Tới cuối mùa xuân năm 1994, tôi vẫn dùng thân phận Eric Weiss và làm việc tại hãng luật ở Denver. Tôi thường dành cả giờ nghỉ trưa trên điện thoại. Thời ấy, mỗi phút dùng mạng Wi-fi tốn 1 đô-la, và còn xa mới tới thời kỳ người người rảnh rang tán gẫu trên mạng không dây. Nghĩ lại thì khi ấy trông tôi hẳn phải rất đáng ngờ vì dành nhiều thời gian trên điện thoại di động đến như vậy, đặc biệt là khi tôi chỉ kiếm được 28.000 đô-la mỗi năm.
Một ngày nọ, tất cả nhân viên của Phòng IT cùng ăn trưa với Elaine và sếp của cô ta, Howard Jenkins. Trong lúc tán gẫu, Howard hỏi tôi: “Eric, anh học ở Washington nhỉ? Anh cách Seattle bao xa?”
Tôi cho rằng mình đã nghiên cứu đủ sâu để che giấu bản thân, nhớ được tên của vài vị giáo sư dạy tại Ellenburg trong những năm tương ứng với nội dung ghi trong sơ yếu lý lịch và những điều tương tự. Nhưng thú thực, tôi không biết phải trả lời câu hỏi này thế nào. Tôi giả vờ ho sù sụ, vẫy tay xin thứ lỗi và nhanh chóng lao vào nhà vệ sinh nam, miệng vẫn không ngừng ho.
Từ trong buồng vệ sinh, tôi gọi tới Đại học Central Washington bằng di động và nói với người phụ nữ ở phòng giáo vụ rằng tôi đang suy nghĩ về việc nộp hồ sơ và tự hỏi sẽ mất bao lâu để lái xe từ Seattle tới đó. “Khoảng hai giờ đồng hồ,” cô ta nói, “nếu không phải giờ cao điểm.”
Tôi nhanh chóng quay lại bàn, xin lỗi vì đã chạy mất, giải thích rằng có lẽ mình bị nghẹn đồ ăn. Khi Howard nhìn tôi, tôi nói: “Xin lỗi, nhưng ban nãy anh hỏi gì tôi nhỉ?” Ông ta nhắc lại câu hỏi trước.
“À, khoảng hai giờ nếu đường không đông lắm,” tôi trả lời. Tôi mỉm cười và hỏi ông ta từng tới Seattle bao giờ chưa. Trong suốt phần còn lại của bữa trưa, không còn câu hỏi nào nhắm tới tôi nữa.
Trừ mối lo ngại liên quan đến việc che giấu thân phận, công việc của tôi khá suôn sẻ trong hơn một năm. Sau đó, tôi bị đánh lén. Khi tìm một số tài liệu trên bàn Elaine vào buổi tối nọ, tôi bắt gặp một bì thư mở có chứa nội dung quảng cáo đăng tin cần tìm chuyên gia IT. Mô tả nhiệm vụ trên tin tuyển dụng hoàn toàn khớp với công việc của Darren. Hoặc tôi.
Đây quả là một hồi chuông cảnh báo. Elaine chưa từng nhắc tới việc hãng muốn tuyển thêm người, như vậy chỉ có một giải thích duy nhất: Cô ta và sếp mình đã sẵn sàng sa thải một trong số chúng tôi. Nhưng ai sẽ là kẻ chịu trận?
Ngay lập tức, tôi lao vào tìm kiếm câu trả lời. Càng cố khám phá, việc đâm lén này càng trở nên phức tạp. Tôi biết Elaine không hài lòng với Darren, liên quan tới việc anh ta bị phát hiện đã gặp gỡ tư vấn khách hàng riêng trong giờ làm việc. Tôi lại phát hiện ra một manh mối khác trong e-mail của Ginger gửi cho Elaine có đoạn: “Eric ở đây suốt ngày, chăm chú làm việc gì đó mà tôi không biết.”
Tôi cần thêm thông tin. Sau giờ làm, tôi xuống Phòng Nhân sự ở tầng 41. Tôi đã nghiên cứu khu vực này vài ngày trước đó. Công nhân dọn vệ sinh thường có thói quen bắt đầu ca trực bằng việc mở toang tất cả các cửa, thật hoàn hảo. Tôi lách mình vào, hy vọng có thể nhờ cậy vào khả năng bẻ khóa của mình.
Khóa wafer[1] trên tủ hồ sơ của vị quản lý bật mở ngay lần thử thứ hai – tuyệt. Tôi kéo tập hồ sơ của mình ra và phát hiện phán quyết đã được định sẵn: Khi mọi người trở lại với công việc sau cuối tuần ngày Tưởng niệm Thương binh liệt sĩ, tôi sẽ nhận được thông báo sa thải.
Lý do ư? Elaine nghĩ tôi đang làm việc tự do, nhận tư vấn khách hàng bên ngoài trong giờ làm việc của công ty. Điều đáng mỉa mai đó là công việc này có lẽ là hoạt động đáng ngờ duy nhất mà tôi không làm tại thời điểm này. Elaine hẳn đã đưa ra kết luận dựa trên việc tôi sử dụng di động trong suốt bữa trưa và giờ nghỉ giải lao, và cô ta đã hoàn toàn sai lầm.
Nhân tiện, tôi kéo cả hồ sơ của Darren và phát hiện ra anh ta cũng sẽ bị sa thải. Tuy nhiên, trong trường hợp này, họ có chứng cớ rõ ràng rằng anh ta đã nhận tư vấn cho các khách hàng khác. Tệ hơn cả là anh ta đã làm việc này trong giờ làm. Có vẻ như tôi và anh ta bị đánh đồng vào làm một. Họ biết Darren phá luật và hiển nhiên cho rằng tôi cũng vậy, dù chẳng có chứng cứ gì.
Ngày tiếp theo, để mò thêm thông tin, tôi tiếp cận Ginger: “Tôi nghe nói họ đang tìm người mới cho đội IT. Ai sẽ bị sa thải thế?” Chỉ trong vòng vài phút, cô ta chuyển câu hỏi của tôi cho Elaine và trong vòng chưa tới một giờ, tôi được báo rằng Howard Jenkins muốn gặp tôi trong văn phòng của Maggie Lane, nhân viên Phòng Nhân sự, ngay lập tức. Đúng là ngu ngốc, tôi nghĩ. Tự dưng lại ngứa mồm.
Nếu tôi biết chuyện này sẽ xảy đến, lẽ ra tôi nên dành cả ngày cuối tuần để xóa bỏ dấu vết, xóa sạch khỏi máy tính mọi thứ (có rất nhiều tập tin ở trong đó), những thứ có thể dùng để buộc tội tôi. Đến lúc cao trào nhất, tôi ném đĩa từ, đĩa mềm và bất kỳ thứ gì tôi có thể nghĩ tới vào túi rác, sau đó kéo lê chúng đi và ném vào thùng rác trong khu vực đỗ xe ở bên đường.
Khi tôi quay trở lại, Elaine hết sức tức giận: “Họ đang đợi anh!” cô ta nói. Tôi nói rằng mình cảm thấy cồn cào trong ruột và sẽ quay trở lại sớm nhất có thể.
Dự định giả ngu khi bị buộc tội nhận tư vấn thêm trong giờ làm việc không có tác dụng. Tôi đã thử cách tiếp cận: “Tôi không nhận tư vấn, bằng chứng là gì?” nhưng họ không thèm để tâm. Đơn giản là sa thải.
Vậy là tôi đã bị cắt hoàn toàn nguồn thu nhập. Tệ hơn là hãng luật có vẻ đã điều tra quá trình học hành của tôi, hoặc Sở Thuế vụ đã phát hiện ra số An sinh Xã hội mà tôi sử dụng thuộc về Eric Weiss thực sự.
Không dám ở trong căn hộ của mình qua đêm, tôi tìm một nhà nghỉ gần Cherry Creek, khu vực yêu thích của tôi ở Denver. Sáng hôm sau, tôi thuê một chiếc xe tải U-Haul dài 4m, đóng gói toàn bộ đồ đạc cá nhân và trên đường quay trở lại nhà nghỉ thì rẽ ngang vào một cửa hàng cho thuê đồ đạc, bịa ra câu chuyện khẩn cấp trong gia đình, trao lại chìa khóa căn hộ, thanh toán tiền và đề nghị nhân viên ở đây tới lấy lại giường, bàn, tủ, tivi, vv...
Khi dừng xe tại nhà nghỉ, không để ý thấy chiếc U-Haul quá cao, tôi đâm xe vào trần bãi đỗ. Lo lắng rằng cảnh sát có thể được gọi tới để lập biên bản tai nạn, tôi đề nghị đền bù phần hư hại đó. Gã ở đó ra giá 500-đô-la, có thể hợp lý mà cũng có thể không, nhưng tôi vẫn trả tiền ngay lập tức, dù đó đúng là thời điểm tệ hại để tiêu mất số tiền tôi cần trang trải cuộc sống – cái giá của sự bất cẩn, nhưng cũng là cái giá của việc không muốn phải đối mặt với cảnh sát.
Dĩ nhiên, nhiệm vụ tiếp theo của tôi là tìm cách xóa sạch dữ liệu trên máy tính tôi dùng ở hãng luật. Nhưng phải làm sao đây khi tôi không còn làm việc ở đó nữa?
Vài tuần sau, Elaine đồng ý cho tôi quay lại và chuyển các tập tin “cá nhân” sang đĩa mềm, tức là tất cả số mã nguồn tôi có được từ những lần hacking gần đây. Cô ta ngồi cạnh bên khi tôi làm việc này và trông có vẻ nghi ngại khi thấy tôi xóa từng tập tin một sau khi đã chuyển chúng vào đĩa. Để đánh lạc hướng cô ta, tôi tạo một thư mục mang tên “Eric” trên máy tính và chuyển các tập tin vào đó thay vì xóa chúng. Sau này, tôi sẽ phải tìm cách nào đó để kết nối với máy tính từ xa hoặc lẻn vào công ty để xóa sạch các tập tin trong thư mục này.
Không lâu sau đó, tôi xốc lại tinh thần và quyết định gọi cho Ginger, lấy lý do “muốn giữ liên lạc” nhưng thực ra là hy vọng có thể lấy được chút thông tin hữu ích nào đó. Trong suốt cuộc gọi, cô ta luôn nhắc tới việc gặp rắc rối với hệ thống “BSDI” mà tôi đã cài đặt và quản lý nhằm kết nối hãng luật với mạng Internet.
Tôi nói với cô ta mình có thể giúp qua điện thoại. Trong quá trình hướng dẫn, tôi lừa cô ta gõ vào dòng lệnh:
nc –l –p 53 –e /binsh
Ginger không nhận ra dòng lệnh đó đã cho tôi toàn bộ quyền tiếp cận root vào gateway máy chủ của công ty. Khi cô ta gõ dòng lệnh đó, nó sẽ chạy một chương trình có tên là “netcat”, thiết lập một root shell[2] vào cổng 53, do đó, tôi có thể kết nối vào cổng và được trao cho một root shell tức thì, không cần tới mật khẩu. Cô ta hoàn toàn không phát hiện ra mình đã cài đặt thành công một cửa hậu đơn giản, cho tôi quyền tiếp cận root.
Khi đã đăng nhập thành công, tôi kết nối vào hệ thống máy tính AViiON Data General của công ty, chạy ứng dụng kế toán điện thoại của hãng. Tôi đã cài đặt hệ thống cảnh báo sớm của mình tại đây trước đó. Lý do tôi phải kết nối với AViiON trước tiên là vì vấn đề an toàn: Nếu các sếp quyết định thay đổi mật khẩu trên cụm VMS sau khi sa thải tôi, tức là mọi nỗ lực thử đăng nhập trực tiếp vào cụm VMS với mật khẩu không chính xác sẽ kích hoạt cảnh báo bảo mật đăng nhập-sai từ hệ thống đóng vai trò gateway Internet của công ty. Với việc đăng nhập vào cụm VMS từ AviiON, tôi có thể đảm bảo rằng mật khẩu sai đó được thực hiện từ bên trong công ty. Như vậy, nếu có bất kỳ cảnh báo bảo mật nào thì cũng không phải là xuất phát từ gateway Internet, tránh chỉ thẳng vào tôi vì tôi vốn là người duy nhất từng đăng nhập vào đó.
Sau khi đăng nhập thành công vào hệ thống VMS, tôi mount[3] ổ cứng trên máy tính của mình từ xa; có như vậy tôi mới có quyền chỉnh sửa các tập tin và bí mật xóa toàn bộ những gì có thể dùng làm bằng chứng.
82Vì trên Linux chỉ có thư mục, không có khái niệm ổ đĩa A, B, C, D… như trên Windows, nên khi muốn sử dụng một thiết bị lưu trữ nào đó (ví dụ như ổ cứng), người dùng phải kết nối nó vào một thư mục để có thể truy cập nội dung trên thiết bị từ chỗ đó. (BTV)
Tìm kiếm e-mail của Elaine có nhắc tới tên tôi, tôi phát hiện ra công ty đang cố gắng tổng hợp bằng chứng tự bào chữa đề phòng trường hợp tôi muốn khởi kiện vì bị sa thải một cách vô lý – tôi hoàn toàn có căn cứ để làm việc này nhưng hiển nhiên là tôi không muốn liều lĩnh. Liz được yêu cầu viết tất cả những quan sát cho thấy tôi đã thực hiện tư vấn riêng trong giờ làm việc, cô ta đã trả lời như sau:
Tôi không biết cụ thể về các vấn đề tư vấn riêng của Eric… Anh ấy luôn bận rộn nhưng tôi không rõ anh ấy đang làm gì. Anh ấy dùng điện thoại di động và máy tính rất nhiều.
Đó là tất cả những gì họ có thể thu được từ bất kỳ ai để biện hộ cho việc sa thải tôi. Nhưng đó là một kết quả tìm kiếm có giá trị, bởi điều đó có nghĩa là các vị sếp cũ của tôi chưa phát hiện ra sự thực về tôi.
Tôi tiếp tục kiểm tra các e-mail của công ty trong nhiều tháng sau đó để đảm bảo không có ai lật ngược vụ việc có tên tôi. Không có gì quan trọng xảy ra.
Dù vậy, tôi vẫn duy trì liên lạc với Ginger, thỉnh thoảng lại gọi điện cho cô ta trong vai một người đồng nghiệp cũ để nghe vài mẩu tin vịt trong công ty. Khi tôi nói mình định nộp hồ sơ xin trợ cấp thất nghiệp, cô ta thừa nhận rằng công ty đã rất lo lắng về việc tôi có thể đâm đơn kiện vì bị sa thải vô lý.
Vậy là sau khi tôi bị sa thải, họ nhận ra cần phải điều tra để xem có thể tìm được một lý do hợp thức hóa việc sa thải tôi hay không. Tôi đã không còn lý do gì để duy trì dịch vụ trả lời điện thoại ở Las Vagas cho công ty ảo Green Valley Systems, do đó, khi thử xác minh lại lịch sử tuyển dụng của tôi, họ đã phát hiện ra không có công ty nào như vậy tồn tại. Thêm nhiều nghi vấn khác được đặt ra.
Lần kế tiếp tôi gọi điện, Ginger nghĩ cô ta đã tung một quả bom chí mạng vào tôi: “Hãng luật đã kiểm tra lại. Và, Eric… anh không tồn tại!”
Ồ, vậy là cuộc đời thứ hai của Eric Weiss đã chấm dứt.
Không còn gì để mất, tôi nói với Ginger rằng tôi là một thám tử tư được thuê để thu thập chứng cứ chống lại hãng luật. Và “tôi không được phép thảo luận về chuyện này”.
Tôi tiếp tục: “Có một việc tôi có thể nói với cô. Mọi thứ đều đã bị đặt thiết bị nghe lén – trong văn phòng của Elaine và dưới sàn nâng trong phòng máy tính.” Tôi chắc là ngay sau đó Ginger hẳn phải đi – à không, chạy – tới văn phòng của Elaine để báo tin này. Tôi hy vọng chiến thuật giương đông kích tây này có thể khiến những câu chuyện tôi đã kể với Ginger trong quá khứ đều trở nên đáng ngờ – do đó, họ sẽ không biết phải tin vào đâu.
Tôi vẫn kiểm tra tài khoản Netcom của Lewis hằng ngày xem có tin nhắn gì của cậu ta cho tôi không. Chúng tôi bảo vệ nội dung trao đổi của mình bằng một chương trình mã hóa gọi là “PGP” (viết tắt của “Pretty Good Privacy” – Khá riêng tư).
Một ngày nọ, tôi thấy có tin nhắn, sau khi giải mã, nội dung là: “LITTMAN ĐÃ BỊ 2 ĐẶC VỤ FBI GHÉ THĂM!!!” Điều này khiến tôi lo sợ bởi tôi từng nói chuyện với Jon Littman qua điện thoại, lúc ấy anh ta đang viết một bài báo về tôi cho tờ Playboy. (Thực ra, đó là những gì anh ta nói ban đầu; sau này, anh ta còn kiếm được hợp đồng viết cả một cuốn sách về câu chuyện của tôi mà không thèm báo cho tôi biết. Nói chuyện với anh ta để viết một bài báo thì không vấn đề gì. Nhưng Littman không để lộ ra rằng anh ta đang viết cả cuốn sách về cuộc đời tôi mãi đến khi tôi bị bắt ở Raleigh. Trước đó, tôi từng từ chối lời mời hợp tác của John Markoff và vợ hắn, Katie Hafner, và sẽ không bao giờ đồng ý nói chuyện với Littman nếu anh ta nói cho tôi biết mình đang viết sách.)
Tôi thực sự thích Denver. Danh tính mới cố định dưới cái tên Brian Merrill đã sẵn sàng. Đã có lúc tôi loay hoay với ý tưởng chuẩn bị cho một cuộc đời hoàn toàn mới – công việc, căn hộ, nơi thuê đồ đạc, xe thuê, tất cả – để ổn định ở Denver mãi mãi. Tôi thích ở lại đây. Tôi đã tính tới chuyện chuyển sang phía bên kia thành phố và bắt đầu lại từ đầu với danh tính mới.
Nhưng rồi tôi mường tượng ra cảnh mình đang ngồi ăn ở nhà hàng với một đồng nghiệp mới, hoặc trong một buổi hẹn hò, hay thậm chí là vợ mình sau này, và ai đó sẽ bước tới với nụ cười rạng rỡ cùng một cái bắt tay: “Xin chào, Eric!” Có lẽ tôi có thể thoái thác rằng họ đã nhầm trong lần đầu tiên, nhưng nếu điều này xảy ra nhiều hơn một lần…
Không, đó không phải là sự mạo hiểm tôi sẵn lòng chấp nhận.
Vài ngày sau, tôi lái chiếc U-Haul chất đầy quần áo và đồ đạc rời khỏi Denver, đi về phía Tây Nam tới Las Vegas để thăm mẹ cùng bà ngoại, và lên kế hoạch cho những bước tiếp theo.
Đăng ký nhận phòng ở Budget Harbor Suites khiến tôi có cảm giác déjà vu83* kỳ quái. Ngay cả lúc ngồi trong phòng và vùi đầu nghiên cứu nơi đặt chân kế tiếp tôi cũng thấy như vậy.
Tôi không ngừng cảnh giác, chưa từng quên Las Vegas là một nơi nguy hiểm như thế nào. Khi còn ở trong tù, tôi đã thấy mấy gã ở đó nếu không phải bị người yêu hoặc vợ tố cáo thì cũng là bị bắt khi đang tới thăm vợ, mẹ hoặc một thành viên nào đó trong gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Nhưng tôi không thể vào thành phố mà không gặp mẹ và bà – họ là tất cả lý do tôi đến đây, mặc kệ những mối nguy hiểm triền miên.
Tôi chuẩn bị sẵn hệ thống cảnh báo sớm quen thuộc, một chiếc ham radio có thể dễ dàng điều chỉnh để truyền tiếp các bước sóng mà mấy sở liên bang thường dùng.
Việc tín hiệu của các sở bị mã hóa khiến tôi thấy thực sự bực mình. Tôi có thể nhận ra một trong số các đặc vụ ở quanh đây, nhưng không thể nắm được các tin truyền đi là về tôi hay ai khác. Tôi thử gọi tới văn phòng Motorola địa phương, phỉnh rằng mình là một đặc vụ FBI và dò hỏi xem liệu có thể lấy được chìa khóa mã hóa hay không. Không ổn rồi, gã nhân viên Motorola nói rằng anh ta không thể giúp được gì qua điện thoại, “nhưng nếu anh tới đây với bộ nạp khóa thì được.”
Phải – hẳn là tôi sẽ bước vào văn phòng của Motorola rồi nói rằng tôi là FBI và… hả? “Tôi quên mang theo mấy thứ chứng minh thân phận rồi.” Không đời nào.
Nhưng phải làm thế nào để phá được mã khóa của FBI đây? Sau khi suy nghĩ một hồi, tôi nghĩ ra phương án B.
Để giúp các đặc vụ có thể trao đổi đường dài, chính phủ đã lắp đặt các “bộ chuyển tiếp sóng” (repeater) trên cao nhằm chuyển tiếp tín hiệu. Sóng vô tuyến điện từ các đặc vụ được truyền tại một tần số và nhận ở một tần số khác; các bộ chuyển tiếp sóng có tần số đầu vào để nhận tín hiệu truyền tới kèm một tần số đầu ra để phát tín hiệu mà các đặc vụ có thể nghe được. Khi muốn biết xem có đặc vụ nào gần đó hay không, tôi chỉ cần đơn giản là theo dõi độ lớn của tín hiệu trên bước sóng đầu vào của bộ chuyển tiếp sóng.
Cài đặt này cho phép tôi chơi một trò chơi nho nhỏ. Bất cứ khi nào tôi nghe thấy tiếng xì xào truyền tin, tôi sẽ giữ chặt phím “Transmit” (Truyền đi). Hành động này sẽ gửi đi một tín hiệu vô tuyến điện có tần số y hệt, nhờ vậy, tôi có thể làm nhiễu tín hiệu của họ.
Vì thế, đặc vụ thứ hai không thể nghe được tin truyền đi từ đặc vụ thứ nhất. Sau khoảng hai đến ba lần thử đi thử lại, các đặc vụ sẽ phát điên với máy bộ đàm của họ. Tôi có thể tưởng tượng được một trong số họ sẽ nói kiểu như: “Lỗi bộ đàm rồi. Để tôi tới chỗ nào nghe rõ hơn.”
Và rồi họ sẽ bấm công tắc trên máy bộ đàm để tắt nó khỏi chế độ mã hóa, lúc này tôi đã có thể nghe được cuộc nói chuyện từ cả hai phía! Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn thấy ngạc nhiên khi nhớ tới việc giải quyết dễ dàng đống mã hóa ra sao khi còn không cần đến bẻ mã.
Nếu nghe thấy ai đó nhắc tới “Mitnick” hay bất kỳ tín hiệu radio nào cho thấy tôi là đối tượng đang giám sát của họ, tôi sẽ biến mất ngay lập tức. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Tôi dùng mẹo nhỏ này mỗi lần ở Las Vegas. Các bạn có thể tưởng tượng điều này khiến tôi thoải mái hơn rất nhiều. Và cảnh sát liên bang chưa từng phát hiện ra việc đó. Họ hẳn đã phàn nàn với nhau về tính năng mã hóa dở hơi trên máy bộ đàm không ngừng làm hỏng chuyện. Xin lỗi nhé Motorola, họ có lẽ đang đổ lỗi cho các anh đấy.
Trong suốt khoảng thời gian ở Las Vegas, tôi liên tục tự hỏi, Mình sẽ đi đâu tiếp đây? Tôi muốn tới nơi nào đó có nhiều công việc liên quan tới công nghệ, nhưng Thung lũng Silicon có vẻ nằm ngoài suy nghĩ, bởi với tôi thì việc quay trở lại California chẳng khác nào tự chuốc lấy họa.
Nghiên cứu chỉ ra rằng dù ở Seattle nhiều mưa nhưng những ngày nắng hiếm hoi thường rất đẹp, đặc biệt là quanh vùng Lake Washington. Và trên hết thảy, thành phố còn có vô vàn nhà hàng và quán cà phê Thái. Đây có vẻ là một yếu tố kỳ quặc để đưa ra cân nhắc nhưng lúc đó, tôi đặc biệt thích đồ ăn và cà phê Thái, và đến giờ cũng vẫn vậy.
Đương nhiên, nhờ trụ sở của Microsoft ở ngay gần Redmond, nên Seattle trở thành vùng đất màu mỡ cho giới công nghệ. Sau khi xem xét mọi thứ, có vẻ như đây chính là thành phố đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của tôi. Vậy là tôi quyết định sẽ đến Seattle.
Tôi mua vé dịch vụ tàu hỏa Amtrak một chiều, ôm tạm biệt mẹ và bà ngoại rồi lên tàu. Chuyến tàu dừng ở ga King Street của Seattle hai ngày sau đó. Bộ danh tính mới của tôi gồm có một bằng lái xe, một thẻ An sinh Xã hội và những món đồ quen thuộc để tăng cường độ tin cậy – tất cả đều được làm dưới cái tên mới, Brian Merrill. Tôi tìm thấy một nhà nghỉ và đăng ký bằng danh tính mới.
Tôi đã định thiêu hủy toàn bộ tài liệu có liên quan đến thân phận Eric Weiss nhưng sau cùng, tôi vẫn quyết định giữ chúng lại để phòng xa, trong trường hợp tôi phải loại bỏ thân phận Brian Merrill ngay lập tức vì một lý do nào đó. Tôi nhét chúng vào một chiếc tất, xếp tất cả xuống dưới đáy va-li hành lý.
Với tôi, Denver đúng là một nơi tuyệt vời chỉ trừ chương cuối tệ hại kia. Và chương cuối tại Seattle sẽ còn tệ hại hơn thế nhiều.
❀ ❀ ❀
[1] 80* Khóa wafer: Sử dụng lẫy là các tấm kim loại thay vì các cặp pin như trong loại khóa thông thường. Các tấm kim loại này được đẩy xuống nhờ các lò xo vào các rãnh then, do đó trục khóa không thể xoay được. (BTV)
[2] 81* Shell là chương trình phần mềm được phát triển dành cho các máy tính chạy hệ điều hành Unix và Linux. Shell cung cấp giao diện cho phép người dùng nhập và chạy các câu lệnh dưới (dạng văn bản) trên máy tính. Root shell là phần mềm chạy với quyền quản trị tối cao. (BTV)
[3] 83* Déjà vu: Cảm giác đã từng trải nghiệm một điều gì đó mà trên thực tế mình biết hoặc chưa từng trải qua. (ND)