Nơi ở mới của tôi là Nhà tù Quận Wake thuộc trung tâm Raleigh mang phong cách hiếu khách khác biệt của miền Nam rất rõ ràng. Khi tôi vào trại, các đặc vụ liên bang đã đưa ra các chỉ thị nghiêm ngặt hết lần này đến lần khác rằng không được để tôi lại gần điện thoại.
Cứ mỗi lần thấy bóng áo đồng phục nào đi ngang qua buồng giam, tôi đều hỏi xin gọi điện cho gia đình. Nhưng họ đều giả điếc.
Nhưng có một cai ngục có vẻ thông cảm hơn một chút. Tôi kể cho cô ấy nghe việc mình cần phải gọi cho gia đình để thu xếp chuyện bảo lãnh. Cô ấy tỏ lòng thương hại và chuyển tôi đến một buồng giam khác có điện thoại.
Cuộc gọi đầu tiên của tôi là cho mẹ; bà tôi cũng đã đến ở cùng mẹ để hai người có thể cùng lo lắng cho tôi. Cả hai đều đang rất sốc, rất buồn giận và rối trí. Tôi đã bao lần gây ra chuyện, khiến họ phải gánh chịu nỗi đau lớn lao khi con traicháu trai mình phải quay lại nhà tù và có thể còn phải ngồi đó rất lâu.
Sau đó, tôi gọi cho Lewis. Vì tất cả cuộc gọi từ buồng giam đều bị giám sát, nên tôi không thể nói nhiều.
“A lô?” Lewis lầm bầm trong cơn ngái ngủ. Đang là 1 giờ sáng ở California, buổi sáng ngày 15 tháng 2 năm 1995.
“Đây là một cuộc gọi người nhận trả tiền,” nhân viên trực tổng đài nói. “Người gọi, tên cậu là gì?”
“Kevin. ”
“Anh có chấp nhận trả tiền không?”
“Có,” Lewis nói.
“Tớ vừa bị FBI bắt tối nay. Giờ tớ đang ở trong tù tại Raleigh, Bắc Carolina. Tớ chỉ nghĩ là cậu nên biết,” tôi nói với kẻ đồng mưu của mình.
Cậu ta không cần tôi phải nói thẳng ra rằng hãy chuyển sang chế độ dọn dẹp ngay lập tức đi.
Sáng hôm sau, tôi được đưa đến tòa trình diện lần đầu, vẫn mặc chiếc áo len đen khi đi tập gym khoảng 12 tiếng trước, vào đêm tự do cuối cùng của mình.
Tôi sững sờ khi thấy cả phòng xử xôn xao và chật cứng, không còn ghế nào trống. Có vẻ như một nửa số người ở đây đều có máy quay hoặc sổ tay phóng viên. Đây là một rạp xiếc truyền thông. Bạn sẽ nghĩ FBI vừa bắt được Manuel Noriega[1].
Ánh mắt tôi dừng lại ở một người đứng gần phía đầu phòng xử, một người tôi chưa từng gặp ngoài đời nhưng vẫn có thể nhận ra ngay lập tức: Tsutomu Shimomura. FBI có lẽ sẽ không bao giờ bắt được tôi nếu anh ta không tức giận vì các vụ đột nhập của tôi vào máy chủ của mình đến mức bỏ hết mọi việc khác và dẫn đầu đội truy tìm tôi.
Anh ta nhìn tôi trừng trừng.
Anh ta và cô bạn gái ném cho tôi cái nhìn sắc lẹm, đặc biệt là cô bạn gái. John Markoff bắt đầu ghi chép.
Phiên sơ thẩm chỉ diễn ra trong vòng vài phút, kết thúc bằng lệnh tôi sẽ bị giam giữ mà không được phép tại ngoại. Và một lần nữa, tôi sẽ không được tiếp xúc với điện thoại.
Tôi không thể chịu nổi ý nghĩ đó: Tôi sẽ quay lại phòng biệt giam.
Khi bị còng tay dẫn đi, tôi đi ngang qua Shimmy. Anh ta đã thắng. Công bằng và sòng phẳng. Tôi gật đầu với anh ta và ngã mũ tượng trưng: “Tôi khâm phục khả năng của anh,” tôi nói với anh ta.
Shimmy gật đầu đáp lễ.
Bước ra khỏi phòng xử trong xiềng xích, tôi nghe thấy những tiếng la: “Này, Kev!” Tôi nhìn ra ngoài ban công, dường như có tới hàng trăm paparazzi đang chĩa máy ảnh về phía tôi và bấm liên tục, ánh đèn flash khắp nơi. Ôi, lạy Chúa, tôi nghĩ. Việc này còn ầm ĩ hơn mình tưởng nhiều. Tôi mất bình tĩnh. Thế nào mà tôi lại thành câu chuyện lớn thế này?
Tất nhiên, tôi không được đọc các bài báo khi đó nhưng bài viết của Markoff đăng trên New York Times vào ngày hôm sau – thậm chí còn dài hơn bài được đăng trong ngày lễ Quốc khánh của hắn một năm trước và một lần nữa trên trang nhất – dường như hắn đã đổ bê-tông hình ảnh Osama bin Mitnick[2] vào tâm trí mọi người. Markoff trích lời Kent Walker, Trợ lý công tố đến từ San Francisco, như sau: “[Mitnick] có thể được coi là tên hacker máy tính bị truy nã gắt gao nhất thế giới. Hắn được cho là đã tiếp cận được những bí mật kinh doanh trị giá hàng tỷ đô-la. Hắn là một hiểm họa rất lớn.”
Vào thời điểm bài báo đầu tiên ra mắt ngày 4 tháng 7 của Markoff, tôi chỉ bị truy nã vì vi phạm điều khoản quản chế, nhưng câu chuyện đó đã để lại trong lòng độc giả ấn tượng rằng tôi là một nhân vật siêu phản diện, mối hại nguy cho người dân Mỹ. Góc nhìn của hắn về vụ bắt giữ tôi lúc đó đã thổi bùng lên ngọn lửa đang nhen nhóm của cánh truyền thông. Câu chuyện được tiếp tục trên Dateline, Good Morning America và chỉ có Chúa mới biết được còn bao nhiêu chương trình lớn nhỏ khác. Vụ bắt giữ tôi xuất hiện trên khắp các bản tin trong suốt ba ngày liên tiếp.
Giọng điệu tiêu biểu của các bản tin cũng giống như trong một bài báo phát hành ngày 27 tháng 2 năm 1995 trên Time. Tiêu đề phụ của bài báo giật tít như sau:
HACKER BỊ TRUY NÃ GẮT GAO NHẤT NƯỚC MỸ ĐÃ SA LƯỚI
Tin tức từ luật sư được tòa chỉ định cho tôi ở Raleigh cũng không tốt. Tôi bị truy tố 23 tội giả mạo thiết bị truy cập. Trong đó, có 21 tội liên quan đến các cuộc gọi tôi đã thực hiện từ máy điện thoại nhái số. Hai tội còn lại là do tàng trữ thông tin, đặc biệt là các cặp số điện thoại và số sê-ri điện tử có thể dùng để nhái số. Mức án tối đa là 20 năm cho mỗi cuộc gọi miễn phí. 20 năm cho mỗi cuộc gọi! Tôi đang phải đối mặt với tình huống xấu nhất là 460 năm tù.
Tình huống có vẻ tồi tệ – 460 năm tù không phải là chuyện đơn giản. Tôi không thích thú gì với ý nghĩ sẽ bị nhốt trong tù suốt phần đời còn lại, không được sống một cuộc đời vui vẻ và có ích, đặc biệt là không thể dành thời gian quý báu bên mẹ và bà. Hiển nhiên là họ đã tóm được tôi với tội danh nhái số điện thoại (luật liên bang coi các số ESN là thiết bị truy cập không được cấp phép). Đúng là tôi đã vi phạm các điều khoản quản chế năm 1989 với việc hack vào hòm thư thoại của điều tra viên an ninh Pacific Bell, Darrell Santos, để lấy thông tin về vụ Teltec, cũng như liên hệ với các “hacker máy tính”. Nhưng 460 năm tù cho những tội “xấu xa” này sao? Thế gian không còn tên tội phạm chiến tranh nào ư?
Tất nhiên, FBI cũng tìm thấy cơ sở dữ liệu khách hàng của Netcom chứa hơn 20.000 số thẻ tín dụng trên máy tính của tôi, nhưng tôi chưa bao giờ thử dùng bất kỳ số nào trong đó; không có công tố viên nào có thể lập hồ sơ kiện tôi về mục này. Tôi phải thú nhận rằng tôi thích ý tưởng mình có thể dùng mỗi ngày một chiếc thẻ tín dụng khác nhau cho đến hết phần đời còn lại mà không hết chỗ thẻ. Nhưng tôi chưa bao giờ có bất kỳ ý định nào về việc đốt tiền bằng chỗ thẻ đó và chưa bao giờ làm. Việc đó thật sai trái. Chiến lợi phẩm của tôi là bản sao cơ sở dữ liệu khách hàng của Netcom. Tại sao việc đó lại khó hiểu đến vậy? Các hacker và game thủ đều hiểu rằng đó là một dạng bản năng. Bất kỳ ai thích chơi cờ vua đều hiểu rằng họ chỉ cần thắng đối phương là đủ. Bạn không cần phải cướp bóc vương quốc hay tịch thu tài sản của người khác để khiến chiến thắng trở nên có giá trị.
Tôi luôn lấy làm lạ khi những kẻ bắt tôi gặp rất nhiều khó khăn để hiểu được niềm thỏa mãn sâu thẳm có thể có được từ một trò chơi kỹ năng. Đôi lúc tôi không thể không tự hỏi phải chăng lý do họ không hiểu được động cơ của tôi là bởi bản thân họ đều thấy hấp lực của tất cả những thẻ tín dụng đó là không thể khước từ.
Ngay cả Markoff, trong bài báo trên New York Times, cũng thừa nhận rằng tôi rõ ràng không hứng thú với viễn cảnh làm giàu. Mức độ về những gì tôi từ chối không làm đã được chuyển tải đến người đọc qua khẳng định của Kent Walker rằng tôi “được cho là đã tiếp cận được những bí mật kinh doanh trị giá hàng tỷ đô-la”. Nhưng bởi tôi chưa bao giờ định dùng hay bán những thông tin này, nên việc chúng đáng giá đến đâu không làm tôi bận tâm. Vậy bản chất những tội của tôi là gì? Rằng tôi “được cho là đã tiếp cận được”?
Cuối cùng thì tôi cũng đã bị bắt, các công tố viên ở nhiều khu vực tài phán liên bang điên cuồng soạn ra những danh sách dài gồm các tội và cáo trạng chống lại tôi, nhưng tôi vẫn có lý do để hy vọng. Mặc kệ những chứng cứ kia, hồ sơ của chính phủ không phải là không có kẽ hở. Có một số xung đột pháp lý cần phải được giải quyết trước. Ví dụ như Shimmy đã bí mật làm việc như một nhân viên chính phủ thực thụ và nghe lén liên lạc của tôi mà không có lệnh, có vẻ là một vụ vi phạm thủ tục ghê tởm của chính phủ. Luật sư của tôi cũng nộp một bản kiến nghị rằng lệnh khám xét của chính phủ có sai sót. Nếu tòa xử có lợi cho tôi, tất cả chứng cứ thu được ở Bắc Carolina sẽ vô giá trị, không chỉ ở Raleigh mà ở mọi nơi khác.
Với John Bowler, trợ lý công tố trẻ tuổi và đầy triển vọng đảm nhận vụ của tôi, đây chắc chắn phải là một cơ hội vàng. Nếu anh ta có thể lấy được lời thú tội trên tất cả cáo trạng và thuyết phục thẩm phán đập vào mặt tôi một phán quyết trừng phạt khủng khiếp, thì chỉ riêng sự chú ý của truyền thông đã đủ để đưa sự nghiệp của anh ta thăng hoa. Nhưng thực tế, các hướng dẫn xử án liên bang thường sẽ yêu cầu thẩm phán ra phán quyết dựa trên các tổn thất tối thiểu mà các công ty điện thoại phải chịu khi tôi thực hiện những cuộc gọi miễn phí đó.
Sau lần trình diện trước tòa đầu tiên, tôi được chuyển đến Nhà tù Quận Johnston ở Smithfield, Bắc Carolina, Sở Cảnh sát Tư pháp ra lệnh cho các cai ngục nhốt tôi vào nơi tôi sợ nhất: “cái hố”.
Tôi không thể tin được những gì đang diễn ra. Lê bước về phía cánh cửa đó trong cùm chân và xiềng xích, tôi ngần ngừ không muốn bước tiếp. Thời gian như chậm lại. Vào lúc đó, tôi biết động lực chính khiến tôi trốn chạy suốt ba năm qua chính là nỗi sợ hãi nơi này. Tôi không nghĩ mình có thể chịu được nơi đó thêm một lần nữa. Và giờ những tay lính gác đang ở ngay đây, dẫn tôi quay trở lại cơn ác mộng và tôi không thể làm gì để ngăn cản họ.
Lần cuối cùng họ nhốt tôi vào phòng biệt giam hơn tám tháng để buộc tôi làm điều họ muốn là vào năm 1988: Ngay khi tôi ký thỏa thuận nhận tội, họ sẽ đưa tôi ra với những tù nhân bình thường khác. Và lần này, chính phủ không nhét tôi vào cái lỗ địa ngục đó để bảo vệ xã hội khỏi tay tôi, hay bảo vệ tôi khỏi các tù nhân khác. Nó là sự ép buộc, đơn giản và dễ hiểu. Thông điệp rất rõ ràng: Tất cả những gì tôi phải làm là đồng ý với các yêu cầu của bên công tố và từ bỏ một số quyền, chấp nhận chỉ gọi cho người thân nhất trong gia đình cùng tư vấn viên pháp lý, rồi họ sẽ rất vui lòng cho tôi ra khỏi phòng biệt giam, về lại với những tù nhân bình thường.
Tôi ước mình có thể mô tả cảm giác nặng nề khi bước vào bên trong. Sau khi sống trong nỗi sợ “cái hố” này suốt nhiều năm, tôi đã cố hết sức để không phát điên khi họ khóa cửa lại sau lưng tôi. Tôi thà ở chung buồng giam với một gã buôn ma túy mệt mỏi xăm trổ đầy người còn hơn là thấy bản thân bị nhốt lại một mình như thế này một lần nữa.
Có một bài rap về bọn nghiện máy tính, rằng chúng tôi đã dành không biết bao nhiêu thời gian trong những căn phòng nhỏ tăm tối, thu mình bên ánh sáng màn hình laptop, thậm chí không biết đang là ngày hay đêm. Với những người đi làm sáng đi tối về, cuộc sống đó nghe có vẻ giống như biệt giam, nhưng không hề.
Có một sự khác biệt vô cùng lớn giữa việc dành thời gian ngồi một mình với việc bị quăng vào cỗ quan tài kinh tởm, bẩn thỉu sẽ là nhà của bạn hôm nay, ngày mai, tháng tới. Chẳng có tia sáng nào nơi cuối đường hầm. Cỗ quan tài đó sẽ được chính những kẻ sẽ làm mọi việc có thể để khiến bạn khốn khổ đưa tiễn. Bất kể bạn có cố gắng mường tượng lại nó như thế nào trong đầu, thì chờ đợi bạn ở trong cái hố lúc nào cũng là sự tăm tối và suy sụp. Biệt giam thường được coi là một biện pháp tra tấn. Ngay cả ngày nay, Liên Hiệp Quốc vẫn đang đấu tranh để quy nó thành một hình phạt vô nhân đạo.
Rất nhiều chuyên gia nói rằng biệt giam kéo dài còn khủng khiếp hơn dìm nước hay các hình thức tra tấn thể chất khác rất nhiều. Trong cái lỗ này, tù nhân sẽ phải chịu đựng trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tuyệt vọng, phẫn nộ, suy nhược trầm trọng và những bệnh lý tinh thần khác. Sự cách ly, việc không được hoạt động và thiếu đi những cấu trúc có thể dễ dàng làm rã rời đầu óc. Không có ai để tương tác, bạn sẽ không có cách nào để kiểm soát suy nghĩ của mình hay giữ được quan điểm của bản thân. Nó là một cơn ác mộng còn khủng khiếp hơn rất nhiều những gì bạn có thể tưởng tượng.
Đó là lý do tại sao tất cả các nghiên cứu về biệt giam hơn 60 ngày đều cho thấy những ảnh hưởng chấn thương tâm lý. Đôi khi chúng là vĩnh viễn. Tôi lo sợ điều đó. Đã hơn sáu năm kể từ khi tôi ở trong phòng biệt giam và đến giờ nó vẫn ám ảnh tôi. Tôi muốn ra khỏi đó càng nhanh càng tốt.
Một tuần sau khi bị quăng vào phòng biệt giam, công tố viên liên bang đề nghị một thỏa thuận chuyển tôi về với các tù nhân bình thường nếu tôi từ bỏ các quyền của mình và đồng ý:
không xử bảo lãnh không xử sơ thẩm không gọi điện, trừ các cuộc gọi tư vấn pháp lý và tới một số thành viên trong gia đình.
Họ bảo tôi hãy ký vào thỏa thuận này và tôi sẽ được ra khỏi phòng biệt giam. Tôi đồng ý ký.
Luật sư ở Los Angeles của tôi, John Yzurdiaga và người cộng sự Richard Steingard, đã giúp tôi soạn thỏa thuận. Do tôi bị bắt ở Raleigh, nên cả hai vị luật sư đều hào phóng dành thời gian để giải quyết vụ của tôi. John đã tình nguyện đại diện cho tôi mà không tính phí kể từ thời điểm cuối năm 1992, khi FBI lục soát căn hộ tại Calabasas của tôi.
Khi quay lại với khu vực tù nhân thường, tôi nói chuyện với John Yzurdiaga và Richard Steingard qua điện thoại. Giọng nói của John thể hiện rõ sự căng thẳng mà tôi chưa bao giờ thấy trước đây. Trước sự ngạc nhiên của tôi, cả hai bắt đầu tra khảo tôi về các bí mật quốc gia. “Chính xác thì cậu đã tiếp cận được những thông tin tuyệt mật nào? Cậu đã hack vào bất kỳ cơ quan tình báo nào chưa?”
Khi hiểu ra họ đang định nói gì, tôi cười to: “Phải rồi. Kiểu như tôi là điệp viên tham gia vào một nhiệm vụ tuyệt mật nào đó ấy hả!” tôi nói.
Không ai trong số họ cười.
“Đừng nói dối chúng tôi, Kevin,” John nói, nghe thành thực đến đáng sợ.
“Đã đến lúc đầu thú rồi.”
Tôi không tin vào tai mình. “Thôi nào, các anh – các anh đang đùa, phải không?”
Rồi Richard tung ra tin dữ: “Trợ lý công tố Schindler đang yêu cầu anh đồng ý một buổi thẩm vấn với CIA.”
Chuyện quái gì đang xảy ra vậy? Phải, tôi đã hack các nhà sản xuất điện thoại nổi tiếng nhất thế giới, các công ty do Bell Pacific điều hành và các nhà phát triển hệ điều hành khắp nước Mỹ, nhưng tôi chưa bao giờ thử nhắm vào bất kỳ mục tiêu nào có liên quan đến chính phủ. Sao FBI lại có thể nghĩ ra điều này? Lời cáo buộc này hoàn toàn không có căn cứ.
“Tôi không có gì để giấu,” tôi nói với tiếng thở dài. “Tôi sẽ tham gia buổi thẩm vấn với điều kiện tất cả các anh phải hiểu rằng tôi sẽ không nói về bất kỳ ai khác.” Tôi không biết bất kỳ ai từng hack vào hệ thống của chính phủ hay quân đội, nhưng kể cả nếu biết, việc trở thành kẻ chỉ điểm cho quân đội cũng đi ngược với các nguyên tắc đạo đức và lương tâm của tôi.
Cuối cùng, không có gì diễn ra sau cuộc nói chuyện đó. Có lẽ Schindler hoặc Bộ Tư pháp đang bận đi câu cá. Việc này làm tôi nhớ lại lần Marty Stolz ở Intermetrics bí mật kể với tôi về một siêu hacker mà FBI đang truy lùng đã đột nhập vào được CIA. Tôi coi đó như một câu chuyện thần thoại nữa lại vượt ngoài tầm kiểm soát.
Thời Trung cổ, các câu chuyện thần thoại được thêu dệt quanh các ảo thuật gia thường khiến họ gặp rắc rối nghiêm trọng. Đôi lúc, các câu chuyện thần thoại và siêu nhiên này lại khiến họ bị giết hại. Một nghệ sĩ biểu diễn đường phố sẽ khiến dân làng địa phương trầm trồ bằng những mánh khóe và tay nghề khôn khéo. Bởi không biết anh ta làm những trò đó như thế nào, nên họ không thể đoán được khả năng của anh ta đến đâu. Anh ta có vẻ như có khả năng làm mọi thứ biến mất và xuất hiện theo ý muốn. Đó là vấn đề. Bất kỳ thứ gì không thường xuyên xảy ra – vài con bò chết, mùa màng thất thu, Sarah bé bỏng bị ốm – quá dễ để đổ tội cho nhà ảo thuật.
Nếu mọi thứ khác đi, có lẽ tôi đã được bí mật tận hưởng danh xưng “Hacker bị truy nã gắt gao nhất thế giới” và cười nhạo mỗi khi mọi người tin rằng tôi là một thiên tài siêu phàm có thể hack mọi thứ. Nhưng tôi có một linh cảm xấu rằng việc này sẽ làm hại tôi – và tôi đã đúng. “Huyền thoại về Kevin Mitnick” sắp sửa gây ra muôn vàn sóng gió cho cuộc đời tôi.
❀ ❀ ❀
[1] 94* Manuel Noriega (11/2/1934 - 29/5/2017): Cựu tướng lĩnh kiêm nhà độc tài quân sự của Panama trong giai đoạn 1983-1989. Ông từng được biết đến là một nhà lãnh đạo thân Mỹ nhưng sau đó, dưới thời kỳ của Tổng thống George Bush (Cha), ông bị Mỹ truy tố với tội danh tống tiền, rửa tiền, buôn lậu ma túy và bị tuyên án 40 năm tù. (BTV)
[2] 95* Tác giả tự ví mình giống như Osama bin Laden – trùm khủng bố, người lãnh đạo tổ chức cực đoan Hồi giáo al-Qaeda, tác giả của vụ khủng bố 11 tháng 9 – nỗi khiếp đảm của nước Mỹ một thời. (BTV)