập trình điện thoại của mình ngay lập tức, nhái nó sang một số điện thoại khác, một số tôi chưa từng dùng trước đó.

Sau đó, tôi gọi cho Lewis đang ở chỗ làm việc. “Có việc khẩn cấp đây!” tôi nói với anh ta. “Cậu phải ra bốt điện thoại công cộng bên ngoài tòa nhà ngay lập tức” – để phòng ngừa trường hợp cảnh sát liên bang đang theo dõi cả đường truyền điện thoại di động gần nơi làm việc của anh ta.

Tôi lao ra xe, lái tới một nơi mà tôi biết có rất nhiều bốt điện thoại công cộng – một lần nữa, để phòng trường hợp các đặc vụ giám sát cả bốt gọi quanh khu vực của Teltec.

Ngay khi Lewis trả lời điện thoại, tôi nói với cậu ta: “Chính phủ đã lập án chống lại chúng ta rồi, Eric là một thành viên trong đó! Chắc chắn 100% rằng chúng ta là mục tiêu. Hãy thay số điện thoại của cậu ngay lập tức.”

“Ôi, khốn kiếp!” Đó là tất cả những gì anh ta có thể nói.

“Chúng ta phải hủy hết dữ liệu,” tôi nói.

Lewis nghe có vẻ chán nản và sợ hãi. “Ừ, được rồi,” anh ta nói. “Tớ biết phải làm gì rồi.”

Trong suốt thời gian cố gắng tìm hiểu về Eric, tôi đoán rằng mình sẽ tìm ra hắn là một kẻ chỉ điểm của FBI, nếu không phải là một đặc vụ. Nhưng giờ thì chắc chắn, đây không còn là một trò chơi nữa. Đây là đời thực. Tôi gần như có thể cảm nhận được độ lạnh của chấn song nhà tù. Tôi cũng có thể cảm nhận được vị nhạt nhẽo khó nuốt của đồ ăn của trại giam trong miệng.

Tôi đợi trước cửa nhà Kasden khi ông ta đi làm về, với đống thùng chứa đầy những đĩa mềm tôi nhờ giữ hộ. Cùng tối hôm đó, tôi lái xe tới nhà một người bạn khác của cha, người đã đồng ý cho tôi đặt máy tính và các ghi chép ở nhà ông ấy.

Hủy tài liệu ở chỗ Lewis không dễ gì. Cậu ta hệt như một con chuột, với cả đống bừa bộn chất đầy trong căn hộ. Đào bới hàng chồng đồ đạc để tìm ra các dữ liệu có thể được dùng để lập án chống lại cậu ta là cả một thử thách lớn. Và đây không phải là việc ai đó có thể hỗ trợ: Cậu ta là người duy nhất biết đĩa cứng và đĩa mềm nào an toàn cũng như cái nào có thể tống mình vào tù. Nhiệm vụ này khiến cậu ta phải mất tới mấy ngày, thời gian như áp lực nặng nề đè lên vai cậu ta, liệu điều gì sẽ xảy ra nếu cảnh sát liên bang xuất hiện trước khi cậu ta kịp hoàn thành.

Tôi biết đáng lẽ ra mình nên tận dụng mọi nguồn thông tin có được để tìm hiểu về Eric trước khi chuyện này xảy ra. Nhưng muộn còn hơn không. Tôi gọi cho Ann, người tôi thường liên lạc ở SSA. Cô ấy tra tên Eric Heinz và cho tôi mã số An sinh, nơi sinh và ngày tháng năm sinh của hắn. Ann nói với tôi rằng hắn thuộc nhóm nhận trợ cấp thương tật vì mất một chân.

Tôi nói với Ann: “Đây là một trường hợp giả mạo. Để xem chúng ta có thể tìm thấy tên bố mẹ hắn không.” Bằng lái xe của Eric cho thấy tên hắn có chữ Junior, điều này giúp việc tìm kiếm dễ hơn rất nhiều. Ann tra trong danh sách tất cả những người có tên Eric Heinz Sr. với năm sinh trong khoảng phù hợp với bố của Eric. Cô ấy tìm thấy một người sinh vào ngày 20 tháng 6 năm 1935.

Tối hôm đó, tôi và Danny Yelin, một đồng nghiệp ở Teltec hẹn nhau cùng ăn tối tại Solley, một quán ăn khá ngon ở Sherman Oaks. Sau khi gọi món, tôi ra trạm điện thoại công cộng và gọi vào số điện thoại tìm được dưới tên Eric Heinz Sr.

Điều xảy ra tiếp theo có lẽ sẽ không khiến tôi bất ngờ, nhưng sự thật là có.

“Cháu định liên lạc với Eric,” tôi nói. “Cháu là bạn học cấp ba cùng cậu ấy.”

“Ai thế?” người đàn ông hỏi, giọng đầy nghi ngờ. “Tên cậu là gì?”

“Có khi cháu gọi nhầm. Ở đây có ai là Eric Jr. không ạ?”

“Con tôi qua đời rồi,” ông ta nói.

Người đàn ông có vẻ khó chịu, dường như cố kìm nén cơn giận dữ. Ông ta nói ông ta muốn biết số điện thoại của tôi để gọi lại – rõ ràng là muốn trình báo tôi với những người có thẩm quyền. Không vấn đề gì: Tôi cho ông ta số điện thoại công cộng ở cửa hàng bán thức ăn và dập máy.

Ông ta gọi lại ngay lập tức. Chúng tôi bắt đầu vờn nhau, tôi thì cố kéo ông ta lại phía mình, còn ông ta thì cố gắng giữ khoảng cách.

Tôi hỏi: “Cậu ấy mất từ khi nào thế ạ?”

Câu trả lời là: “Con trai tôi mất từ khi còn rất nhỏ.”

Tôi cảm thấy adrenaline tuôn trào trong người. Lời giải thích rõ rành rành: “Eric Heinz” là danh tính ăn trộm.

Bằng cách nào đó, tôi cố gắng bình tĩnh để lảm nhảm điều gì đó như là rất tiếc vì nỗi đau mất mát này qua điện thoại.

Vậy hắn ta thực sự là ai, gã nghệ sĩ một chân chết tiệt làm việc cùng FBI và dùng tên giả này?

Lúc này, tôi cảm thấy cần phải thỏa mãn với lời giải thích của Eric Heinz Sr. rằng con trai ông ta đã chết từ khi còn rất nhỏ. Lại một lần nữa, với sự giúp đỡ của cô bạn Ann ở Phòng Quản lý An sinh, tôi tra theo địa chỉ anh trai của Eric Cha và nhận được lời xác nhận: Eric Con đã chết trong một tai nạn giao thông năm 1962 khi mới hai tuổi, trên đường tới hội chợ Settle World cùng mẹ mình, người cũng qua đời trong vụ đụng xe.

Đấy là lý do mà Eric Cha rất lạnh nhạt khi tôi nói con trai ông ta và tôi cùng học cấp ba.

Theo suốt câu chuyện cho đến khi nó kết thúc đem tới một kiểu thỏa mãn riêng. Trong trường hợp này thì điều đó có nghĩa là tôi phải có được bản sao giấy chứng tử của Eric Heinz từ Cục Thống kê Dân số ở Quận King, Seattle. Tôi gửi yêu cầu, kèm theo khoản phí yêu cầu và đề nghị nó được gửi tới hòm thư của tôi ở Teltec.

Bố và bác của Eric Heinz đã nói sự thật. Còn “Eric Heinz” mà tôi biết chỉ đang chơi trò đánh cắp danh tính của trẻ em.

Oa! Cuối cùng, tôi đã vén được bức màn bí mật về hắn ta.

Tên “Eric Heinz” là hoàn toàn giả mạo.

Vậy cái gã chết tiệt này là ai, một gã khốn đã chết nhưng vẫn cố đặt bẫy tôi?

Quay lại với bản phân tích lưu lượng về các cuộc gọi di động của FBI, tôi nhận thấy McGuire thực hiện rất nhiều cuộc gọi tới số 213 894-0336. Tôi biết rằng 213 894 là mã vùng và mã tổng đài của điện thoại ở Văn phòng Luật sư ở Los Angeles. Tôi gọi tới số đó và biết được đây là số điện thoại của David Schindler, trợ lý công tố, luật sư công tố trong vụ của Poulsen. Hắn hẳn phải là người được giao nhiệm vụ phụ trách vụ hacker lớn kế tiếp của Los Angeles.

Như vậy là chính phủ đã có cả công tố viên cho vụ của tôi. Không ổn rồi!

Từ lần đầu tiên chiếm quyền đăng nhập vào hồ sơ chi tiết cuộc gọi của PacTel Cellular và thấy được danh sách chi tiết cập nhật về các cuộc gọi đến và đi từ tất cả thuê bao của công ty, tôi vẫn thường kiểm tra nó – đối tượng là những người trong tổ tội phạm cổ cồn trắng thường liên lạc với Eric, đặc biệt là đặc vụ đặc biệt McGuire.

Nhờ đó, tôi phát hiện ra một chuỗi các cuộc gọi đáng-chú-ý: Trong vài phút, McGuire đã gọi tới máy nhắn tin của Eric vài lần. Và cuộc gọi tiếp theo của McGuire sau lần nhấc máy cuối cùng là tới một số điện thoại tôi chưa từng nhìn thấy.

Tôi gọi tới số này. A ha – giọng trả lời rất quen thuộc. Người nhấc máy là Eric. Với số điện thoại mới, ở khu vực khác của Los Angeles. Hắn đã chuyển nhà một lần nữa.

Tôi dập máy, cười sung sướng. Eric hẳn sẽ biết cuộc gọi dập máy này là của tôi. Có lẽ tôi đã phát hiện ra hắn chuyển nhà trước cả khi hắn kịp dỡ đồ đạc.

Trung tâm phân bổ đường dây của Pacific Bell có lẽ là nơi có thể moi được địa chỉ mới của Eric.

Nơi ở mới của hắn nằm ở số 2280 Đại lộ Laurel Canyon, một khu dân cư đắt đỏ cách phía bắc Đại lộ Hollywood ở Hollywoods Hills khoảng 1,5km, bằng nửa đường tới Mullholland Drive.

Đây là địa chỉ thứ tư trong vòng vài tháng kể từ khi tôi quen biết Eric. Không khó để hiểu lý do: FBI đang cố bảo vệ hắn. Mỗi lần tôi lần ra địa chỉ, họ sẽ chuyển hắn tới nơi ở mới. Ba lần tôi tìm ra địa chỉ, cả ba lần họ đều đưa hắn đi.

Lúc này, họ hẳn đã hiểu ra nơi ở của Eric không phải là bí mật mà họ có thể giữ kín đối với tôi.

Ban đêm, tôi ngồi trước máy tính được đặt ở một nơi an toàn dành cho hacking, ban ngày tôi ngồi trước máy tính của Teltec để làm công việc “điều tra”. Nhiệm vụ ở Teltec chủ yếu xoay quanh các dự án kiểu như tìm hiểu xem người chồng trong một vụ ly hôn sẽ giấu tài sản của anh ta ở đâu, giúp luật sư quyết định xem liệu một vụ kiện có đáng để đệ đơn hay không nhờ tìm hiểu tình hình tài chính của bị cáo, hay như truy tìm mấy kẻ vô công rỗi nghề. Có một vài trường hợp khá gây hứng thú, ví như định vị một người chamẹ nào đó bắt cóc chính con mình và bay tới Canada, châu Âu, vv…. Thành công trong những vụ kiểu này khiến tôi vô cùng hài lòng và cảm thấy mình đã làm được điều gì đó tốt đẹp cho thế giới.

Nhưng làm việc tốt cho xã hội không có nghĩa là tôi sẽ ghi điểm với các cơ quan hành pháp. Tôi tìm ra cách thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm sẽ reo chuông nếu cảnh sát liên bang lượn lờ xung quanh để theo dõi tôi khi tan sở. Tôi mua một chiếc máy quét sóng RadioShack đã bỏ giới hạn tần số. (Dạo ấy, FCC bắt đầu yêu cầu các nhà sản xuất máy quét phải thêm tính năng hạn chế nhằm ngăn chặn việc nghe lén điện thoại di động). Tôi mua thêm một thiết bị gọi là “máy phiên dịch dữ liệu kỹ thuật số” (Digital-Data Interpreter – DDI) – một chiếc hộp đặc biệt có thể giải mã các thông tin tín hiệu trên mạng điện thoại di động. Tín hiệu từ máy quét dẫn vào DDI vốn đã kết nối với máy tính của tôi.

Thông thường, một chiếc điện thoại di động sẽ đăng ký và thiết lập kết nối với trạm thu phát gần nhất, nhờ vậy, khi có cuộc gọi tới, hệ thống tổng đài sẽ biết được nên chuyển tiếp cuộc gọi tới trạm gốc nào để đi tới điện thoại của bạn. Nếu không sắp đặt như vậy, các nhà mạng sẽ không có cách nào để định hướng cuộc gọi không dây tới cho bạn. Tôi lập trình máy quét để giám sát tần số của trạm thu phát gần nhất quanh Teltec, nhờ đó, nó có thể thu được dữ liệu từ trạm, xác định được số điện thoại của bất kỳ chiếc điện thoại di động nào trong khu vực hoặc thậm chí là các máy di động chỉ đi ngang qua khu vực đó.

Tất cả các dữ liệu này không ngừng được chuyển tới DDI từ máy quét của tôi, sau đó lại được DDI chuyển đổi thành các phần tách biệt dạng như:

618-1000 (213) Registration

610-2902 (714) Paging

400-8172 (818) Paging

701-1223 (310) Registration

Từng dòng dữ liệu cho thấy tình trạng của điện thoại di động hiện có trong khu vực do trạm thu phát xử lý; cụm chữ số đầu tiên là số điện thoại của một máy di động nào đó. “Paging” có nghĩa là trạm đang nhận cuộc gọi cho máy và báo hiệu máy thiết lập kết nối. “Registration” chỉ ra rằng điện thoại đang ở trong khu vực trạm thu phát này và đã sẵn sàng để thực hiện cuộc gọi đi hoặc nhận cuộc gọi tới.

Tôi thiết lập cấu hình cho phần mềm DDI trên máy tính của mình để nó reo chuông báo nếu DDI phát hiện ra bất kỳ số điện thoại nào trong danh sách các số tôi đã lập trình sẵn trong phần mềm: Số điện thoại di động của tất cả đặc vụ FBI mà tôi xác định được là có liên lạc với Eric. Phần mềm liên tục quét các số điện thoại được gửi dữ liệu trên máy quét, đến DDI và đến máy tính của tôi. Nếu bất kỳ máy di động của cảnh sát liên bang nào xuất hiện trong khu vực quanh Teltec, hệ thống của tôi sẽ reo chuông báo.

Tôi đã cài bẫy FBI, giúp tôi đi trước họ một bước. Nếu cảnh sát liên bang xuất hiện, tôi sẽ được cảnh báo.

❀ ❀ ❀

[1] 64* Tấn công bằng kỹ thuật xã hội đảo ngược (reverse social engineering): Một hình thức tấn công phi kỹ thuật, trong đó, hacker sẽ giả mạo những người có đủ thẩm quyền để truy cập thông tin mật, hay giả vờ đóng vai trò chuyên viên hỗ trợ để dò hỏi thông tin. (BTV)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.