Vào ngày 27 tháng 1, may mắn đã đưa tới sợi dây thừng đầu tiên dệt nên tấm lưới giúp Shimmy và đội của hắn ta tóm được tôi. The Well có một chương trình tự động tên là “disk hog” có thể gửi e-mail định kỳ tới các khách hàng đang sử dụng rất nhiều dung lượng ổ cứng. Một trong những e-mail này đã được gửi tới Bruce Koball, người chịu trách nhiệm tổ chức một sự kiện chính sách công thường niên có tên là Hội thảo về Máy tính, Tự do và Bảo mật (CFP).
Nội dung trong e-mail lưu ý rằng tài khoản của hội nghị này đang chiếm tới hơn 150 megabyte trên máy chủ của the Well. Koball kiểm tra tài khoản và phát hiện ra không có tập tin nào thuộc về CFP. Xem kỹ các tệp tin có chứa e-mail, hắn thấy rằng tất cả đều được gửi tới tsutomu@sdsccom.
Đêm đó, Koball đọc tờ New York Times và bắt gặp câu chuyện trên trang nhất của John Markoff ở mục Kinh doanh với tựa đề “Taking a Computer Crime to Heart” (tạm dịch: Chuyện nghiêm túc về một tội ác máy tính). Trong đó có đoạn:
Như thể cánh trộm cướp bẻ khóa của người thợ khóa để chứng tỏ năng lực của mình. Đây cũng là lý do tại sao Tsutomu Shimomura, người giữ khóa trong trường hợp này, đã coi vụ đột nhập như một điều sỉ nhục mang tính cá nhân – và đó là lý do tại sao anh ta coi chuyện giải quyết tội ác này là vấn đề danh dự.
Ông Shimomura, một trong những chuyên gia bảo mật máy tính giỏi nhất nước Mỹ, là người đã thúc đẩy Cơ quan Máy tính Chính phủ đưa ra lời cảnh báo đanh thép vào thứ Hai. Cơ quan này cảnh báo, một kẻ đột nhập không rõ tên đã sử dụng kỹ thuật đột nhập tinh vi để đánh cắp các tập tin dữ liệu từ máy tính cá nhân được bảo mật kỹ càng đặt tại nhà riêng của ông Shimomura gần San Diego.
Ngày hôm sau, Koball gọi cho Markoff và được kết nối tới Shimmy. Không cần mất quá nhiều thời gian để khẳng định hầu hết các tập tin bí ẩn lưu trữ trên tài khoản CFP đều đến từ cuộc tấn công hôm Giáng sinh nhằm vào máy tính của Shimmy. Đây là đầu mối đầu tiên. Giờ thì hắn ta đã có dấu vết để lần theo.
Cũng trong khoảng thời gian này, anh họ[1] của tôi, Mark Mitnick, một người mà tôi khá gần gũi, dự định đi nghỉ cùng bác tôi tại Hilton Head, Bắc Carolina. Anh ấy cũng rủ tôi cùng tham gia.
Mark hiện đang điều hành một công ty ở Sacramento có tên là Ad Works và đề nghị sẽ giúp tôi thành lập một công ty ở bờ Đông với mô hình kinh doanh tương tự. Anh ấy cung cấp các cuộn giấy in hóa đơn miễn phí ở những siêu thị lớn với quảng cáo được in ở mặt sau. Mark kiếm tiền nhờ tìm ra các công ty đồng ý chi tiền để in quảng cáo đằng sau cuộn giấy in đó. Tôi cần một khoản thu nhập ổn định và ý tưởng về việc được người anh họ giúp đỡ để khởi nghiệp nghe có vẻ rất hấp dẫn, dù nó chẳng liên quan gì đến máy tính.
Chúng tôi gặp nhau ở Raleigh và lái xe qua vài thành phố trên đường tới Hilton Head để Mark có thể thực hiện vài phi vụ bán hàng. Anh mời tôi đi cùng để chỉ cho tôi về công việc. Tôi thích ý tưởng dịch chuyển bởi điều đó khiến tôi khó bị tìm ra hơn.
Lẽ ra tôi đã được tận hưởng chuyến đi nhiều hơn nếu không bắt gặp một bài báo xuất hiện khi đang tiến hành kiểm tra trên mạng như thường lệ xem có dấu hiệu gì về việc đặc vụ liên bang đã tới gần mình không. Các câu chuyện trên khắp các phương tiện truyền thông về một buổi họp báo của Bộ Tư pháp. Tựa đề của một trong những câu chuyện đó là: “Mỹ đang săn lùng một tội phạm máy tính chuyên nghiệp.” Trong đó có viết:
WASHINGTON, DC., Mỹ., ngày 26 tháng 1 năm 1995 (NB) – Sở Cảnh sát Tư pháp đang theo dấu một hacker máy tính đã biến mất sau khi bị kết án phạm tội điện tử cùng một số tội danh khác. Các nhà chức trách nói rằng họ đang cố gắng tìm ra nơi ẩu náu của Kevin David Mitnick, 31 tuổi, tới từ Sepulveda, California. Đại diện Sở Cảnh sát Tư pháp, Kathleen Cunningham, cho Newsbytes biết rằng Sở đã có lệnh bắt giữ Mitnick vì đã vi phạm điều kiện quản chế từ tháng 11 năm 1992 và đã suýt bắt được hắn ta tại Seattle vào tháng 10 năm ngoái. Cunningham cho biết Mitnick là một gã cuồng ham radio, người ta tin rằng hắn đã sử dụng máy quét sóng để theo dõi cảnh sát trong khu vực hắn ẩn náu. “[Cảnh sát địa phương] đã không sử dụng chế độ bảo mật radio, do đó, hắn đã biến mất ngay khi cảnh sát nhắc tới địa chỉ của hắn. Hắn bỏ lại mọi thứ.” Minick được coi là chuyên gia trong việc chiếm quyền kiểm soát máy tính nhằm theo dõi và sử dụng các hệ thống giao tiếp cũng như hiểu rõ cách thức tạo ra các danh tính giả thông qua máy tính.
Tôi như thể bị hàng tấn gạch đè lên người. Tôi ngạc nhiên, kinh hoàng và gần như hoảng loạn. Các đặc vụ liên bang và cánh truyền thông đã biến việc vi phạm điều kiện quản chế thành một cuộc truy lùng trên toàn cầu. Tôi không thể rời đất nước nếu muốn – tôi ngờ rằng đặc vụ liên bang hẳn đã yêu cầu Interpol đưa ra “Thông báo đỏ” nhằm khởi động một cuộc tìm kiếm trên toàn thế giới đối với tôi. Và tấm hộ chiếu duy nhất mà tôi đã giấu đi, không còn được sử dụng, lại có tên Mitnick.
Khi Mark và bác tôi từ sân golf quay về khách sạn, tôi cho họ xem bài báo. Cả hai đều choáng váng. Tôi hơi lo lắng vì đã cho họ thấy bài báo này, sợ rằng họ sẽ bảo tôi biến đi vì sự có mặt của tôi sẽ đem lại nguy hiểm cho họ. Thật may mắn, họ chưa từng nhắc tới chủ đề này, nhưng cơn hoang tưởng của tôi đã tăng thêm vài bậc. Tất cả đều đang lùng sục tôi. Liệu đặc vụ liên bang có nghi ngờ tôi là kẻ duy nhất tấn công vào máy tính của Shimmy không?
Vào ngày 29 tháng 1, ngày Chủ nhật diễn ra Siêu Cúp Super Bowl, sẽ có trận đấu giữa hai đội San Francisco 49ers và San Diego Chargers. Mark và bác tôi rất hào hứng với trận bóng nhưng tôi thì chẳng màng tới nó. Có rất nhiều thứ quay mòng mòng trong đầu và tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi. Thay vì quay lại phòng để lên mạng, tôi quyết định đi bộ trên bãi biển để hít thở chút không khí trong lành.
Tôi quyết định gọi cho Jon Littman. “Tôi đang đi bộ ngoài biển và thư giãn,” tôi nói với anh ta.
“Ngoài biển á? Có thực là cậu đang ở ngoài biển không?”
“Ừ, tôi không làm phiền anh thêm nữa. Chắc là anh đang chuẩn bị xem bóng.”
Littman nói với tôi rằng trận đấu vẫn chưa bắt đầu. Anh ta hỏi: “Sóng trông như thế nào?”
Tại sao anh ta lại hỏi tôi một câu hỏi ngớ ngẩn như vậy? Tôi không định nói về tình trạng lướt sóng và để lộ cho anh ta đầu mối về vị trí hiện tại của mình.
Tôi nói: “Tôi không thể nói được, nhưng anh có thể nghe được chúng đấy,” sau đó giơ điện thoại lên cao.
Tôi hỏi xem anh ta có nghe ngóng được gì về buổi họp báo UPI của Sở Cảnh sát Tư pháp đề nghị công chúng hỗ trợ truy tìm tôi không. Tôi phàn nàn rằng có rất nhiều thứ nhảm nhí trong các bài báo, bao gồm cả cái huyền thoại cũ nát của Markoff rằng tôi đã hack vào NORAD.
Littman hỏi tôi đã đọc câu chuyện hôm qua của Markoff chưa. Khi tôi nói chưa đọc, anh ta đọc cho tôi nghe qua điện thoại. Tôi đoán anh ta muốn biết phản ứng của tôi. Tôi phát hiện ra yêu cầu hỗ trợ của Sở Cảnh sát Tư pháp đã được công bố ngay sau khi Markoff tung ra câu chuyện về vụ tấn công Shimmy vào lễ Giáng sinh. Tôi không cho đó là một sự ngẫu nhiên. “Tôi có cảm giác đây là một phần trong chiến thuật nhằm kích động nỗi sợ hãi của công chúng về không gian mạng để nhắm vào tôi,” tôi nói với anh ta.
“Markoff đã hỏi về cậu,” Littman nói. “Và hắn nghĩ hắn biết cậu đang trốn ở đâu.” Tôi hối thúc anh ta nói rõ thêm nhưng không thu được kết quả gì. Tôi đổi chiến thuật và đề nghị anh ta đoán xem tôi đang sống ở đâu.
“Cậu đang sống đâu đó ở Trung Tây phải không?”
Thật mừng, anh ta đã đoán còn mướt mới tới. Nhưng có vẻ như Markoff có một số thông tin quan trọng có liên quan tới tôi và tôi cần nghĩ cách áng xem hắn đã biết tới chừng nào.
Vài ngày sau, tôi nhận ra nếu đặc vụ liên bang đang ráo riết truy tìm tôi, họ hẳn phải theo dõi điện thoại của bà tôi ở Las Vegas. Đó là điều mà tôi sẽ làm.
Bộ phận Phân bổ Đường dây của Centel có thông tin của mọi nhánh điện thoại ở Las Vegas. Tôi biết số điện thoại đó rất rõ. Giả danh là một kỹ sư hiện trường, tôi đề nghị một trong những nhân viên ở đây mở thông tin về số điện thoại của bà trên máy tính. Tôi nhờ cô ta đọc cho tôi “thông tin cáp”, và đúng như tôi nghi ngờ, có một “thiết bị đặc biệt” đã được gắn vào đường dây của bà gần đây.
Cô ta nói yêu cầu này được đưa ra vài ngày trước bởi một nhân viên bảo mật của Centel tên Sal Luca. Tôi cảm thấy có thể đảo ngược tình huống đối với Luca nếu mình giám sát đường dây của anh ta, nhưng điều đó cũng chẳng đem lại thông tin giá trị gì cho tôi. Ý định tiếp theo của tôi là mớm cho cánh theo đuôi vài thông tin sai lệch nhờ gọi điện cho bà và nói huyên thuyên rằng tôi đang ở Great White North. Nhưng tôi không muốn gây thêm sức ép cho bà ngoài những gì bà đang phải chịu.
Trong lúc nghĩ tới hướng đi kế tiếp, tôi vẫn phải tiếp tục tạo ra thân phận mới. Vào ngày 2 tháng 2, tôi có hẹn thi lái xe để nâng cấp bằng lý thuyết thành bằng lái xe dưới cái tên G. Thomas Case. Để làm vậy, tôi cần phải tìm được một chiếc xe không có bất kỳ liên quan nào tới những cái tên cũ.
Tôi chặn một chiếc taxi. “Này, anh có muốn kiếm 100 đô-la ngon ăn không?” tôi hỏi tài xế. Anh ta đáp lại bằng nụ cười nhăn nhở để lộ ra một chiếc răng móm và trả lời bằng câu gì đó nghe như “Tic, ticku”, tiếp theo là: “Đương nhiên, được rồi.” Những từ nước ngoài kia hóa ra là tiếng Hindi có cùng ý như vậy. (Chết tiệt, lẽ ra tôi nên đề nghị 50 đô-la thôi!) Chúng tôi thống nhất là anh ta sẽ đến đón tôi vào hôm sau và anh ta cho tôi số máy nhắn tin.
Ngày hôm sau ở DMV, khi tay coi thi nhận ra tôi sẽ thực hiện bài thi bằng một chiếc taxi, anh ta nhìn tôi đầy nghi ngờ. Chúng tôi vào xe, tôi tắt công tơ đo quãng đường và nói với anh ta: “Tôi sẽ phải thu tiền xe của anh đó.” Phản ứng trên mặt anh ta quả là vô giá. Khi anh ta thấy tôi cười, anh ta cũng cười lớn và chúng tôi có một khởi đầu thuận lợi.
❀ ❀ ❀
[1] 92* Hoặc có thể là em họ, đại từ nhân xưng trong tiếng Anh không chỉ rõ mối quan hệ này. (ND)