KẾT HÔN VỘI VÃ

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
07

❊ ❊ ❊

Gần đây, Bonnie nói rằng nàng vẫn còn nhớ “Kevin đã từng là người thú vị như thế nào, anh ấy ngọt ngào ra sao.”

Tôi cũng cảm thấy điều tương tự về nàng. Tôi từng có cảm tình với các cô gái khác, nhưng Bonnie là người đầu tiên khiến tôi cảm thấy thực sự nghiêm túc và quan tâm nhiều đến thế. Chúng tôi đã cùng tận hưởng rất nhiều điều, thậm chí cả những điều nhỏ nhặt như cốc bơ lạc Reese’s mà chúng tôi phải lái ra khỏi tuyến đường chính để mua ở 7-Eleven trên đường về. Chắc bạn cũng biết cảm giác thỏa mãn khi thấy thoải mái và hạnh phúc bên một người đặc biệt. Không nghi ngờ gì nữa, việc có nàng ở bên sau hai lần mất việc chớp nhoáng chính là những gì bác sĩ yêu cầu. Tôi dành rất nhiều thời gian ở chỗ nàng tới mức bắt đầu chuyển một ít quần áo của mình đến đó. Chúng tôi chưa bao giờ thực sự quyết định, mình hãy sống cùng nhau đi. Mọi thứ cứ thế diễn ra.

Chúng tôi thích đạp xe cùng nhau. Chúng tôi thích đi bộ ở Chantry Flat, Arcadia, khu vực xinh đẹp với thác nước ngay trong Quận Los Angeles nhưng cảm giác như ở trong rừng – rất hay, đó thực sự là một cuộc lẩn trốn tươi mát đối với một gã lúc nào cũng nhợt nhạt vì ngồi trước máy tính cả ngày lẫn đêm như tôi.

Tôi thậm chí không bận tâm chuyện nàng rất lười chăm sóc nhà cửa, với một đống quần áo bẩn thường chiếm dụng không gian trên sàn phòng ngủ. Tôi chưa bao giờ là một người gọn gàng quá mức như cha mẹ tôi, nhưng tôi thích mọi thứ sạch sẽ và ngăn nắp. Hai đứa tôi hợp nhau trong quá nhiều việc khác nên khi nghĩ về tình hình căn hộ, tôi chỉ lờ nó đi.

* * *

Vì thất nghiệp, nên tôi đăng ký một khóa học mở rộng ở UCLA tại Westwood, không xa chỗ chúng tôi. Bonnie cùng tôi đến đăng ký.

Nhưng đó chỉ là một sự dối trá – lần đầu tiên tôi lừa dối nàng. Tôi ra ngoài ba tối mỗi tuần với lý do đến lớp, nhưng thay vào đó, tôi lại lái xe đến chỗ làm của Lenny DiCicco và hack với cậu ta cho đến gần sáng. Đó quả là một hành vi tệ hại.

Vào những tối không ra ngoài, tôi ngồi trước máy tính của mình trong căn hộ, sử dụng đường điện thoại của Bonnie để hack trong lúc nàng một mình đọc sách, một mình xem tivi, rồi một mình đi ngủ. Tôi cho rằng đó là cách mình đối mặt với nỗi thất vọng của hai công việc suýt-có-nhưng-đã-vuột-mất, nhưng đó cũng chỉ là lời biện hộ. Tất nhiên, tôi cũng gặp vấn đề khi phải đối mặt với nỗi thất vọng khủng khiếp đó. Nhưng đó không phải là lý do. Lý do thực sự đơn giản chỉ là tôi đã trở thành nô lệ của nỗi ám ảnh quyền lực.

Dù chuyện đó hẳn khiến nàng cảm thấy rất khó chịu, nhưng bằng cách nào đó, nàng đã chấp nhận nó như cách tôi đã chấp nhận chuyện thu xếp nhà cửa chưa-đến-mức-đáng-khen của nàng. Sau vài tháng sống chung, chúng tôi nhận ra cả hai đều rất nghiêm túc với mối quan hệ này. Chúng tôi yêu nhau, chúng tôi bắt đầu bàn về việc kết hôn và chúng tôi bắt đầu để dành tiền. Cứ dư dả được đồng nào (tôi được Fromin’s Delicatessen thuê để nâng cấp thiết bị của họ sang hệ thống máy thanh toán), tôi lại tích thành từng tờ 100 đô-la rồi nhét chúng vào ngực áo khoác trong tủ quần áo của chúng tôi.

Lúc đó tôi 23 tuổi, sống trong căn hộ của bạn gái và dành hầu hết thời gian bên máy tính trừ lúc ngủ. Tôi là David trên PC, chuyên tấn công những mạng lưới Goliath khổng lồ[1] của các công ty điện thoại lớn trên khắp nước Mỹ.

Hệ thống điều khiển của công ty điện thoại sử dụng một phiên bản biến thể của Unix, và tôi muốn học thêm về nó. Một công ty ở Bắc California có tên Santa Cruz Operations (SCO), đang phát triển một hệ điều hành dựa trên Unix gọi là Xenix dành cho máy tính cá nhân (PC). Nếu tôi có thể tiếp cận được bản sao của mã nguồn, tôi sẽ có cơ hội tìm hiểu cách thức hoạt động bên trong hệ điều hành trên máy tính của mình. Thông qua Pacific Bell, tôi đã lấy được số dial-up bí mật của SCO dành cho mạng máy tính của họ và lừa được một nhân viên tiết lộ tài khoản đăng nhập của cô ta, đổi mật khẩu của cô ta thành mật khẩu mới của tôi và chiếm quyền truy cập.

Một hôm, trong khi đang chìm đắm trong các chi tiết của hệ thống SCO nhằm tìm ra nơi đặt mã nguồn mà tôi muốn nghiên cứu, tôi phát hiện ra một quản trị viên hệ thống đang theo dõi mọi đường đi nước bước của mình. Tôi gửi cho anh ta một tin nhắn: “Sao anh lại theo dõi tôi?”

Tôi ngạc nhiên khi thấy anh ta trả lời: “Đó là việc của tôi.”

Để xem anh ta cho phép tôi đi xa tới đâu, tôi viết lại rằng tôi muốn có một tài khoản của riêng mình trên hệ thống. Anh ta đã tạo một tài khoản cho tôi, thậm chí còn cho tôi tên đăng nhập mà tôi yêu cầu: “hacker”. Biết rằng anh ta sẽ theo dõi tài khoản này, tôi chỉ đánh lạc hướng anh ta bằng cách nghịch ngợm linh tinh không cụ thể. Tôi đã tìm được mã nguồn mong muốn, nhưng cuối cùng, tôi không bao giờ thử tải nó về bởi nó sẽ chẳng bao giờ tải xong trên modem 2400 baud của tôi.

Nhưng đây chưa phải là kết thúc của câu chuyện.

Vào một ngày đầu tháng Sáu, Bonnie trở về nhà từ chỗ làm và thấy mọi thứ bị xáo trộn: Chúng tôi bị trộm. Nàng nhắn tin cho tôi. Tôi gọi lại, có thể nghe được nỗi sợ hãi và lo lắng qua giọng nói của nàng.

Tôi nhờ nàng kiểm tra số tiền tôi đã tiết kiệm cho đám cưới ở trong túi áo khoác. Nhưng rồi nàng để ý thấy xấp tờ 100 đô-la của tôi – tổng cộng khoảng 3.000 đô-la – đã được xếp ngay ngắn trên bàn bếp... cùng một lệnh khám nhà.

Chúng tôi không bị trộm mà bị khám xét. Bởi Phòng cảnh sát Santa Cruz. Santa Cruz! Tôi biết việc này có liên quan đến những cuộc hacking buổi đêm vào máy tính ở Santa Cruz Operations.

Khi Bonnie nói máy tính và đĩa của tôi đã biến mất, thế giới dưới chân tôi đột nhiên đổ sụp. Tôi bảo nàng nhanh chóng gói ghém quần áo và gặp tôi. Tôi biết rất nhiều rắc rối sắp ập đến. Tôi cần kiếm một gã luật sư để kiểm soát hậu quả. Ngay lập tức!

Bonnie gặp tôi ở một công viên trong vùng, và mẹ tôi cũng đến. Tôi nói với hai người họ rằng không có gì phải lo lắng, bởi tôi chỉ nhòm ngó loanh quanh – tôi chưa hề phá hoại bất cứ tập tin nào của SCO hay thậm chí tải mã nguồn của họ về. Tôi lo đối đầu với pháp luật thì ít mà lo về những nỗi đau tôi đem đến cho hai người và bà tôi thì nhiều, họ là những người quan trọng nhất trong cuộc đời tôi.

Mẹ lái xe về, tôi đưa Bonnie đến một nhà nghỉ gần đó. Nàng rất buồn và cảm thấy bị xúc phạm. Nếu nàng rời bỏ tôi ngay lúc đó, tôi cũng đáng bị như thế. Nhưng ngược lại, không chút đắn đo, nàng đã thể hiện sự chung thủy của mình. Thái độ của nàng không phải là “Anh đã làm gì với em vậy?” mà là “Giờ chúng ta làm gì đây?”

Sáng hôm sau, nàng gọi đến chỗ làm và xin nghỉ phép vì việc gia đình. Sếp của nàng nói một vài sĩ quan cảnh sát đã đến và muốn phỏng vấn. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là: Tôi đã hack từ căn hộ của Bonnie qua đường dây điện thoại của nàng, họ cho rằng nàng là thủ phạm. Nhưng rồi tôi kết luận rằng chiến thuật của họ có lẽ là bắt giữ bạn gái tôi để thương lượng: “Hãy thú nhận mọi thứ hoặc bạn gái anh sẽ đi tù.”

Tôi dành vài ngày sau đó gọi cho các luật sư, giải thích tình hình, lập ra kế hoạch. Theo như Bonnie nhớ lại: “Chúng tôi đã cùng khóc rất nhiều nhưng vẫn dính lấy nhau.”

Tại sao nàng lại không bỏ đi? “Tôi đã phát điên vì Kevin,” giờ nàng nói.

Chúng tôi bớt được chút băn khoăn và lo lắng bằng cách dành rất nhiều thời gian yêu đương. Tôi cảm thấy rất hối hận khi đặt Bonnie vào tình cảnh này, trong khi tôi đã gây ra quá nhiều lo lắng cho mẹ và bà. Tôi đoán Bonnie và tôi đều muốn tìm bình yên theo cách đó.

Dì Chickie lái xe đưa Bonnie và tôi xuống trạm West Hollywood của Phòng Cảnh sát Trưởng Quận Los Angeles. Chúng tôi ra đầu thú và dì Chickie ngay lập tức trả tiền bảo lãnh 5.000 đô-la cho mỗi đứa. Bằng cách nào đó, cảnh sát đã bỏ qua việc lăn tay và chụp ảnh chúng tôi. Chính bởi sai sót nghiêm trọng về thủ tục này mà không hề có hồ sơ nào được lập cho chúng tôi. Cho đến tận hôm nay, không hề có một ghi chép chính thức nào về việc tôi từng bị bắt giam vì vụ SCO.

Suốt vài tháng sau, mỗi lần phải trình diện trước tòa án Santa Cruz, tôi phải mua bốn vé máy bay khứ hồi – Bonnie thuê một luật sư khác – thêm vào đó là tiền khách sạn, tiền thuê xe và ăn uống. Cả hai luật sư đều yêu cầu trả tiền trước. Số tiền đó quá lớn so với những gì tôi đã tiết kiệm được cho đám cưới. Toàn bộ 3.000 đô-la đã ra đi để trả trước cho luật sư của tôi. Mẹ và bà cho tôi vay tiền để trả cho luật sư của Bonnie và những chi phí khác.

Và thế là chúng tôi không còn tiền cho một đám cưới tử tế, nhưng mọi chuyện còn tệ hơn thế. Không có cách tình tứ, lãng mạn nào để kể lại việc này: Tôi nói với Bonnie rằng chúng tôi cần kết hôn để nàng không bị buộc phải đứng ra làm chứng chống lại tôi, và cũng để nàng có thể đến thăm tôi nếu tôi phải vào tù, việc có vẻ như cuối cùng cũng sẽ tới.

Tôi tặng Bonnie một chiếc nhẫn đính hôn bằng kim cương và chúng tôi kết hôn tại nhà của chính người làm chứng ở Woodland Hills. Bà ngoại đã ở đó, cùng với mẹ tôi và bạn trai lúc đó của mẹ, một doanh nhân khởi nghiệp bán đồ ăn tên là Arnie Fromin. Không có người thân nào bên nhà Bonnie đến dự; có thể hiểu mẹ nàng đã tức giận với tình cảnh tôi đặt ra cho con gái bà như thế nào.

Đó không phải là một câu chuyện lãng mạn mà nhiều thiếu nữ vẫn ao ước khi còn trẻ. Bonnie mặc quần dài, áo phông, chân đi dép tông. Nàng thậm chí chẳng buồn chỉnh trang bản thân. Sau đó, chúng tôi về căn hộ của mình, bà tôi đem theo một đĩa thức ăn.

Tình hình pháp lý chuyển từ tệ sang tồi tệ. Ngoài án hình sự, SCO còn đâm đơn kiện tôi 1,4 triệu đô-la vì những phá hoại. Và một đơn tương tự cho Bonnie.

Rồi bỗng nhiên có chút hy vọng. Hóa ra đơn kiện đó chỉ là đòn bẩy: Bên công tố nói rằng người của SCO sẽ bỏ đơn kiện dân sự nếu tôi nói cho họ biết tôi đã hack như thế nào. Họ chưa bao giờ tìm ra được cách.

Tất nhiên là tôi đồng ý. Tôi ngồi cùng một tay quản trị viên hệ thống tên là Stephen Marr, hắn hành động như thể chúng tôi sẽ nói chuyện như những người bạn tốt. Còn tôi thì hành xử như bị hỏi cung: Hắn hỏi, tôi trả lời. Nhưng không có gì nhiều để nói. Không có bí mật hacking công nghệ cao nào. Tôi bảo hắn, tôi chỉ đơn giản gọi một thư ký và đò đưa cô ta nôn ra tên đăng nhập và đổi mật khẩu thành cái tôi đưa – không có gì phức tạp.

Dù mẹ của Bonnie không đến đám cưới, nhưng bà vẫn tổ chức cho chúng tôi một bữa tiệc sau lễ cưới ở nhà tại San Dimas. Lần này, Bonnie mặc một bộ váy cưới và tôi thuê một bộ âu phục. Cha và em trai tôi, Adam, đã ở đó và tất nhiên là cả mẹ và bà tôi, cùng anh chị em của Bonnie, thậm chí cả bạn trai cũ của Bonnie. Hôm đó là một ngày hạnh phúc hơn rất nhiều so với đám cưới thật với đầy đủ cả bánh cưới và thợ chụp ảnh.

Án hình sự cho vụ đột nhập SCO hóa ra nhẹ hơn rất nhiều so với những gì tôi nghĩ. Họ cũng hủy án của Bonnie, và luật sư của tôi, Michael Barton, quen với bên công tố nên đã đem về cho tôi một thỏa hiệp hợp lý. Nếu là bất kỳ ai khác – với lần phạm tội đầu tiên trên phương diện pháp lý, bởi hồ sơ vị thành niên của tôi đã bị niêm phong – vụ này sẽ bị khép vào tội nhẹ. Nhưng vì tôi là Kevin Mitnick danh tiếng lẫy lừng, nên phía công tố lúc đầu khăng khăng muốn kết trọng tội – dù theo luật, việc đột nhập mạng SCO của tôi chỉ gắn với tội nhẹ. Tôi đồng ý nhận tội đột nhập để dàn xếp vụ việc và để hủy án nhắm vào Bonnie. Tôi sẽ không phải ngồi tù mà chỉ phải trả một khoản phí khiêm tốn 216 đô-la và bị “giam lỏng” trong 36 tháng – có nghĩa là tôi không cần phải báo cáo cho nhân viên Quản chế. Điều kiện duy nhất mà hiển nhiên tôi phải hứa là “không tái phạm thêm lần nào nữa”.

Vài ngày sau, tôi lái xe đến Santa Cruz để lấy lại đồ đạc đang bị giữ. Cảnh sát đưa cho tôi chiếc máy tính đầu cuối nhưng không có đĩa, việc này khiến tôi lo lắng vì những chiếc đĩa đen đó có chứa bằng chứng về những vụ hack vào Pacific Bell cùng với một số nơi thú vị khác. Họ cũng không trả lại một chiếc hộp khác dù họ hẳn cũng chưa xem xét kỹ hay quan tâm đến: Nó có chứa cần sa và điếu hút của Bonnie. Nhưng dù sao thì đây cũng là Santa Cruz, với một sở cảnh sát địa phương nhỏ.

Câu chuyện Santa Cruz để lại một dư chấn. Đúng như tôi đã lo sợ, các thanh tra ở Santa Cruz hẳn đã tìm cách xem xét đống đĩa vi tính đó và thông báo cho Pacific Bell về những gì tôi đã làm với hệ thống của họ. Phòng An ninh Pacific Bell đã bị báo động đủ để lập một bản ghi nhớ nội bộ gửi tới tất cả các cấp quản lý. Tôi biết về việc này theo cách vô cùng lạ lùng: Một nhân viên của Pacific Bell tên là Bill Cook, cũng là một gã chơi ham radio hay dùng tần số tiếp sóng tai tiếng 147,435 MH ở Los Angeles, đã đọc bản ghi nhớ này trên sóng chỉ để kích động tôi.

Tất nhiên, tôi phải tận mắt nhìn thấy bản ghi nhớ này. Nhưng làm thế nào tôi có thể lấy được nó?

Tôi liên hệ với Lewis De Payne trong giờ làm việc và nhờ cậu ta tạm thời lập trình lại máy fax để các cuộc gọi đến sẽ được trả lời tự động rằng chúng thuộc về Phòng An ninh Pacific Bell.

Sau đó, tôi quay số đến bộ chuyển mạch của công ty điện thoại xử lý dịch vụ cho Phòng An ninh Pacific Bell, và lập trình lại đường điện thoại cho máy fax sao cho nó sẽ chuyển tiếp cuộc gọi đến số máy fax ở chỗ làm của Lewis. Thế là xong phần chuẩn bị.

Sau đó, tôi gọi cho văn phòng Phó Giám đốc Pacific Bell, Frank Spiller.

Thư ký của gã nhận điện. Tôi nói tôi gọi từ Phòng An ninh của Pacific Bell và nói tên của một trong những điều tra viên có thật – hình như tôi đã nói tôi là Steve Dougherty.

Tôi hỏi: “Frank đã nhận được bản ghi nhớ về vụ của Kevin Mitnick chưa?”

“Đó là ai thế?” cô ta hỏi.

“Hacker đã đột nhập vào máy tính của công ty chúng ta.”

“Ồ, phải rồi. Tôi có nó rồi đây.”

Tôi nói: “Tôi nghĩ tôi đã gửi một bản cũ và từ đó đến nay đã có sửa đổi. Cô có thể fax bản cô có cho tôi không?” Tôi đưa cô ta số fax nội bộ của Phòng An ninh Pacific Bell ở Bắc California.

“Tất nhiên,” cô ta nói. “Tôi làm ngay đây.” Ngay khi Lewis nhận được bản fax, cậu ta fax lại cho tôi, sau đó tôi và cậu ta cùng làm ngược lại các bước chuẩn bị.

Đây là danh sách những thứ mà bản ghi nhớ ghi lại những thứ tìm thấy trong đĩa mềm của tôi:

Mitnick đã kiểm soát tất cả máy tính SCCESAC ở Nam California. Trong tập tin là tên, tên đăng nhập, mật khẩu và số điện thoại nhà riêng của các nhân viên ESAC ở phía Bắc và phía Nam. Số dial-up và tài liệu định mạch cho các máy tính SCC và bộ dữ liệu. Các lệnh kiểm thử và chiếm đoạt các đường dây và kênh kiểm thử. Các lệnh và thông tin đăng nhập tại các trung tâm đấu dây COSMOS ở Bắc và Nam California. Các lệnh để giám sát đường dây và chiếm âm hiệu quay số. Các dấu hiệu cho thấy hành vi giả mạo đặc vụ an ninh của Nam California và nhân viên của ESAC để lấy thông tin. Các lệnh để đặt bẫy ngắt và khởi tạo. Địa chỉ của các văn phòng của Pacific Bell cùng mã cửa ra vào tại các văn phòng trung tâm phía Nam California ELSG12, LSAN06, LSAN12, LSAN15, LSAN56, AVLN11, HLWD01, HWTH01, IGWD01, LOMT11 và SNPD01. E-mail nội bộ của công ty chứa thông tin chi tiết về thủ tục đăng nhậpmật khẩu mới cũng như các lớp bảo mật. Bản ghi của một tập tin hacker về bộ giải mã hóa UNIX. Nếu thành công, chương trình này có thể đột nhập vào bất kỳ hệ thống UNIX nào.

Tôi tưởng tượng ra cảnh nhiều người trong công ty ắt phải rất tức tối khi biết tôi đã thâm nhập sâu vào hệ thống của họ, vượt qua tất cả các lớp bảo mật an ninh phức tạp của họ đến mức nào. Dựa theo những gì tìm thấy trong đống đĩa, tôi thấy kỳ lạ khi FBI vẫn chưa gõ cửa nhà tôi.

Vài tháng sau, vào mùa thu năm 1988, tôi trở lại làm việc với Don David Wilson ở Franmark. Bonnie vẫn làm ở GTE, dù nàng chắc chắn Phòng An ninh của công ty đã cố tìm bằng chứng cho thấy việc nàng hack vào máy tính của công ty. Chúng tôi lại tiết kiệm tiền, cố gắng gom đủ để đặt cọc mua nhà. Có một vài căn nhà xinh đẹp phù hợp với chúng tôi, nhưng lại quá xa thành phố khiến việc đi lại trở nên ngán ngẩm và bào mòn trí lực cũng như sự kiên nhẫn của chúng tôi.

Để giúp chúng tôi đạt được mục tiêu mua nhà, mẹ cho vợ chồng tôi ở lại một phòng ngủ trống trong nhà để tiết kiệm tiền thuê. Dù cả tôi và Bonnie đều không thích ý tưởng đó, nhưng chúng tôi vẫn quyết định thử xem.

Việc sống chung với mẹ tôi hóa ra lại là một ý tưởng tồi tệ. Dù bà rất nhiệt tình giúp đỡ, nhưng chúng tôi gần như không có chút riêng tư nào. Về sau, trong một tờ giấy nhớ nàng để lại ở nhà mẹ, Bonnie phàn nàn rằng nàng thấy “miễn cưỡng và có chút cay đắng... về chuyện đó”.

Chúng tôi ngày một xa rời nhau và tôi ngày càng lún sâu vào hacking. Tôi dành cả ngày ở chỗ làm tại Franmark và cả đêm với Lenny DiCicco, chủ yếu là tập trung hack vào công ty Digital Equipment.

Khi Lenny bảo tôi cậu ta đã đăng ký một lớp học máy tính ở trường Cao đẳng Pierce gần đó, tôi nói tôi cũng sẽ đăng ký cùng cho có bạn, bất chấp quá khứ trước đó của tôi với ông thầy trưởng khoa Khoa học Máy tính, vụ đó đã khiến tôi phải bỏ dở chương trình. Hóa ra phòng quản lý vẫn chưa quên tôi, nhưng lúc đó tôi chưa hay biết gì về việc này.

Một ngày nọ, Lenny và tôi vào phòng máy tính dành cho sinh viên, nơi đặt một đống thiết bị đầu cuối kết nối với một hệ thống MicroVAX VMS. Chúng tôi nhanh chóng hack máy và chiếm được toàn bộ đặc quyền. Lenny viết một đoạn mã cho phép chúng tôi tạo ra bản sao của toàn bộ hệ thống. Chúng tôi không có mục đích sử dụng gì cho nó cả: Chúng tôi chỉ coi nó như một chiến tích. Vì thế, ngay khi vào được hệ thống, Lenny đặt một chiếc đĩa từ vào ổ đĩa của máy tính, và chạy đoạn mã lệnh để bắt đầu sao lưu, rồi chúng tôi rời đi. Chúng tôi định sẽ quay lại sau vài tiếng, khi việc sao chép đã hoàn tất.

Một lúc sau, khi chúng tôi đang đi bộ trong trường, tôi nhận được tin nhắn của Eliot Moore, một người bạn đã lâu không nói chuyện. Tôi đến máy điện thoại công cộng và gọi lại cho cậu ta.

“Cậu đang ở trường Pierce đấy à?” cậu ta hỏi.

“Ừ.”

“Cậu để đĩa trong ổ đĩa đấy à?”

“Ôi chết tiệt... sao cậu biết?” tôi nói.

“Đừng quay lại phòng máy tính,” cậu ta cảnh báo tôi. “Họ đang đợi cậu ở đó.” Nhờ sự tình cờ lạ lùng nào đó, Eliot đã ở trong phòng máy tính khi giáo viên để ý thấy ánh đèn chớp nháy từ ổ đĩa MircoVAX. Rõ ràng là có ai đó đã nhét một chiếc đĩa từ vào và đang sao chép các tập tin.

Giáo viên lớp Khoa học Máy tính, Pete Schleppenbach, đã ngay lập tức nghi ngờ chúng tôi. Eliot nghe lỏm được thầy giáo đang bàn bạc tình hình với các nhân viên khác và ngay lập tức gọi cho tôi. Nếu cậu ta không gọi, chúng tôi đã sa bẫy.

Sau đó, trường đã liên hệ với LAPD để báo cáo vụ việc.

Do chúng tôi chưa đến lấy chiếc đĩa, nên họ không có bằng chứng và chúng tôi vẫn tiếp tục được ở lại trường, lên lớp và dùng phòng máy. Nhưng LAPD để mắt đến chúng tôi, điều động người giám sát trên trần lớp học và theo dõi chúng tôi nhiều ngày liền. Hẳn bạn sẽ nghĩ họ phải có vụ gì thú vị hơn để xử lý. Đêm đến, họ theo chúng tôi đến chỗ làm của Lenny, nơi chúng tôi ở đó hack đến tận sáng sớm. Họ biết chúng tôi đang làm việc xấu, nhưng không chứng minh được.

Hẳn là mấy gã ở Cao đẳng Pierce cảm thấy rất thất vọng, nhưng họ vẫn chưa chịu dừng lại. Tôi để ý thấy một chiếc xe của công ty DEC trong bãi đỗ xe của trường. Vậy là tôi gọi đến văn phòng bên ngoài của DEC ở Los Angeles, nói rằng mình đến từ Phòng Thanh toán của Cao đẳng Pierce, và hỏi rằng họ đang hỗ trợ chúng tôi chuyện gì.

“Ồ,” gã đó nói với tôi, “chúng tôi đang cố giúp các anh bắt mấy tay hacker.”

Ở một thiết bị đầu cuối trong phòng máy ở Pierce, tôi đã truy ra được một địa chỉ bộ nhớ từ tài khoản sinh viên của mình, trong đó chỉ ra rằng tài khoản của tôi đã được kích hoạt “kiểm định bảo mật”.39* Lenny cũng kiểm tra tài khoản của cậu ta bằng kỹ thuật tương tự và cũng thu được kết quả tương tự. Gã từ DEC nấp trong một căn phòng nhỏ với máy tính và máy in, theo dõi mọi việc chúng tôi làm từ tài khoản sinh viên. (Tôi phát hiện ra việc này nhờ một hôm đến sớm trước khi gã đến và theo gã vào phòng.) Tôi nghĩ việc này hơi quá bởi sinh viên chỉ dùng hệ thống để hoàn thành bài thực hành và nó không được kết nối mạng hay nối với dây điện thoại. Nhưng tôi đã tìm ra cách khiến cho gã bận rộn: Tôi viết một đoạn chương trình rất đơn giản liệt kê tất cả các tập tin trong thư mục của tôi, lặp đi lặp lại. Vì chương trình kiểm định bảo mật được thiết kế để gửi cảnh báo chi tiết về tất cả các tập tin được mở hoặc được đọc, tôi biết máy in của gã sẽ hoạt động không ngừng. Tôi có thể hình dung ra việc gã ngồi trong căn phòng nhỏ xíu đó, vò đầu bứt tai khi máy in liên tục chạy cho đến khi hết giấy. Và ngay khi gã đưa thêm giấy vào, danh sách tập tin sẽ lại tiếp tục được in ra.

39Kiểm định bảo mật (security auditing): Quy trình kiểm tra các ứng dụng và hệ điều hành trong nội bộ để tìm ra lỗ hổng bảo mật. (BTV)

Một thời gian ngắn sau đó, thầy giáo lôi tôi và Lenny ra khỏi phòng thí nghiệm máy tính và kết tội chúng tôi đã gõ lệnh trái phép. Tôi hỏi: “Chúng em không được phép liệt kê tập tin của chính mình ạ?” Cả Lenny và tôi đều bị tống lên văn phòng khoa để xử lý.

Vài tuần sau, phòng quản lý của trường Pierce tổ chức một phiên tòa không chính quy nhằm xử vụ của chúng tôi. Họ vẫn nghi chúng tôi là thủ phạm đứng đằng sau vụ hacking, nhưng không chứng minh được. Không nhân chứng. Không dấu vân tay. Không lời thú tội. Bất chấp những điều đó, cả Lenny và tôi vẫn bị đuổi khỏi Pierce, dựa trên những chứng cứ gián tiếp.

❀ ❀ ❀

[1] 38* David và Goliath là câu chuyện cổ trong Kinh thánh về cuộc chiến không cân sức nhưng có kết quả ngoài dự đoán giữa nhân vật David nhỏ bé yếu ớt và người khổng lồ hùng mạnh Goliath. Hiện nay, người ta hay dùng hình ảnh David và Goliath để hàm chỉ tình huống tương tự khi hai bên đối đầu (một người hay tổ chức nào đó) có thực lực chênh lệch hoàn toàn nhưng phần thắng lại thuộc về kẻ yếu thế. (ND)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.