Bạn từng bước trên con đường tối om hay đi qua khu vực đỗ xe của trung tâm thương mại vào lúc nửa đêm khi không có ai xung quanh và luôn cảm giác rằng ai đó đang dõi theo mình chưa?
Hẳn là lạnh xương sống lắm!
Đó cũng chính là cảm giác của tôi về sự bí ẩn xoay quanh cái tên Wernle và Martinez. Đó là người thực, hay chỉ là các biệt danh của Eric Heinz?
Tôi biết mình nên dừng việc tìm kiếm và cũng không nên đánh liều để bị bắt quả tang tiếp tục hacking một lần nữa… nhưng biết đâu tôi có thể thu được thêm một phần sự thật nào đó. Hóa đơn điện thoại của Martinez cho tôi danh sách các số mà hắn đã gọi. Có lẽ tôi có thể có thêm chút manh mối từ việc tìm ra ai đã gọi cho hắn.
Tôi cần thực hiện “phân tích lưu lượng”. Quá trình này bắt đầu từ việc xem xét hồ sơ chi tiết cuộc gọi của một ai đó sau khi xác định được số điện thoại của họ và lấy được thông tin từ những hồ sơ này. Anh ta thường gọi cho ai? Ai gọi cho anh ta? Liệu anh ta có thực hiện hay nhận được một chuỗi các cuộc gọi liên tiếp từ một người nhất định nào đó? Liệu có ai đó mà anh ta hầu như chỉ gọi vào buổi sáng? Còn buổi tối thì sao? Các cuộc gọi với người kia có đặc biệt dài không? Hay đặc biệt ngắn? vv…
Sau đó, bạn lại tiến hành phân tích tương tự những người mà anh ta hay nói chuyện nhất.
Kế tiếp bạn đặt câu hỏi, những người này hay gọi cho ai?
Chắc bạn đã bắt đầu mường tượng ra được. Tôi phải cực kỳ cố gắng vì quá trình này chiếm hầu hết thời gian rảnh của tôi, tới vài giờ mỗi ngày. Nhưng tôi cần phải biết. Không có cách nào khác: Nỗ lực này là cần thiết bất kể rủi ro có lớn chừng nào.
Tôi có cảm giác tương lai của tôi phụ thuộc vào việc này.
Tôi đã có chi tiết cuộc gọi di động của Martinez trong ba tháng gần nhất. Để bắt đầu, tôi phải hack vào PacTel Cellular để tìm xem chi tiết cuộc gọi của họ lưu ở đâu trong hệ thống, có vậy tôi mới có thể tìm kiếm danh mục các thuê bao của PacTel đã gọi tới máy nhắn tin, hòm thư thoại và điện thoại cố định của Eric.
Khoan đã, tốt hơn nữa là nếu đằng nào tôi cũng hack vào PacTel, tôi còn có thể nhân tiện lấy hồ sơ dịch vụ khách hàng của tất cả các số điện thoại mà Martinez đã gọi trong hệ thống của họ, nhờ đó biết được chủ sở hữu của các điện thoại này.
Tôi không biết nhiều lắm về quy ước đặt tên hệ thống nội bộ của công ty, do đó để bắt đầu, tôi gọi tới số công khai của dịch vụ khách hàng, thường dành cho những người muốn đăng ký gói cước cuộc gọi. Giả vờ là nhân viên hỗ trợ nội bộ của PacTel, tôi hỏi: “Chị có dùng CBIS không?” (tên viết tắt này được dùng trong một số công ty điện tử viễn thông, có nghĩa là Customer Billing Information System – hệ thống thông tin hóa đơn khách hàng).
“Không,” người phụ nữ ở đầu dây bên kia nói. “Tôi đang dùng CMB.”
“À, vâng, cảm ơn chị.” Tôi dập máy, giờ thì đã có thêm một mẩu thông tin để tăng độ tin cậy cho bản thân. Tôi gọi vào số nội bộ của Phòng Điện tử Viễn thông, đưa tên của một vị quản lý ở Phòng Kế toán và nói rằng chúng tôi có một khách thầu tới làm việc tại công ty và cần được phân cho một số thuê bao để có thể nhận thư thoại. Người phụ nữ ở đầu dây bên kia đã giúp tôi thiết lập một tài khoản thư thoại. Tôi quay số và đặt mật khẩu là “3825”. Sau đó, tôi để lại tin báo thư thoại. “Đây là Ralph Miller. Tôi hiện không có ở bàn làm việc, xin hãy để lại tin nhắn.”
Cuộc gọi kế tiếp là tới phòng IT để tìm xem ai quản lý CMB; đó là một gã có tên Dave Fletchall. Khi anh ta nhấc máy, câu hỏi đầu tiên là: “Số gọi lại của anh là gì?” Tôi cho anh ta số nội bộ của hòm thư thoại mà tôi vừa mới kích hoạt trước đó.
Khi tôi thử tiếp cận bằng mẹo “tôi phải đi công tác và cần đăng nhập từ xa”, anh ta trả lời: “Tôi có thể cho anh số truy cập, nhưng vì lý do bảo mật, chúng tôi không được phép thông báo mật khẩu qua điện thoại. Chỗ ngồi của anh ở đâu?”
Tôi nói: “Giờ tôi không có mặt ở văn phòng. Anh có thể cho vào phong bì và gửi lại Mimi hộ tôi được không?” – Mimi là thư ký của phòng, tôi đã tìm được cái tên này trong cuộc điều tra trước đó. Anh ta không phản đối. “Anh giúp tôi một chút được không?” Tôi nói. “Tôi đang trên đường tới cuộc họp, anh có thể gọi vào máy tôi và để lại số điện thoại được không?”
Anh ta tiếp tục đồng ý.
Sau đó, vào buổi chiều, tôi gọi cho Mimi, nói rằng tôi bị kẹt ở Dallas. Tôi nhờ cô ấy mở phong bì mà Dave Fletchall đã gửi và đọc thông tin đó cho tôi. Sau khi có được thông tin cần dùng, tôi nhờ cô ấy bỏ phong bì vào sọt rác vì tôi không cần đến chúng nữa.
Endorphins lại tuôn trào và những ngón tay tôi như đang nhảy múa. Thực sự kích thích!
Đâu đó trong suy nghĩ, tôi luôn e ngại rằng những người bị tôi tấn công bằng kỹ thuật xã hội nửa chừng có thể phát hiện ra và mớm thông tin ma để tóm tôi.
Lần này thì không có gì đáng lo. Cũng như mọi lần, tôi lại thành công trót lọt.
À không – cũng không hoàn toàn thế. Tôi đăng nhập vào hệ thống CMB, thật dễ dàng bởi hóa ra nó là máy tính VAX sử dụng hệ điều hành yêu thích của tôi, VMS. Nhưng tôi không phải là nhân viên của PacTel Cellular, do đó tôi không có tài khoản hợp lệ trên máy.
Tôi gọi điện cho Phòng Kế toán trong vai một nhân viên IT và đề nghị được nói chuyện với ai đó đang đăng nhập vào CMB.
Melanie nghe máy. Tôi nói mình làm việc cùng Dave Fletchall ở phòng IT và chúng tôi phát hiện ra CMB có chút vấn đề – liệu cô ta có thể dành ra vài phút được không?
Đương nhiên.
Tôi hỏi cô ta: “Gần đây cô có thay đổi mật khẩu không? Bởi chúng tôi mới nâng cấp phần mềm để thay đổi mật khẩu và chúng tôi muốn thử xem nó có hiệu quả không.”
Không, gần đây cô ta không đổi mật khẩu.
“Melanie, địa chỉ e-mail của cô là gì?” Ở PacTel Cellular, địa chỉ e-mail của nhân viên đồng thời chính là tên tài khoản của người đó và tôi cần tên đăng nhập của cô ta để đăng nhập vào hệ thống.
Tôi yêu cầu cô ta đóng tất cả các ứng dụng đang mở, thoát khỏi hệ thống và sau đó đăng nhập lại để tôi có thể xác định được liệu cô ta có thể truy cập vào giao diện dòng lệnh của hệ điều hành hay không. Sau khi, cô ta nói mình có thể, tôi nói: “Cô gõ ‘set password’ (đặt mật khẩu) vào đi.”
Sau đó, cô ta sẽ thấy một dấu nhắc có ghi “Old password” (mật khẩu cũ).
“Giờ cô gõ mật khẩu cũ của cô vào đó, không cần nói cho tôi biết đâu,” tôi còn bổ sung thêm một bài học nho nhỏ về việc không được nói cho ai biết mật khẩu của mình.
Lúc này, cô ta hẳn đã thấy dấu nhắc ghi “New password” (mật khẩu mới).
Giờ thì tôi đã mở giao diện hệ điều hành ra và chờ đợi. “Giờ cô hãy nhập mật khẩu ‘pactel1234’, khi nào hiện dấu nhắc mới thì cô gõ lại mật khẩu đó một lần nữa giúp tôi. Sau đó nhấn Enter.” Ngay lúc cô ta làm xong bước cuối, tôi lập tức đăng nhập vào VMS bằng tên đăng nhập và mật khẩu “pactel1234”.
Giờ thì não tôi căng ra để làm đồng thời hai việc một lúc. Tôi gõ điên cuồng vào bàn phím, nhập chương trình 15 dòng lệnh nhằm khai thác một điểm yếu chưa được sửa lỗi của VMS, biên dịch và chạy chương trình, sau đó lập tài khoản mới với toàn quyền quản trị trong hệ thống.
Cùng lúc đó, tôi vẫn tiếp tục đưa ra chỉ dẫn cho Melanie. “Giờ cô thoát khỏi tài khoản… Giờ lại đăng nhập lại với tài khoản mới… cô vào được chưa? Tốt. Giờ cô mở lại các ứng dụng vừa mới tắt và kiểm tra xem nó có hoạt động bình thường không… Có hả? Tốt rồi.” Sau đó, tôi lại hướng dẫn cô ta đặt lại mật khẩu một lần nữa, không quên nhắc cô ta không được để lộ ra cho tôi hay bất kỳ ai mật khẩu mới thiết lập.
Giờ thì tôi đã có toàn quyền đăng nhập vào cụm VMS của PacTel, đồng nghĩa với việc tôi có thể truy cập được toàn bộ thông tin tài khoản khách hàng, hồ sơ hóa đơn, dãy số điện tử và nhiều thông tin khác nữa. Một chuyện phi thường. Tôi cảm ơn Melanie vì đã giúp đỡ.
Vẫn còn nhiều việc phải làm. Tôi dành vài ngày sau đó để tìm kiếm vị trí lưu trữ CDR và tìm cách truy cập vào hồ sơ đăng ký dịch vụ khách hàng, có vậy tôi mới có thể dễ dàng thăm dò tên, địa chỉ và tất cả thông tin khác của mỗi thuê bao điện thoại.
CDR được đặt trong một ổ cứng có dung lượng lớn, chứa dữ liệu thời gian thực của mọi cuộc gọi đi và của các khách hàng tại Los Angeles trong vòng 30 ngày – một lượng tập tin vô cùng khổng lồ. Tôi có thể dò tìm ngay trên hệ thống, dù phải mất 10-15 phút mỗi lần tìm như vậy.
Số máy nhắn tin của Eric chính là điểm xuất phát. Liệu có ai ở PacTel gọi vào máy nhắn của Eric không, số 213 701-6852? Có khoảng nửa tá cuộc gọi từ hai số khác nhau. Đây là danh sách, chính xác như những gì xuất hiện trên hồ sơ của PacTel:
2135077782 0 920305 0028 15 2137016852 LOS ANGELE CA
2135006418 0 920304 1953 19 2137016852 LOS ANGELE CA
Số “213” ở đầu mỗi dòng là số gọi đến. Cụm số bắt đầu với “92” thể hiện năm, ngày và tháng – tức là cuộc gọi đầu tiên thực hiện vào ngày 5 tháng 3 năm 1992, kéo dài 28 phút vào nửa đêm.
Tôi nhận ra số điện thoại đầu tiên: Đây là số điện thoại trên hợp đồng thuê nhà của Eric, được đăng ký dưới tên Mike Martinez. Một lần nữa, đây là dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Tôi đã nghĩ “Martinez” có lẽ chỉ là tên giả của Eric, hoặc “Eric” là tên giả của Martinez, nhưng nếu vậy thì khá vô nghĩa, bởi Martinez không thể gọi điện đến số nhắn tin riêng của hắn.
Vậy gã Martinez còn gọi cho ai nữa và ai gọi cho hắn?
Tôi tìm trên CDR của PacTel. Không có gì cho thấy hắn gọi cho FBI, thông tin tôi đã phát hiện ra sau khi có số điện thoại từ hợp đồng của Eric. Có khá ít cuộc gọi tương tác từ các số điện thoại thuê bao PacTel; tôi chép những số này vào sổ tay. Giờ là lúc kiểm tra hồ sơ cuộc gọi của từng thuê bao này.
Tất cả các số trong danh sách đều thuộc về những người hay liên lạc với nhau, cũng như với văn phòng FBI ở Los Angeles và các cơ sở chấp pháp khác.
Khốn kiếp! Tôi đã thuộc nằm lòng những số này. Số để bàn và di động của Terry Atchley thuộc đội An ninh của Pacific Bell. Quản lý của Phòng An ninh Pacific Bell ở Bắc California, John Venn. Còn có cả số máy nhắn tin của Eric, hòm thư thoại và các số máy bàn nhà hắn. Và số điện thoại của nhiều đặc vụ FBI khác (số của họ đều bắt đầu bằng mã số vùng giống nhau, số tổng đài và số kéo dài đầu tiên: 310 996-3XXX). Cụm số cuối cho thấy rõ ràng Martinez cũng là một đặc vụ, đồng nghĩa với việc tất cả các đặc vụ khác có lẽ thuộc cùng một tổ nhiệm vụ.
Các cuộc gọi khác vào máy nhắn tin của Eric hiện ra trước mắt tôi đều đến từ số 213 500-6418. Dò theo số này, tôi tìm được cả một mỏ vàng. Có khá ít cuộc gọi ngắn vào buổi tối tới một số máy nội bộ duy nhất của FBI. Một giải thích hợp lý đấy chứ? Gã này hẳn là muốn kiểm tra hòm thư thoại của mình.
Tôi quay số.
“Tôi là Ken McGuire, hãy để lại tin nhắn.”
Ken McGuire là gã khốn nào và tại sao hắn lại theo dõi tôi?
Tôi nhấn phím “0”, dự đoán sẽ kết nối với quầy lễ tân.
Thay vào đó, một người phụ nữ nhấc máy và trả lời: “Phòng Tội phạm Cổ cồn trắng, đội 3 xin nghe.” Chỉ bằng một vài câu hỏi vô thưởng vô phạt, tôi đã có mảnh ghép kế tiếp trong bộ xếp hình: Đặc vụ Ken McGuire thuộc đội 3 phòng Tội phạm Cổ cồn Trắng của trụ sở FBI ở Los Angeles, hay còn gọi là WCC3. Hắn có lẽ là sếp chỉ đạo của Eric.
Khốn kiếp! Làm gì có ai dám điều tra FBI ngay lúc FBI cũng đang điều tra hắn?
Mọi việc dồn dập xuất hiện cùng lúc và dường như cả một trận cuồng phong sắp xuất hiện. Tôi có cảm giác mình đã không còn đường để quay lại, nhưng tôi sẽ không từ bỏ khi chưa thử vùng vẫy.