LEX LUTHOR

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
08

❊ ❊ ❊

Lenny và tôi muốn có mã nguồn cho hệ điều hành VMS của DEC để nghiên cứu nhằm tìm ra các lỗ hổng bảo mật trong đó. Chúng tôi cũng có thể tìm các bình luận của lập trình viên về việc vá lỗ hổng, từ đó truy ngược lại xem các vấn đề đó là gì và làm sao để tận dụng chúng. Chúng tôi cũng muốn tự mình biên soạn một phần của hệ điều hành, như vậy sẽ dễ cấy vài mã gián điệp vào trong đó hơn. Kế hoạch đề ra là chúng tôi sẽ thực hiện một vụ tấn công bằng kỹ thuật xã hội vào DEC nhằm đột nhập vào cụm máy phát triển VMS. Tôi đã có số dial-up kết nối modem pool của cụm phát triển VMS.

Khi Lenny vẫn còn đi làm, cậu ta từng đến hộp đầu cuối (terminal box) của tòa nhà nơi mình làm việc để tìm đường fax của các công ty khác. Bởi có rất nhiều công ty cùng đặt văn phòng trong một tòa nhà, nên Lenny có thể đấu đường dây của văn phòng nào đó vào một cặp dây cáp không sử dụng đi thẳng tới phòng máy tính của VPA, và không ai có thể truy ra được các cuộc gọi đi của chúng tôi.

Trong lúc đó, tôi tới khách sạn Country Inn gần văn phòng của cậu ta và dùng điện thoại công cộng để gọi cho Lenny. Khi cậu ta nhấc máy, tôi dùng một điện thoại khác để gọi tới số điện thoại chính của DEC ở Nashua, New Hampshire, nơi đặt các phòng nghiên cứu và phát triển của họ.

Tôi đứng đó giữa hai máy điện thoại, với mỗi ống nghe một bên tai.

Tôi nói với người phụ nữ nghe máy ở Nashua rằng tôi cũng làm việc ở DEC và hỏi được vị trí phòng máy cũng như số điện thoại phòng quản lý.

Lúc gọi điện tới phòng này, tôi dùng tên của một nhân viên trong phòng bảo vệ và hỏi xem liệu phòng quản lý có hỗ trợ nhóm “Star cluster” của hệ điều hành VMS đang chạy trên máy phát triển VMS hay không. Nhân viên của DEC nói có. Tôi dùng tay che kín nửa dưới của ống nghe điện thoại, sau đó nói chuyện với Lenny bằng ống nghe còn lại, bảo cậu ta quay số modem.

Sau đó, tôi nói người trực máy gõ lệnh “show users” để hiển thị người đăng nhập. (Nếu bạn đang trong quá trình đăng nhập như Lenny lúc đó, trên màn hình sẽ hiển thị dòng chữ “<LOGIN>” cùng với tên máy tính đang dùng để đăng nhập.) Còn đây là những gì nhân viên DEC thấy trên màn hình của cô ta:

1

Bởi không phải gõ bất kỳ tên đăng nhập hay mật khẩu nào, nên nhân viên DEC không để ý những việc tôi yêu cầu cô ta làm. Cô ta có lẽ cũng biết một lệnh spawn để làm gì, nhưng một nhân viên trực máy hiếm khi phải dùng tới nó, do vậy hiển nhiên là cô ta đã không nhận ra.

Lệnh này tạo ra quá trình đăng nhập trên thiết bị modem mà Lenny đang kết nối dưới điều kiện tài khoản của nhân viên trực máy. Ngay khi người này gõ lệnh, một ký hiệu “$” sẽ xuất hiện trên màn hình của Lenny. Điều đó đồng nghĩa với việc cậu ta đã đăng nhập và có toàn quyền hệ thống của một nhân viên trực phòng máy. Khi thấy ký hiệu “$” xuất hiện, Lenny đã kích động tới mức bắt đầu hét lên trên điện thoại: “Có prompt[1] rồi! Có prompt rồi!”

Tôi kéo ống nghe của Lenny ra xa và bình thản nói với người trực máy: “Xin lỗi chị một chút, tôi sẽ quay lại ngay.”

Tôi ghì điện thoại bằng chân để chặn âm thanh vào ống nói, nhấc ống nghe còn lại và nói với Lenny, “Câm miệng!” Sau đó, tôi tiếp tục cuộc gọi với nhân viên DEC.

Lenny ngay lập tức kiểm tra xem kiểm định bảo mật đã được kích hoạt hay chưa. Có rồi. Vì vậy, thay vì lập một tài khoản mới có thể kích hoạt báo động kiểm định và gây nghi ngờ, Lenny chỉ thay đổi mật khẩu của một tài khoản không còn hoạt động với toàn quyền hệ thống.

Trong lúc đó, tôi cảm ơn nhân viên phụ trách đầu dây bên kia và nói rằng cô ta có thể thoát khỏi hệ thống. Một lúc sau, Lenny kết nối lại và đăng nhập vào tài khoản bằng mật khẩu mới của mình.

Khi chúng tôi đã tấn công được vào cụm phát triển VMS, mục tiêu tiếp theo là có được mã nguồn mới nhất của VMS. Việc này không quá khó khăn. Khi chúng tôi liệt kê các đĩa mềm đã được kết nối, một trong số chúng có gắn nhãn “VMS_SOURCE.” Dễ như ăn kẹo vậy.

Tại thời điểm này, chúng tôi tải lên một công cụ nhỏ được thiết kế để tắt chế độ kiểm định bảo mật mà không kích hoạt chuông báo. Khi chuông báo đã bị tắt, chúng tôi lập thêm vài tài khoản đăng nhập có toàn quyền điều hành và thay đổi vài mật khẩu của các tài khoản đặc quyền chưa được dùng tới trong sáu tháng. Kế hoạch của chúng tôi là sao chép bản mới nhất của mã nguồn VMS vào USC, nhờ vậy, chúng tôi có thể duy trì toàn quyền đăng nhập vào mã nguồn ngay cả khi đã bị đá khỏi cụm Star cluster.

Sau khi thiết lập các tài khoản mới, chúng tôi mở hòm thư của Andy Goldstein. Goldstein từng là thành viên của đội thiết kế VMS thuở đầu ở Digital và nổi tiếng trong giới VMS với vai trò là bậc thầy về hệ điều hành. Chúng tôi biết anh ta cũng làm việc có liên quan tới các vấn đề bảo mật VMS, do đó, chúng tôi đoán rằng e-mail của anh có thể là nơi phù hợp để tìm hiểu thông tin về các vấn đề bảo mật mới nhất mà DEC đang cố sửa chữa.

Goldstein quả có nhận được các báo cáo về lỗi lập trình bảo mật (security bug) từ một người có tên Neill Clift. Tôi nhanh chóng biết được Clift là sinh viên cao học của Đại học Leeds ở Anh, chuyên ngành Hóa học hữu cơ. Nhưng anh ta rõ ràng là một kẻ say mê máy tính và có một tài năng đặc biệt: rất nhạy bén trong việc tìm ra các điểm yếu của hệ điều hành VMS và thành thực báo lại cho DEC về các lỗi này. Anh ta không nhận ra là giờ đây, anh ta đã cho cả tôi biết nữa.

Điều này đặt nền móng cho nước đi tiếp theo, có thể coi là một mỏ vàng đối với tôi.

Sau khi soát qua một lượt hòm thư của Goldstein, tôi tìm thấy một bản phân tích đầy đủ về bản vá lỗi[2] cho “Loginout”, một chương trình đăng nhập của VMS. Bản vá lỗi được phát triển bởi một nhóm hacker người Đức trực thuộc “Câu lạc bộ máy tính hỗn loạn” (Chaos Computer Club – CCC). Vài thành viên trong nhóm tập trung phát triển các bản vá lỗi cho những chương trình VMS chuyên biệt cho phép bạn có toàn quyền kiểm soát hệ điều hành.

Bản vá lỗi của VMS Loginout do nhóm hacker kia phát triển cũng cải biến chương trình đăng nhập ở nhiều phương diện, đưa ra chỉ thị bí mật lưu trữ mật khẩu trong một tập tin được cho phép bởi hệ điều hành ở khu vực giấu kín; ẩn người dùng; và chặn tất cả chuông báo bảo mật khi có ai đó đăng nhập vào hệ thống bằng mật khẩu đặc biệt.

Những câu chuyện trên báo chí về CCC có nhắc tới tên nhóm trưởng. Tôi dò theo số điện của người này và gọi cho anh ta. Ở thời điểm đó, tôi cũng dần gây dựng được tiếng tăm trong giới hacking, do đó anh ta nhận ra tôi ngay. Anh ta nói tôi nên nói chuyện với một thành viên khác trong nhóm, nhưng đáng tiếc là người này đang bị ung thư giai đoạn cuối. Tôi gọi tới bệnh viện cho người đó và giải thích rằng mình đã có được bản phân tích của nhóm về bản vá lỗi cửa hậu cho VMS Loginout cùng chương trình “Show” và thấy chúng thật tuyệt. Tôi hỏi liệu anh ta có công cụ hay bản vá lỗi thú vị nào sẵn lòng chia sẻ hay không.

Đầu dây bên kia là một người siêu ngầu và nói nhiều. Anh đề nghị gửi cho tôi một vài không tin. Đáng tiếc là anh phải gửi thư chậm qua đường bưu điện vì bệnh viện không có máy tính. Vài tuần sau, tôi nhận được một gói nhỏ gồm các tài liệu chứa thông tin cụ thể về các kỹ thuật hacking chưa từng được công bố của nhóm.

Mở rộng công trình của CCC, Lenny và tôi đã phát triển và cải thiện thêm vài bản vá lỗi có thể thêm vào nhiều tính năng hơn nữa. Về cơ bản, CCC đã tạo ra bộ khung để chúng tôi có thể phát triển dựa vào đó. Khi các phiên bản mới của VMS phát hành, Lenny và tôi vẫn tiếp tục chỉnh sửa bản vá lỗi cho phù hợp. Do Lenny luôn làm việc ở các công ty có hệ điều hành VMS, nên chúng tôi có thể thử nghiệm bản vá lỗi của mình trên hệ điều hành cậu ta dùng ở công ty và ứng dụng chúng vào các hệ điều hành mà chúng tôi muốn duy trì khả năng đăng nhập.

Sau khi phát hiện ra một số khách hàng chính của DEC bị tấn công, các lập trình viên của công ty đã viết một công cụ bảo mật có thể nhận biết bản vá lỗi của Chaos. Lenny và tôi xác định vị trí của phần mềm nhận diện và phân tích nó, rồi chỉnh sửa phiên bản bản vá lỗi của Chaos sao cho công cụ của DEC không thể tìm ra nó. Việc này thực sự rất dễ dàng. Điều này còn khiến việc cài đặt bản vá lỗi của chúng tôi vào vô số hệ điều hành VMS trên Easynet, mạng toàn cầu của Digital, trở nên dễ dàng hơn.

Dù xác định vị trí mã không khó, nhưng việc di chuyển nó lại không hề dễ dàng. Có rất nhiều mã. Để giảm thiểu độ lớn của mã, chúng tôi phải nén nó lại. Mỗi thư mục chứa tới hàng trăm tập tin. Chúng tôi nén tất cả vào một tập tin đơn lẻ và mã hóa nó, như vậy nếu có ai đó tìm thấy, trông nó chỉ như một tập tin rác mà thôi.

Cách duy nhất để lưu giữ các tập tin này và có thể nghiên cứu chúng khi rảnh rỗi là tìm các hệ thống trên mạng Easynet của DEC có kết nối với Arparnet, nhờ vậy chúng tôi có thể chuyển chúng ra ngoài hệ thống của DEC. Chúng tôi chỉ thấy có bốn hệ thống trên Easynet có kết nối với Arparnet, nhưng chúng tôi có thể sử dụng cả bốn để chuyển mã ra ngoài theo từng phần.

Kế hoạch ban đầu là chúng tôi sẽ lưu lại một bản sao mã ở USC, điều này có vẻ khá thiển cận. Thứ nhất là nên có nhiều hơn một nơi lưu trữ các bản sao giống nhau, có như vậy thì khi các mã bị lộ, mọi công sức mới không đổ xuống biển. Nhưng vấn đề là codebase[3] quá lớn. Nếu cố lưu tất cả tại một nơi thì rủi ro bị phát hiện là rất lớn. Do vậy, chúng tôi bắt đầu tấn công vào các hệ thống trên Arpanet, cố tìm ra một “tủ bảo quản” an toàn hơn để trữ đồ. Tôi bắt đầu có cảm giác rằng lấy được mã nguồn từ DEC vẫn còn là phần việc dễ dàng, thử thách thực sự là làm sao tìm được nơi cất giấu chúng. Chúng tôi có quyền đăng nhập vào hệ máy tính của Trạm Hàng không Hải quân Patuxent River ở Maryland và nhiều nơi khác. Nhưng thật đáng tiếc, hệ thống ở Patuxent River chỉ có khả năng lưu trữ rất nhỏ.

42Codebase: Toàn bộ mã nguồn cho một phần mềm hoặc ứng dụng nào đó. (ND)

Chúng tôi cũng cố tấn công vào hệ thống máy tính của Trung tâm Nghiên cứu Sức đẩy Phản lực của NASA (Jet Propulsion Laboratory – JPL) ở Pasadena, California bằng cách sử dụng bản vá của Chaos đã được chỉnh sửa.

Cuối cùng, JPL cũng phát hiện ra hệ thống của họ bị tấn công, có thể là nhờ họ đã để ý tới những thay đổi không được phép trên các chương trình Loginout và Show trên VMS. Hẳn là họ đã truy ngược lại mã nhị phân nhằm tìm ra cách thức các chương trình đã bị thay đổi và xác định được thủ phạm chính là CCC. Ban lãnh đạo của JPL công bố với truyền thông nhận định này, dẫn đến bản tin chấn động trên mặt báo về một gã hacker người Đức bị bắt sống khi đang xâm nhập vào hệ thống máy tính của JPL. Lenny và tôi cười khoái trá, nhưng bù lại chúng tôi cũng có chút lo lắng nếu bị phát hiện.

Khi bắt đầu thực hiện chuyển tập tin, chúng tôi buộc phải duy trì liên tục cả ngày lẫn đêm, từng chút từng chút một. Đó quả là một quá trình vô cùng chậm chạp. Tốc độ dial-up thời điểm đó (nếu bạn thực sự muốn dùng từ “tốc độ”) tối đa là T1, tương đương với khoảng 1.544 megabitgiây. Ngày nay, ngay cả điện thoại di động bình thường cũng còn chạy nhanh hơn thế nhiều.

DEC ngay lập tức phát hiện ra động thái của chúng tôi. Mấy gã phụ trách duy trì vận hành hệ thống đã nhận ra sự bất thường nhờ sự gia tăng lưu lượng truy cập mạng rất lớn vào giữa đêm. Tình hình càng tệ hơn khi họ cũng nhận ra các khoảng lưu trữ còn trống trên bộ nhớ đã biến mất. Họ vốn không có nhiều dung lượng trên hệ thống thường chỉ được tính bằng megabyte, trong khi chúng tôi đang vận chuyển tới hàng gigabyte.

Các hoạt động vào ban đêm và những khoảng trống dung lượng biến mất đã cho thấy vấn đề bảo mật nào đó. Họ nhanh chóng thay đổi tất cả mật khẩu tài khoản và xóa toàn bộ tập tin của chúng tôi trên hệ thống. Đây quả là một thách thức, nhưng Lenny và tôi không hề nhụt chí. Chúng tôi không ngừng tấn công qua từng đêm, mặc cho họ nỗ lực ra sao. Trên thực tế, nhân viên của DEC và những người sử dụng hệ thống không phát hiện ra họ đã bị chúng tôi kiểm soát trạm làm việc cá nhân và qua đó có thể theo dõi thao tác bàn phím, vì vậy, chúng tôi sẽ chẳng mấy khó khăn để lấy được quyền đăng nhập ngay khi họ vừa thay đổi tài khoản.

Trong suốt quá trình, kỹ sư mạng lưới của DEC có thể thấy rất nhiều tập tin cỡ lớn được chuyển đi, họ chỉ không biết làm sao để dừng việc đó lại. Hoạt động chẳng mấy vô hại của chúng tôi khiến họ tin rằng mình là đối tượng của một dạng tấn công gián điệp có tổ chức nào đó do mấy tay đánh thuê quốc tế được thuê để đánh cắp các bí mật công nghệ tân tiến nhất của họ. Chúng tôi đọc được các giả thuyết này trong e-mail của DEC. Rõ ràng, mọi chuyện khiến họ phát điên. Tôi luôn đăng nhập vào hòm thư để xem họ đã tiến triển đến đâu và dự định làm gì, đồng thời cố gắng hết sức để đánh lạc hướng họ. Nhờ sở hữu toàn quyền kết nối với Easynet, chúng tôi có thể đăng nhập vào hệ thống từ Anh và các nước khác trên toàn thế giới. DEC không thể xác định được chính xác điểm đầu ở đâu bởi chúng tôi cứ liên tục thay đổi.

Chúng tôi cũng phải đối mặt với thử thách tương tự diễn ra ở USC. Nhóm quản trị ở đây cũng nhận ra dung lượng ổ đĩa trên vài MicroVAX đã biến mất. Họ ngắt kết nối mạng khi chúng tôi chuyển dữ liệu vào ban đêm. Chúng tôi bắt đầu lại và rồi họ tắt nguồn cả hệ thống suốt đêm. Chúng tôi lại đợi tới khi họ bật máy và lại bắt đầu chuyển tập tin. Trò chơi này cứ diễn ra như vậy trong nhiều tháng trời.

Đôi khi, giữa những lần chống chọi với đội ngũ quản trị viên hệ thống, cố níu lấy dung lượng đồ sộ của mã nguồn và cam chịu tốc độ đường truyền chậm đến phát điên, chúng tôi có cảm giác như mình đang dùng một chiếc ống hút để hút cả đại dương vào vậy. Nhưng chúng tôi không bỏ cuộc.

Khi tất cả mã nguồn VMS đã được chuyển tới hệ thống ở USC, chúng tôi cần ghi chúng vào đĩa từ để có thể từ từ chọn lọc mà không phải lo tới việc bị tấn công ngược lại khi kết nối tới Easynet. Và chuyển mã nguồn vào đĩa là loại công việc của ba người.

Lewis De Payne được cử xâm nhập vào khuôn viên trường trong vai một sinh viên. Cậu ta có thể nhờ một trong những nhân viên phụ trách phòng máy tính gắn đĩa của mình lên ổ đĩa của hệ thống.

Ở một nơi khác trong thị trấn, tại văn phòng anh bạn Dave Harrison, tôi có thể kết nối vào một hệ thống VMS gọi là “ramoth” qua modem dial-up đã có đĩa của Lewis gắn vào ổ. Tôi lưu nhiều hết mức có thể các mã nguồn VMS vào đây. Sau đó, Lewis đưa cho nhân viên phụ trách phòng máy một đĩa trắng khác và chuyển đĩa đã ghi cho Lenny DiCicco. Cuối mỗi giai đoạn, Lenny sẽ cầm tất cả các đĩa mới để giấu trong một tủ khóa trữ đồ mà chúng tôi đã thuê. Chúng tôi lặp đi lặp lại vòng làm việc này cho tới khi có chừng 30-40 đĩa chứa toàn bộ mã nguồn của VMS phiên bản 5.

Trong khoảng thời gian dài ở phòng làm việc của Dave, tôi phát hiện ra một công ty khác cũng đặt văn phòng trong tòa nhà có tên là GTE Telenet đang chạy một trong những hệ thống “X25” lớn nhất nhằm phục vụ cho những khách hàng lớn nhất thế giới. Có lẽ, tôi có thể chiếm được quyền quản trị vào hệ thống của họ và theo dõi lưu lượng khách hàng. Trước đó, Dave đã từng bẻ khóa hộp cứu hỏa và lấy được chìa khóa tổng của cả tòa nhà. Vào một đêm muộn, Dave và tôi dùng chìa mở văn phòng GTE Telenet chỉ để nhòm ngó xung quanh. Khi thấy họ dùng VMS, tôi vô cùng phấn chấn; cảm giác như thể ở nhà.

Tại đây có một hệ VMS với tên nút mạng là “Snoopy”. Sau khi mò mẫm một hồi, tôi phát hiện ra Snoopy đã đăng nhập vào một tài khoản đặc quyền, cho phép tôi có toàn quyền đăng nhập hệ thống. Đây đúng là cám dỗ quá lớn. Dù nhân viên Telenet vẫn thường ra vào văn phòng 24/7, nhưng tôi vẫn ngồi xuống máy tính và bắt đầu khám phá, nhìn vào script và ứng dụng bên thứ ba nhằm truy ra công cụ mà họ có cũng như cách thức chúng có thể được sử dụng để theo dõi mạng lưới. Chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, tôi đã tìm ra cách lén theo dõi lưu lượng truy cập mạng lưới khách hàng. Tôi bừng tỉnh. Nút này có tên là Snoopy bởi nó cho phép các kỹ thuật viên có thể theo dõi lưu lượng truy cập trên mạng lưới khách hàng: Nó cho phép họ rình mò (snoop).

Vì đã có sẵn địa chỉ X25 nên tôi kết nối với hệ thống VMS tại khoa Hóa hữu cơ của Đại học Leeds, nơi Neill Clift đang theo học. Tôi không có bất kỳ quyền đăng nhập nào; mọi nỗ lực phỏng đoán đều không chính xác. Do khác biệt về múi giờ, Clift đăng nhập vào hệ thống, anh ta nhận ra mấy lần cố đăng nhập của tôi và viết thư cho quản trị viên của Snoopy để thông báo rằng có ai đó đang cố kết nối vào hệ thống của trường. Dĩ nhiên là tôi đã xóa thư.

Dù không kết nối được vào Đại học Leeds đêm đó, những gì tôi cố làm đã tạo tiền đề cho việc đưa Clift vào mục tiêu sau này và đem đến những thành công to lớn.

Lenny và tôi thường đấu trí với nhau. Cậu ta sẽ đóng vai nhân viên phụ trách máy tính ở một công ty có tên là VPA, còn tôi thì làm ở CK Technologies, Newbury Park. Chúng tôi cược xem ai có thể đột nhập vào hệ thống VMS dành cho nhân viên mà người còn lại đang quản lý. Ai hack được vào hệ thống VMS của công ty người kia thì người đó sẽ thắng cuộc. Nó hệt như trò chơi “cướp cờ”, được thiết kế để kiểm tra khả năng bảo vệ hệ thống trước đối phương.

Lenny không đủ tinh khôn để chặn được tôi. Tôi liên tục tấn công vào hệ thống của cậu ta. Tiền cược luôn là 150 đô-la, đủ cho một bữa tối hai người ở Spago, nhà hàng của đầu bếp nổi tiếng Wolfgang Puck ở Beverly Hills. Tôi thắng cược liên tục tới mức Lenny bắt đầu cảm thấy khó chịu. Tại một trong những buổi hacking thâu đêm, Lenny than phiền rằng cậu ta chưa từng thắng lấy một lần. Tôi nói mình có thể dừng bất kỳ lúc nào, nhưng Lenny muốn thắng.

Công ty của Lenny mới lắp một loại khóa kỹ thuật số trên cánh cửa phòng máy; cậu ta thách tôi đoán được mã số để mở khóa và biết rằng đây gần như là một việc bất khả thi. “Nếu cậu không vào được,” cậu ta nói, “cậu sẽ phải trả tớ 150 đô-la ngay đêm nay.”

Tôi nói tôi sẽ không lấy tiền của Lenny vì nhiệm vụ lần này quá đơn giản, cậu ta hẳn sẽ rất bực mình bởi dù thế nào thì tôi cũng luôn thắng. Lời chế nhạo khiến Lenny càng thêm lo lắng khi tôi nhận kèo.

Thực ra để thắng được lần này một cách thẳng thắn cũng không hề đơn giản. Nhưng thần may mắn đã mỉm cười với tôi. Khi đang dùng máy tính của Lenny để tấn công vào mạng lưới của Digital, tôi vô tình phát hiện ra một chiếc ví rơi trên sàn ngay dưới bàn làm việc. Tôi “chẳng may” làm rơi bút, sau đó cúi xuống nhặt và nhồi chiếc ví vào trong tất. Tôi nói với Lenny mình phải đi vệ sinh một lát.

Trong ví, tôi tìm thấy một mẩu giấy có ghi mã số cửa. Tôi không thể tin vào mắt mình: Lenny là một hacker lõi đời, vậy mà cậu ta lại không thể nhớ được dãy số đơn giản này ư? Chưa kể cậu ta lại còn ngu ngốc tới mức viết mã số đó ra rồi nhét vào ví? Điều này ngớ ngẩn tới mức tôi đã nghĩ rằng mình đang bị đặt bẫy. Liệu cậu ta có cố tình vứt ví ở đó để làm bẽ mặt tôi không?

Tôi quay trở lại bàn, đặt ví vào chỗ cũ và nói với Lenny tôi cần 1 giờ để đoán mã số cửa. Chúng tôi thống nhất rằng điều kiện duy nhất là tôi không được phá khóa. Những cách thức khác đều được chấp nhận.

Vài phút sau, Lenny đi xuống tầng dưới để lấy thứ gì đó. Khi quay lại, cậu ta không thấy tôi. Lenny tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng mở mã khóa cửa phòng máy. Tôi đã ngồi sẵn trong đó, gõ trên màn hình lệnh VMS và đăng nhập với toàn quyền quản trị. Tôi cười.

Lenny nổi điên. “Cậu chơi ăn gian!” cậu ta hét lên.

Tôi ngó ra. “Cậu nợ tớ 150 đô-la.” Khi cậu ta cự nự, tôi nói: “Tớ sẽ cho cậu một tuần.” Thật tuyệt khi hạ gục được một người luôn tự mãn như Lenny. Cậu ta không chịu trả tiền, còn tôi thì liên tục kéo dài thời hạn và tuyên bố sẽ tính lãi suất sau đó. Tôi vẫn chẳng nhận được gì cả. Cuối cùng, trong một trò đùa không hơn không kém, tôi gọi tới phòng kế toán phụ trách khoản phải trả của công ty Lenny và vờ là nhân viên thuộc phòng Truất hữu Lương bổng[4] của Sở Thuế vụ (IRS). “Leonard DiCicco có còn làm việc ở chỗ chị không?” tôi hỏi.

“Vâng, còn,” giọng phụ nữ trả lời điện thoại.

“Chúng tôi có lệnh báo truất hữu,” tôi nói. “Chúng tôi đề nghị bên công ty chị tạm giữ lương của anh ấy lại.” Người phụ nữ nói chị ta cần phải có giấy ủy quyền. Tôi nói với chị ta: “Chị sẽ nhận được fax vào thứ Hai, hiện tại tôi chỉ muốn đưa ra thông báo chính thức đề nghị tạm giữ toàn bộ khoản chi trả cho tới khi bên chị nhận được các giấy tờ cụ thể.”

Tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Lenny có lẽ sẽ phải chịu bất tiện một chút. Khi không có bức fax nào chuyển tới vào thứ Hai, hẳn cậu ta sẽ nhận được tiền.

Khi nhân viên phòng kế toán báo với Lenny về cuộc gọi của IRS, cậu ta ngay lập tức đoán được ai đứng sau chuyện này.

Nhưng cơn giận bùng nổ của Lenny đã vượt quá tầm kiểm soát khiến cậu ta mất hết lý trí và làm việc ngu xuẩn nhất: Lenny tới văn phòng của sếp và báo với ông ta rằng hai chúng tôi đã tấn công DEC từ văn phòng VPA.

Sếp của Lenny không gọi cho cảnh sát. Thay vào đó, ông ta và Lenny cùng gọi cho đội an ninh của DEC và nói với họ về thủ phạm đã quấy rối họ trong suốt nhiều tháng qua. Sau cùng, FBI vào cuộc và bắt đầu giăng bẫy.

Người của FBI và DEC đóng quân tại VPA ngay trước một trong những buổi hacking đêm muộn của chúng tôi. Họ đặt phần mềm giám sát trên các máy tính của VPA nhằm ghi lại mọi hành động chúng tôi sẽ làm. Trên người Lenny có gắn máy ghi âm lại mọi cuộc đối thoại. Đêm đó, mục tiêu của tôi là Đại học Leeds ở Anh. Sau lần xác định trước đó rằng Neill Clift là một trong những nguồn cung cấp thông tin chính về các lỗi bảo mật của Digital, tôi muốn đột nhập vào hệ thống VMS của khoa Hóa hữu cơ thuộc trường Leeds, nơi có tài khoản của Clift.

Đã có lúc tôi cảm nhận được điều gì đó kỳ quái diễn ra với Lenny và hỏi cậu ta: “Mọi chuyện ổn chứ hả? Cậu có vẻ hơi lạ đấy.” Lenny nói cậu ta chỉ hơi mệt, và tôi lại bỏ qua những hành vi bất thường này. Lenny có lẽ đã lo sợ tôi có thể phát hiện ra điều gì đang thực sự diễn ra. Sau vài giờ hacking, chúng tôi bỏ cuộc. Tôi muốn tiếp tục, nhưng Lenny nói cậu ta cần phải dậy sớm.

Vài ngày sau, tôi nhận được cuộc gọi của Lenny: “Này, Kevin, tớ mới được nghỉ phép. Tới đây đi, tớ trả cậu tiền.”

Hai giờ sau, tôi lái xe vào một ga-ra nhỏ dưới tầng hầm của tòa nhà VPA đặt văn phòng. Lenny đứng đó, không nhúc nhích. Cậu ta nói: “Tớ cần phần mềm mô phỏng máy VT100 để sao ra cho cậu,” ý chỉ phần mềm trên đĩa mà cậu ta biết tôi đặt trên xe. Lúc đó đã là 5 giờ chiều, tôi nói cả ngày nay mình chưa ăn gì cả và sắp chết đói rồi. Tôi thậm chí còn mời cậu ta cùng dùng bữa tối. Lenny vẫn cương quyết. Tôi muốn ra khỏi đó càng sớm càng tốt: Có gì đó không ổn. Nhưng rồi tôi bỏ cuộc, để xe nổ máy, bước ra ngoài để lấy mấy chiếc đĩa.

“Mày có biết cảm giác khi bị tóm là thế nào không?” Lenny chế nhạo. “Chuẩn bị tinh thần đi!”

Cả ga-ra đột nhiên ầm ĩ tiếng động cơ. Đèn ô tô chiếu thẳng vào chúng tôi từ mọi hướng, dừng lại thành một vòng tròn bao quanh. Mấy gã trong trang phục cảnh sát nhảy ra khỏi xe và bắt đầu hét lên với tôi: “FBI đây!”

“Anh đã bị bắt!”

“Đặt tay lên xe!”

Tôi nghĩ, nếu Lenny sắp đặt mọi chuyện chỉ để dọa tôi một mẻ, thì đây thực sự là một màn ấn tượng.

“Mấy anh không phải là FBI. Hãy cho tôi xem ID.”

Họ lấy thẻ ra khỏi ví và mở chúng ra. Huy hiệu FBI ở khắp thẻ. Là hàng thật.

Tôi nhìn sang Lenny. Hắn ta đang nhún nhảy vui sướng, như thể ăn mừng việc thắng tôi.

“Lenny, sao mày có thể làm vậy?”

Sau khi bị một điệp vụ FBI còng tay, tôi nhờ Lenny gọi cho mẹ tôi và nói với bà rằng tôi đã bị bắt. Tên khốn đó thậm chí còn không buồn thể hiện chút tử tế cuối cùng.

Hai nhân viên FBI đưa tôi tới Nhà tù Liên bang Terminal Island. Tôi chưa từng nhìn thấy thứ gì như vậy ngoại trừ trong phim hay một chương trình truyền hình: Những dãy phòng giam kéo dài với mấy cánh tay vắt vẻo ra ngoài chấn song. Hình ảnh trước mắt khiến tôi cảm thấy mình như đang gặp ác mộng trong mơ. Thật bất ngờ, mấy tù nhân khác tỏ ra khá thân thiện và dễ chịu. Họ còn đề nghị cho tôi mượn một vài món đồ. Khá nhiều người trong số họ đều từng là “cổ cồn trắng”.

Nhưng tôi không được tắm. Tôi cảm thấy kinh tởm cho tới khi vài đặc vụ FBI đến đón và đưa tôi tới trụ sở chính của FBI tại phía Tây Los Angeles để chụp ảnh hồ sơ tội phạm. Tôi biết trông mình rất thảm hại – chưa tắm rửa, chưa chải tóc, mặc nguyên bộ đồ từ ba ngày trước và ngủ được rất ít mỗi đêm trên chiếc giường nhỏ. Nhưng ít ra, bức ảnh đó cũng mang tới cho tôi một chút an ủi nhỏ tại những thời điểm quan trọng sau này.

Sau cả ngày cuối tuần bị giam giữ, tôi được đưa tới trước mặt thẩm phán Venetta Tassopulos vào sáng thứ Hai cho buổi điều trần đầu tiên, với dự tính sẽ được bảo lãnh tạm tha sau đó. Tay luật sư mà tòa chỉ định cho tôi hỏi liệu có phải tôi từng bỏ trốn hay không. Hóa ra hắn đã nói chuyện với ủy viên công tố, người này nói với hắn rằng tôi từng chạy tới Isarel vào năm 1984, điều này không đúng sự thật.

Khi buổi điều trần bắt đầu, tôi ngồi đó sững sờ nghe tay ủy viên công tố, phụ tá luật sư Leon Weidman, không ngừng rót tội tôi trước tòa. Weidman nói với thẩm phán: “Vấn đề này thực sự rất nghiêm trọng, chúng tôi phải tìm hiểu khắp nơi để nắm được những gì anh ta đã làm.” Và đây là những gì hắn nói tôi đã làm, bên cạnh nhiều điều khác:

Tấn công vào NSA và chiếm đoạt mã đăng nhập bí mật Ngắt điện thoại của viên giám sát tạm tha trước đây Xáo trộn báo cáo về công ty TRW của tòa án sau khi nhận được đối xử bất lợi Cài tin giả cho báo chí về việc ngân hàng SPNB thất thoát hàng triệu đô-la sau khi bị hủy tuyển dụng Liên tục quấy rối và cắt dịch vụ điện thoại của diễn viên Kristy McNichol Tấn công máy tính của phòng cảnh sát và xóa tư liệu phạm tội trước đó của bản thân.

Rõ ràng, tất cả đều trật lất.

Luận điệu cho rằng tôi đã tấn công vào NSA hoàn toàn nực cười. Một trong những chiếc đĩa mềm bị cảnh sát Santa Cruz tịch thu có tập tin “NSATXT”. Đây là kết quả của lệnh “whois” liệt kê tất cả người dùng đăng ký trên Dockmaster, hệ thống máy tính phi bảo mật của NSA mà Lenny đã thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội để thâm nhập thời hắn còn làm ở Hughes Aircraft. Mọi thứ trên tập tin đều là thông tin công khai, bao gồm cả danh sách các số máy phụ của Trung tâm Bảo mật Máy tính Quốc gia. Tay luật sư, hiển nhiên là không hiểu hắn đang thấy cái gì, đã liệt kê số máy phụ công khai là “mã đăng nhập bí mật”. Thật không thể tin nổi.

Một luận điệu khác, ý cho rằng tôi đã tấn công vào máy tính của cảnh sát và xóa đi dữ liệu phạm tội của mình, có liên quan tới lần tôi đã hack vào SCO, nhưng những dữ liệu đã mất thực sự là lỗi của cơ quan chấp pháp. Hãy nhớ rằng Bonnie và tôi đã tự thú ở phòng cảnh sát phía Tây Hollywood. Chính vì họ đã bỏ qua, không buồn lấy dấu vân tay hay chụp ảnh chúng tôi nên mới không có dữ liệu liên quan đến vụ bắt giữ đó. Nói tóm lại, đó là lỗi của họ vì đã tắc trách: Họ không làm công việc lẽ ra phải làm.

Tất cả các luận điệu còn lại cũng sai nốt. Chúng được chỉnh sửa lại từ những tin đồn mà rõ ràng nhằm thuyết phục quan tòa rằng tôi là một mối lo ngại nghiêm trọng tới vấn đề an ninh quốc gia.

Điều khiến tôi hoang mang nhất là ý kiến cho rằng tôi liên tục ngắt dịch vụ điện thoại của nữ diễn viên Kristy McNichol chỉ vì si mê cô ấy. Thứ nhất, tôi không thể tưởng tượng nổi sao người ta có thể nghĩ rằng việc ngắt điện thoại của ai đó là cách thể hiện tình yêu. Tôi không hiểu câu chuyện bắt đầu như thế nào. Những trải nghiệm này đã hằn sâu trong ký ức tôi. Tôi phải chịu nỗi nhục lớn khi xếp hàng ở tiệm tạp hóa và trông thấy ảnh mình đính ngay trên trang bìa tờ National Examiner với dòng chữ hoa mỹ ngay bên cạnh nói rằng tôi là một kẻ rình mò điên cuồng bị ám ảnh bởi Kristy McNichol! Thứ cảm giác tôi phải trải qua khi vội liếc sang xung quanh, mong mỏi không có người mua hàng nào nhận ra mình trên trang bìa là thứ cảm giác tôi không muốn ngay cả kẻ thù tồi tệ nhất của mình phải chịu đựng.

Vài tuần sau, mẹ tôi, lúc đó đang làm việc tại Jerry’s Famous Deli ở Studio City, trông thấy McNichol dùng bữa trưa tại quán. Bà tự giới thiệu bản thân và nói: “Kevin Mitnick là con trai tôi.”

McNichol nói ngay sau đó: “Vâng, vậy làm sao anh ta cứ ngắt điện thoại của tôi vậy?” Bà nói rằng chuyện này chưa từng xảy ra với mình và cũng như tôi, chính bà cũng tự hỏi tin đồn đã bắt đầu như thế nào. Một thời gian sau, một tay thám tử tư đã khẳng định rằng không hề có chuyện như vậy.

Nhiều năm sau, khi mọi người hỏi tại sao tôi lại chạy trốn thay vì đối mặt với những cáo buộc chống lại mình, tôi đã nhớ lại những khoảnh khắc này. Thành thực mà nói, tôi được lợi gì nếu những kẻ buộc tội tôi rồi cũng sẽ tìm cách chơi bẩn? Nếu không thể chắc rằng mình sẽ được đối xử công bằng và chính quyền lại luôn sẵn lòng kết án dựa trên tin đồn thất thiệt, thì cách phản ứng thông minh nhất chính là trốn chạy!

Khi đến lượt mình trình bày trước tòa, tay luật sư chỉ định phát biểu rằng tôi quả thực có tới Israel vào cuối năm 1984, có điều tôi không hề bỏ trốn mà chỉ là ghé thăm. Tôi lại sững sờ. Chúng tôi đã nói về chuyện này chỉ 10 phút trước khi phiên tòa bắt đầu, tôi đã giải thích rằng mình chưa từng rời khỏi đất nước này trong nhiều năm, cũng như thực tế là tôi chưa từng đi nước ngoài. Mẹ, bà tôi và Bonnie đều kinh ngạc bởi họ biết anh ta đã nói những điều không đúng sự thật. Làm sao mà một luật sư lại có thể bất tài tới vậy?

Trong nỗ lực cuối cùng nhằm đe dọa tòa án, Leon Weidman đã đưa ra một tuyên bố có lẽ là vô nhân đạo nhất được phát ra từ miệng một luật sư công tố liên bang: Hắn nói với thẩm phán Tassopulos rằng tôi có thể sẽ khởi xướng một cuộc tàn sát hạt nhân. “Anh ta có thể thì thầm qua điện thoại và ra lệnh phóng tên lửa hạt nhân từ NORAD,”[5] hắn nói. Ý niệm kỳ cục cỡ này có thể nảy ra từ đâu cơ chứ? Máy tính của NORAD thậm chí còn không kết nối với thế giới bên ngoài. Và hiển nhiên là họ không dùng đường dây điện thoại công cộng để phát lệnh phóng tên lửa rồi.

Những phát ngôn khác của hắn, tất cả đều hoàn toàn sai lệch, đều là những câu chuyện bịa đặt có vẻ được góp nhặt từ đâu đó qua các bài báo thêu dệt. Có điều tôi chưa từng nghe tới vụ NORAD này, thậm chí là trong các câu chuyện khoa học viễn tưởng. Khả năng duy nhất mà tôi có thể nghĩ tới là hắn ta đã lấy nó từ bộ phimWar Games (tạm dịch: Mật mã chết) đình đám của Hollywood. (Sau này mọi người đều cho rằng bộ phim War Games đã khai thác một phần câu chuyện thật của tôi nhưng không phải vậy.)

Weidman đã thêu dệt nên hình ảnh của tôi như một Lex Luther trong thế giới máy tính (tôi đoán chắc hẳn phải là siêu nhân thật!). Ý tưởng thì-thầm-qua-điện-thoại nhảm nhí tới mức tôi đã phá lên cười khi nghe hắn nói vậy. Hẳn là quan tòa có thể nói với hắn điều đó thật lố bịch.

Thay vào đó, tòa tuyên bố tôi bị giam giữ và không được quyền bảo lãnh tại ngoại bởi tôi là một mối nguy hại cho cộng đồng khi được “trang bị vũ khí bàn phím” (hẳn là “trang bị vũ khí”!). Và quan tòa còn nói thêm rằng tôi phải được tạm giam tại nơi không có kết nối điện thoại. Khu vực giam giữ dành cho những tù nhân thông thường đều có điện thoại để tù nhân có thể nhận cuộc gọi. Chỉ có một khu vực duy nhất không có điện thoại: vùng biệt giam, còn được biết đến dưới cái tên “cái lỗ”.

Trong một số báo của tạp chí Time phát hành ngày 9 tháng 1 năm 1989 có một bài viết với tựa “Technology” (tạm dịch: Công nghệ) có đoạn trích như sau: “Ngay cả nghi phạm nguy hiểm nhất cũng thường được phép sử dụng điện thoại, nhưng Kevin Mitnick thì không – ít nhất là anh ta không được phép nếu không có sự giám sát của cai ngục. Sau đó, anh ta được quyền gọi cho duy nhất vợ, mẹ và luật sư. Lý do là vì đặt điện thoại vào tay Mitnick như thể đưa súng vào tay sát thủ. Một sinh viên đại học 25 tuổi đã bị quan chức liên bang buộc tội sử dụng hệ thống điện thoại để trở thành một trong những nghệ sĩ tấn công hệ thống máy tính đáng gờm nhất mọi thời đại.”

“Như thể đưa súng vào tay sát thủ” – là những từ dùng để nói về một người mà vũ khí duy nhất của anh ta là dòng mã máy tính và tấn công bằng kỹ thuật xã hội!

Tôi không có cơ hội nào để bào chữa. Buổi xét xử trước tòa chỉ quan tâm tới một vấn đề duy nhất là quyết định tống giam ban đầu. Trong hệ thống luật pháp liên bang, bạn phải “quay vòng quay” và sẽ có một thẩm phán liên bang được chỉ định ngẫu nhiên. Tôi nghe nói thực ra mình vẫn còn may mắn vì “quay” trúng thẩm phán Mariana Pfaelzer. Không hẳn thế.

Luật sư mới được chỉ định cho vụ của tôi, Alan Rubin, đã cố bào chữa rằng tôi không nên bị tống vào khu biệt giam, vốn chỉ dành cho những tù nhân phạm tội nguy hiểm trong tù và có thể là mối nguy hại tới chính tù lao. Thẩm phán Pfaelzer nói: “Đó mới chính là nơi dành cho cậu ta.”

Vậy là tôi được đưa tới Trung tâm Giam giữ Đô thị ở Los Angeles, nơi tôi bị áp tải lên tầng 8, phòng 8 phía Bắc và được giới thiệu ngôi nhà mới của mình, một khoảng không gian chừng 2 mét rưỡi tới 3 mét, với một khe cửa sổ hẹp đứng, mà qua đó tôi có thể thấy xe cộ, ga tàu và mọi người bước qua lại đầy tự do; còn cả khách sạn Metro Plaza mà dù có xập xệ thì trong mắt tôi lúc đó vẫn là thiên đường. Tôi thậm chí không thể thấy cai ngục hay những tù nhân khác, bởi cánh cửa buồng biệt giam là cửa thép kín chỉ có một khe hẹp đủ để khay đồ ăn trượt qua.

Nỗi cô đơn khiến tâm trí tôi tê liệt. Tù nhân ở trong “lỗ” suốt thời gian dài thường mất liên hệ với thực tại. Một vài người vĩnh viễn không thể phục hồi và sẽ sống suốt phần đời còn lại trong vùng đất tưởng tượng đầy u ám, mất khả năng sinh hoạt xã hội, mất khả năng đảm nhiệm một công việc nào đó. Để có thể hiểu được điều đó là như thế nào, bạn hay thử mường tượng cảnh bị mắc kẹt 23 giờ mỗi ngày trong một chiếc tủ quần áo được thắp sáng bởi một bóng đèn 40W duy nhất.

Mỗi khi rời phòng giam, dù chỉ để bước chừng 3m tới chỗ tắm rửa, tôi sẽ bị cùm xích cả chân lẫn tay. Đây là cách đối xử hệt như với một phạm nhân vừa tấn công người cai ngục. Để “tập thể dục”, tôi lê bước chân một lần mỗi ngày để tới cũi ngoài trời, chỉ rộng cùng lắm gấp đôi phòng giam của mình. Tại đây, tôi có một giờ để hít thở không khí trong lành và chống đẩy vài cái.

Tôi đã sống sót như thế nào? Những cuộc ghé thăm của cha, mẹ, bà và vợ là tất cả những gì tôi mong ngóng. Để cứu rỗi linh hồn mình, tôi cố giữ cho đầu óc hoạt động. Vì không bị tống vào khu biệt giam do vi phạm quy định nhà tù, nên những điều khoản chặt chẽ dành cho phạm nhân tại đây được nới lỏng đôi chút đối với tôi. Tôi có thể đọc sách và tạp chí, viết thư, nghe đài Walkman (kênh yêu thích của tôi là kênh tin tức KNX 1070 và rock cổ điển). Việc viết lách gặp khó khăn vì tôi chỉ được cho một mẩu bút chì ngắn và cùn đến nỗi chỉ có thể dùng được vài phút mỗi lần.

Nhưng dù đơn độc và mặc cho những nỗ lực lớn nhất của phía tòa án, tôi vẫn thực hiện được một chút phone phreaking. Tôi được phép thực hiện cuộc gọi cho luật sư, cha, mẹ và dì Chickie cũng như Bonnie, nhưng chỉ khi nàng ở nhà chứ không phải tại nơi làm việc. Đôi khi tôi thèm khát được nói chuyện với nàng suốt cả ngày. Để được gọi điện, tôi sẽ bị cùm lại và bước tới một hành lang có ba chiếc điện thoại. Cai ngục sẽ tháo bớt cùm xích khi chúng tôi tới được khu vực điện thoại và ngồi cách đó chừng mét rưỡi, nhìn thẳng vào tường treo điện thoại.

Gọi điện cho ai đó không nằm trong danh sách tòa cho phép là việc bất khả thi, như kiểu cố gắng hối lộ cai tù vậy – và tôi biết đây là cách ngắn nhất để có được vài đặc quyền mà tôi đã bị cắt bỏ.

Nhưng liệu không có cách nào để tôi có thể gọi cho Bonnie khi nàng ở chỗ làm hay sao? Tôi nghĩ ra một kế hoạch tuy khá liều lĩnh nhưng dù sao thì tôi cũng chẳng còn gì để mất. Tôi đã bị tống vào khu biệt giam, đã bị coi là một mối nguy hại đối với an ninh quốc gia. Tôi đã chạm đáy rồi.

Tôi nói với cai ngục: “Tôi muốn gọi cho mẹ tôi” và anh ta tìm số điện trên sổ. Anh ta bước vài bước tới quay số rồi đưa ống nghe cho tôi. Người phụ trách nghe máy và hỏi tên tôi, sau đó đặt máy cho tới khi mẹ tôi trả lời đồng ý nhận cuộc gọi từ Kevin, và thế là chúng tôi kết nối.

Khi nói chuyện với mẹ, tôi thường cọ cọ lưng mình vào máy điện thoại như thể đang bị ngứa. Cuối buổi nói chuyện, tôi đặt một tay ra sau lưng, giả vờ làm động tác gãi lưng. Trong khi vẫn tiếp tục nói chuyện như thể cuộc đối thoại đang diễn ra, bàn tay sau lưng tôi sẽ giữ móc chuyển đổi[6] trong vài giây để kết thúc cuộc gọi. Sau đó, tôi sẽ thu tay lại đặt trước người.

Tôi biết mình chỉ có 18 giây để quay số mới trước khi máy điện thoại phát ra tín hiệu máy bận rất nhanh và ồn ào tới mức cai ngục chắc chắn sẽ nghe thấy.

Do vậy, tôi lại đưa tay ra sau lần nữa và giả vờ gãi lưng, đồng thời nhanh chóng quay bất kỳ số điện nào mà tôi muốn gọi – bắt đầu bằng số 0 để thực hiện cuộc gọi. Tôi thường lắc mình theo nhịp khi gãi lưng, do vậy, cai ngục đã quen thuộc với hành động này và không lấy làm nghi ngờ.

Dĩ nhiên tôi không thể nhìn bảng quay số, do đó tôi phải chắc chắn mình bấm đúng số ngay cả khi không nhìn. Và tôi phải giữ điện thoại áp chặt vào tai để che giấu âm thanh kết nối vào số mới.

Sau một hồi, tôi vẫn hành động như thể đang nói chuyện với mẹ. Tôi gật gù và tạo vẻ trước cái nhìn của gã cai ngục.

Sau khi bấm số, tôi phải thiết kế cuộc trò chuyện giả sao cho thật chuẩn, để khi bên tổng đài nhấc máy và hỏi: “Đã nhận cuộc gọi. Tôi nên nói rằng ai đang gọi?” thì từ kế tiếp tôi phải nói là “Kevin” – trong một câu nghe có vẻ bình thường khi đến tai cai ngục. (Lúc tổng đài hỏi tên, tôi sẽ nói một câu gì đó kiểu như: “Mẹ nhớ nói bác John rằng…” Tổng đài ngừng nói và đợi tôi trả lời, đúng lúc đó tôi sẽ nói: “… KEVIN... gửi lời thăm hỏi.”)

Giọng Bonnie cất lên, trái tim tôi đập rộn ràng. Tôi cố kìm nén bản thân, ép mình phải nói bằng giọng điệu kém sôi nổi hơn, như thể đang thực sự nói chuyện với mẹ.

Thành công rồi. Tôi phấn chấn như thể vừa hoàn thành một trận hack hoành tráng.

Lần đầu tiên là khó nhất. Tôi duy trì hoạt động này mỗi ngày. Thực kỳ lạ là tại sao mấy gã cai ngục không mua tặng tôi tuýp kem ngứa.

Vài tuần sau khi tôi bắt đầu mánh khóe này, một đêm cửa phòng giam bật mở khi tôi đang ngủ. Đứng đó là một đám người trong bộ cảnh phục; vài gã cai tù và giám đốc trại giam. Tôi bị còng tay, cùm chân và đẩy đến một phòng họp cách đó chừng 10m. Tôi ngồi xuống, một trong những gã cai ngục lên tiếng: “Mitnick, cậu đã làm vậy bằng cách nào? Làm sao cậu có thể quay số khác?” Tôi giả vờ không hiểu, cho rằng có điên mới thừa nhận điều gì. Cứ để họ tự chứng minh điều đó đi.

Giám đốc trại giam chen vào: “Chúng tôi đã theo dõi các cuộc gọi. Cậu quay số bằng cách nào? Cai ngục vẫn luôn để ý đến cậu.” Tôi mỉm cười và nói: “Tôi không phải là David Copperfield – tôi quay số lại thế quái nào được? Mấy tay cai ngục cũng chưa từng rời mắt khỏi tôi.”

Hai ngày sau, tôi nghe thấy tiếng ồn bên ngoài phòng. Đó là kỹ thuật viên đến từ Pacific Bell. Chuyện quái gì vậy? Hắn ta đang lắp một ổ cắm giắc điện thoại trên hành lang phía bên kia phòng tôi, và lần tới khi yêu cầu được gọi điện thoại, tôi đã đoán được tình hình: Tay cai ngục sẽ mang một chiếc điện thoại có dây nối với ống nghe dài tới 6m và cắm vào ổ, quay số điện thoại mà tôi yêu cầu, sau đó chuyển ống nghe qua lỗ cửa sắt vào phòng tôi. Còn bản thân chiếc điện thoại thì nằm xa ngoài tầm với của tôi. Lũ chết tiệt!

Ngoài chuyện nhận các cuộc gọi đến thì Bonnie còn trực tiếp ủng hộ tôi trên nhiều mặt. Ba lần mỗi tuần sau khi tan việc, nàng lái xe cả đoạn đường dài tới nhà tù, đứng xếp hàng rất lâu để tới lượt gặp tôi trong phòng thăm, bên cạnh là cai ngục đứng quan sát cả buổi. Chúng tôi được phép ôm hôn nhanh chóng. Hết sức thành khẩn, tôi không ngừng đảm bảo với nàng rằng đây sẽ là lần cuối mình làm những chuyện tương tự. Và cũng như những lần trước, tôi đã thực sự tin như vậy.

Tôi tiếp tục ngồi yên trong cô độc trong khi luật sư Alan Rubin thương lượng với bên công tố về lý lẽ biện hộ cho phép tôi ra tù mà không bị đưa ra xét xử. Tôi bị buộc tội tấn công vào DEC và chiếm đoạt các mã đăng nhập MCI, gây tổn thất tới 4 triệu đô-la cho DEC – một cáo buộc lố bịch. Tổn thất thực sự của DEC có liên quan tới việc điều tra sự cố; 4 triệu đô-la chỉ là một con số ngẫu nhiên được chọn ra nhằm ép tôi phải nhận mức án ngồi tù lâu dài dựa trên Bản hướng dẫn Tuyên án Liên bang. Án phạt dành cho tôi lẽ ra phải dựa trên mức phí cấp phép của những mã nguồn tôi đã sao chép, con số này thấp hơn rất, rất nhiều.

Dù vậy, tôi vẫn muốn giải quyết cho xong và thoát khỏi phòng giam chẳng khác nào cỗ quan tài kia càng sớm càng tốt. Tôi không muốn có thêm một vụ xét xử bởi tôi biết quan chức liên bang sẽ dễ dàng có đủ bằng chứng để buộc tội tôi: Họ đang nắm trong tay các ghi chép và đĩa mềm, Lenny thì háo hức muốn làm chứng chống lại tôi, họ có đĩa ghi âm từ máy ghi mà Lenny đã đeo trong buổi hacking cuối cùng đó.

Sau cùng, luật sư biện hộ của tôi đã dàn xếp xong xuôi với công tố viên liên bang để đưa ra án tù một năm dành cho tôi. Họ muốn tôi đứng ra làm chứng chống lại Lenny. Điều này khiến tôi bất ngờ, vì tôi vẫn nghe rằng kẻ quay đầu trước tiên sẽ thoát tội một cách dễ dàng, có khi còn chẳng phải ngồi tù. Nhưng giờ đây họ lại muốn tôi quay lại cắn trả kẻ chỉ điểm cho mình, người bạn cũ của tôi. Được, tôi nói. Lenny đã tung bằng chứng chống lại tôi, tại sao tôi lại không đền đáp hắn ta thật hậu hĩnh cơ chứ?

Nhưng khi chúng tôi ra tòa, thẩm phán Pfaelzer hiển nhiên đã bị ảnh hưởng lớn bởi rất nhiều tin đồn và cáo buộc vô lý về tôi. Bà bác bỏ thỏa thuận nhận tội của tôi, cho rằng như vậy thì quá khoan dung. Dù vậy, bà đồng ý với một phiên bản thỏa thuận khác, trong đó tôi sẽ phải ngồi tù một năm và sau đó là nửa năm ở trung tâm tái hòa nhập dành cho phạm nhân mới ra tù. Ngoài ra, tôi được yêu cầu nói cho Andy Goldstein của DEC biết tôi đã hack vào DEC và sao chép hầu hết mã nguồn của họ như thế nào.

Ngay khi tôi chấp thuận thỏa thuận nhận tội, trạng thái “mối nguy hại đối với an ninh quốc gia” đã bị gỡ bỏ một cách thần kỳ. Tôi được chuyển từ khu biệt giam tới phòng giam dành cho tù nhân thông thường. Mới đầu, tôi có cảm giác thật tuyệt như thể mình đã được tự do vậy, nhưng sau đó, thực tại nhanh chóng nhắc nhở tôi rằng đây vẫn là nhà tù.

Khi tôi ở khu vực tù chung thuộc nhà giam Metropolitan Detention Center, bạn tù của tôi, một gã đầu sỏ buôn thuốc phiện người Colombia, đã đề nghị cho tôi 5 triệu đô-la nếu tôi có thể hack vào Sentry, hệ thống máy tính của Cục Giam giữ Liên bang và giúp gã được thả tự do. Tôi vờ chấp thuận để giữ mối quan hệ hòa hảo với gã, nhưng tuyệt đối không định làm theo ý gã.

Rất nhanh chóng, tôi được chuyển tới trại tù liên bang ở Lompoc. Nơi đây quả là một sự khác biệt: có ký túc xá thay vì phòng giam, thậm chí còn không có cả hàng rào bao quanh. Tôi sống cùng những cái tên khét tiếng trong giới tội phạm cổ cồn trắng. Bạn tù của tôi thậm chí còn có cả cựu thẩm phán liên bang bị kết tội trốn thuế.

Tôi lên cân vù vù, đạt mức 109kg, trong khoảng thời gian biệt giam do sống chủ yếu dựa vào nguồn thực phẩm có tính an ủi từ cửa hàng bách hóa trong tù với những loại đồ ăn như thanh kẹo Hershey phủ bơ lạc. Này, chẳng phải lúc bạn cô đơn quạnh quẽ, bất kỳ thứ gì có thể khiến bạn cảm thấy khá hơn đều tốt sao?

Nhưng giờ đây, tại Lompoc, một bạn tù khá dễ thương có tên Roger Wilson đã thuyết phục tôi đi bộ và tập thể dục nhiều hơn, cũng như giữ thói quen ăn uống thực phẩm lành mạnh như gạo, rau… Lúc bắt đầu thực sự rất khó khăn, nhưng với sự động viên của anh ấy, tôi đã thành công. Chính những thay đổi trong phong cách sinh hoạt đã giúp tôi như được tái sinh, ít ra là về mặt hình ảnh cơ thể.

Một lần, khi tôi đang ngồi trên băng ghế gỗ chờ tới lượt dùng điện thoại, Ivan Boesky tới ngồi cạnh tôi, trên tay là một cốc cà phê. Mọi người đều biết gã là ai: triệu phú một thời, thiên tài tài chính bị kết tội giao dịch nội gián46*. Hóa ra gã cũng biết tôi. “Này, Mitnick,” gã mở lời, “cậu kiếm được bao nhiêu từ việc tấn công mấy cái máy tính đó?”

“Tôi không làm vì tiền; tôi làm chỉ để giải trí thôi,” tôi trả lời.

Gã nói gì đó kiểu như: “Cậu bị tống vào tù và cậu chẳng kiếm được xu nào. Như thế không phải là quá ngu xuẩn à?” Chính trong khoảnh khắc gã đang nhìn tôi đầy khinh miệt, tôi vô tình trông thấy một con gián nổi lều phều trong cốc cà phê của gã. Tôi mỉm cười, chỉ vào nó và nói: “Ở đây chẳng giống như Helmsley nhỉ?”

Boesky không đáp lại. Gã đứng dậy và bước thẳng.

Sau gần bốn tháng ở Lompoc, tôi chuẩn bị được chuyển tới trung tâm tái hòa nhập Beit T’Shuvah. Tôi nghe nói đó là tên tiếng Do Thái, có nghĩa là “Ngôi nhà của sự trở về”. Beit T’ Shuvah có chương trình 12 giai đoạn dành cho những người nghiện thuốc, rượu và các thói gây nghiện khác.

Lần chuyển chỗ tới trung tâm tái hòa nhập là một tin tốt. Tin xấu là một nhân viên quản chế đã gọi cho Bonnie để đặt lịch “kiểm tra” căn hộ nàng đang sống, với lời giải thích rằng hắn ta phải xét duyệt chỗ ở tương lai của tôi trước khi tôi được thả. Với Bonnie, đây là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Nàng cảm thấy mình không thể chịu đựng thêm được nữa. “Anh không cần phải khám nhà tôi,” nàng nói với gã. “Chồng tôi sẽ không sống ở đây.” Trong lần thăm sau đó, nàng nói với tôi tin xấu: Nàng đã nộp đơn ly hôn.

Nàng nói: “Đúng là thời điểm vô cùng đau đớn với em. Em nghĩ mình đã gục ngã. Điều đó thật đáng sợ. Em sợ viễn cảnh phải xa anh, nhưng cũng quá sợ hãi để ở lại. Nỗi sợ đó trở nên quá lớn.”

Tôi sững sờ. Chúng tôi đã lên kế hoạch sống bên nhau trọn đời và giờ nàng đổi ý ngay khi tôi sắp được thả ra. Tôi cảm thấy như thể cả tấn gạch nện vào người. Tôi thực sự đau đớn và hoàn toàn choáng váng.

Bonnie đồng ý tới trung tâm tái hòa nhập để tham dự vài buổi tư vấn hôn nhân cùng tôi. Nhưng chẳng ích gì.

Tôi thực sự thất vọng về quyết định chấm dứt của Bonnie. Đâu là nguyên nhân khiến trái tim nàng thay đổi? Hẳn phải có một gã khốn nào đó – một ai đó trong ảnh. Tôi nghĩ mình có thể tìm ra đó là ai bằng cách kiểm tra các tin nhắn trên máy trả lời điện thoại của nàng. Tôi thấy mình thật tệ hại khi làm việc này, nhưng tôi muốn biết sự thật.

Tôi biết máy trả lời tin thoại của Bonnie là một sản phẩm của Radioshack bởi tôi đã nhận ra tiếng chuông vang lên khi đề nghị người gọi để lại tin nhắn. Tôi cũng biết chính xác dòng máy này, bạn có thể lấy lại tin nhắn từ xa trong điều kiện có được thiết bị cầm tay đi kèm với máy, thiết bị này sẽ phát ra một cụm âm thanh đặc biệt để khởi động bộ phát phát lại. Làm sao tôi có thể xử lý chuyện này và nghe được tin nhắn của nàng mà không dùng tới máy bấm từ xa kia?

Tôi gọi cho cửa hàng Radioshack và mô tả dòng máy trả lời thoại của Bonnie, sau đó nói thêm rằng tôi bị mất thiết bị điều khiển từ xa kia và cần mua cái mới. Nhân viên bán hàng trả lời có bốn loại máy bấm có thể dùng cho nhiều loại model của máy trả lời tin thoại kia – A, B, C và D – mỗi loại lại có một chuỗi âm báo khác nhau. Tôi nói: “Tôi là nhạc công, tai tôi rất thính.” Anh ta muốn tôi trực tiếp tới cửa hàng, nhưng tôi không thể rời trung tâm bởi những người mới đến không được phép rời đi trong 30 ngày đầu tiên. Tôi khẩn khoản đề nghị anh ta mở hộp các mẫu thiết bị, lắp pin vào và bật điều khiển cho tôi nghe.

Sự kiên trì của tôi đã được đền đáp: Tay bán hàng rất chịu khó lắp bốn loại điều khiển và bật từng âm báo lên cho tôi. Tôi chạy máy thu âm trong suốt khoảng thời gian đó, ấn chặt vào ống nghe điện thoại để ghi vào băng cát-sét.

Kế tiếp, tôi gọi vào máy Bonnie và bật âm vừa thu qua điện thoại. Âm thứ ba có tác dụng. Tôi nghe thấy Bonnie để lại tin nhắn trên máy của chính nàng, có lẽ là từ công ty. Khi cuộc gọi kết nối, một gã nào đó trong căn hộ của nàng nhấc máy và máy thu âm ghi lại cuộc nói chuyện từ cả hai đầu dây, nàng nói với gã ta về việc “thời gian bên anh thật tuyệt”.

Nghe lén tin nhắn của Bonnie là một việc làm ngu ngốc bởi nó khiến nỗi đau trong lòng tôi càng trở nên tồi tệ hơn rất nhiều. Nhưng điều đó đã khẳng định mối nghi ngờ của tôi. Tôi vô cùng giận dữ vì nàng đã nói dối. Tôi cũng tuyệt vọng đến mức định trốn khỏi trung tâm để đi gặp nàng. Thực may mắn khi tôi biết kiềm lòng với suy nghĩ đó hẳn phải là một sai lầm lớn nếu phạm phải.

Khi tháng đầu tiên kết thúc, tôi được phép rời trung tâm tới vài buổi hẹn và chuyến thăm định sẵn. Tôi thường tới thăm Bonnie, cố gắng giành lại nàng. Tại một trong những buổi ghé thăm đó, tôi nhận ra nàng vô ý để quên hóa đơn điện thoại tháng trước trên bàn. Nó cho thấy nàng đã nói chuyện điện thoại hàng giờ với Lewis De Payne, người đến tận giây phút đó tôi vẫn nghĩ là bạn thân thiết nhất của mình.

Đương nhiên, tôi phải tìm ra câu trả lời chắc chắn. Tôi hỏi vu vơ rằng liệu nàng có nghe được tin tức gì về những người bạn của tôi không, như Lewis chẳng hạn.

Nàng nói dối, thẳng thừng phủ nhận việc đã từng liên lạc với hắn ta – và điều này đã khẳng định nỗi sợ hãi lớn nhất trong lòng tôi. Nàng đã giáng một đòn thật mạnh vào tâm trí tôi. Còn đâu niềm tin tôi vẫn đặt trọn vẹn vào nàng? Tôi vạch rõ mọi chuyện để thẳng thắn nhưng rồi chúng cũng chẳng đi tới đâu cả. Tôi đã thất bại hoàn toàn. Liếm láp vết thương trên mình, tôi bỏ đi và cắt đứt liên lạc với nàng trong một thời gian dài.

Không lâu sau, nàng chuyển đến sống cùng Lewis. Với tôi, chuyện này chẳng có nghĩa lý gì: Nàng đã rời bỏ một con nghiện hacking để đến bên một gã khác với khuynh hướng tương tự. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Bonnie không phải chỉ là bạn gái của tôi, nàng còn là vợ tôi. Và giờ đây, nàng lại đến với người bạn thân nhất của tôi.

Sau khi được tại ngoại, tôi chuyển từ thói nghiện hacking sang một thói nghiện khác: Tôi bị ám ảnh với việc tập gym và ngày nào cũng vùi mình trong phòng tập vài tiếng.

Tôi cũng tìm được một công việc ngắn hạn trong ba tháng, trở thành nhân viên hỗ trợ kỹ thuật cho một công ty có tên Case Care. Khi tôi xong việc, giám sát viên đồng ý để tôi chuyển tới Las Vegas, nơi mẹ tôi đang sống và sẵn lòng chào đón tôi tới ở với bà cho tới khi tìm được chốn riêng.

Sau nhiều tháng, tôi giảm được 45kg và đạt được hình thể tuyệt nhất trong đời. Tôi đã không còn hacking nữa. Tôi cảm thấy mọi thứ thật tuyệt. Nếu bạn hỏi tôi lúc đó, tôi hẳn sẽ nói rằng những ngày tháng hacking đã lùi sâu vào quá khứ.

Đó là những gì tôi nghĩ lúc đó.

❀ ❀ ❀

[1] 40* Prompt: Dấu nhắc lệnh, tức ký hiệu xuất hiện trên cửa sổ thông báo sẵn sàng đợi lệnh. (ND)

[2] 41* Bản vá lỗi (patch): Một loạt các thay đổi dành cho chương trình máy tính hay các dữ liệu hỗ trợ chương trình được thiết kế nhằm cập nhật, chỉnh sửa hay cải thiện chương trình đó. Bản vá lỗi có thể bao gồm việc chỉnh sửa lỗ hổng bảo mật và các lỗi lập trình khác, hay nâng cao tính khả dụng hoặc hiệu suất. (BTV)

[3] 43* Truất hữu Lương bổng (Wage Garnishment): Khoản khấu trừ trong lương được tòa án Mỹ cho phép nhằm giúp người cho vay có thể thu một phần tiền của người vay nợ thông qua bên thứ ba như công ty tuyển dụng bên vay nợ. (ND)

[4] 44* NORAD (North American Aerospace Defense Command): Bộ Tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ, cơ quan quân sự phối hợp của Mỹ và Canada có nhiệm vụ cảnh báo và bảo vệ không phận của hai quốc gia này. (BTV)

[5] 45* Móc chuyển đổi (Switch hook): Điện thoại bàn thời trước thường được trang bị một móc chuyển đổi với chuông được gắn vào đường dây điện thoại. Khi thực hiện cuộc gọi, móc chuyển đổi được tách ra, đường dây điện thoại sẽ kết nối tới mạch truyền dẫn của hệ thống điện thoại. Còn khi kết thúc cuộc gọi, móc chuyển đổi được nhấn xuống, đường dây điện thoại sẽ ngắt kết nối. (BTV)

[6] 46* Giao dịch nội gián (insider trading): Là hoạt động mua hoặc bán chứng khoán bởi một người có khả năng tiếp cận các thông tin bí mật, chưa được công bố về loại chứng khoán đó. Việc mua bán nội bộ có thể bị coi là phạm pháp hay không phụ thuộc vào thời gian mà hành động này được thực hiện. Nó là phạm pháp nếu các thông tin, tài liệu vẫn chưa được công bố ra ngoài vì như vậy sẽ không công bằng đối với các nhà đầu tư khác không nắm được các thông tin này. Những người thực hiện mua bán nội bộ thường sẽ phải trả tiền để mua lại bất kỳ thông tin nào chưa được công bố. (BTV)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.