Ngay ngày đầu tiên ở Seattle, máy nhắn tin đã rung lên vào lúc 6 giờ sáng khiến tôi sợ chết khiếp: Không ai ngoài Lewis và mẹ tôi có số máy này và Lewis luôn biết là không nên gọi tôi dậy sớm thế này. Dù gì thì đây cũng không thể là tin tốt.
Mắt nhắm mắt mở, tôi với tay lên bàn cạnh giường để chụp lấy máy nhắn tin và nhìn vào màn hình. Trên đó hiển thị chuỗi số “385912303”. Chuỗi chữ số đầu tiên tôi đã thuộc nằm lòng: số điện thoại của Showboat Hotel Casino.
Số “3” ở cuối có nghĩa là mã 3: KHẨN CẤP.
Chụp lấy máy điện thoại vốn đã được lập trình để luôn dùng số máy nhái không thể truy ngược về tôi, tôi gọi đến khách sạn và nhờ người trực tổng đài thông báo có “Mary Schultz” gọi. Mẹ tôi lúc đó hẳn phải đứng ngay cạnh điện thoại chờ tin, bởi bà đã nhấc máy luôn trong chưa đầy một phút.
“Có chuyện gì vậy mẹ?” tôi hỏi.
“Kevin, kiếm ngay một tờ New York Times đi. Con hãy làm ngay đi.”
“Có chuyện gì thế mẹ?”
“Con lên trên trang nhất rồi!”
“Chết tiệt! Có ảnh không mẹ?”
“Có, nhưng đó là ảnh cũ – nhìn không giống con chút nào.”
Không quá tệ, tôi nghĩ.
Tôi đi ngủ tiếp với suy nghĩ rằng: Việc này thật vô lý. Tôi không hề cướp hàng triệu đô-la bằng máy tính giống Stanley Rifkin. Tôi cũng không hề làm tê liệt hệ thống máy tính ở bất kỳ công ty hay cơ quan chính phủ nào. Tôi không đánh cắp thông tin thẻ tín dụng và dùng thẻ của người khác để trả hóa đơn. Tôi không nằm trong top 10 Những tên tội phạm bị truy nã của FBI. Tại sao tờ báo danh tiếng nhất nước Mỹ lại cho đăng bài về tôi?
Khoảng 9 giờ sáng, tôi tỉnh dậy lần nữa và ra ngoài để tìm nơi có bán tờ New York Times – việc này thật chẳng dễ gì tại khu nhà nghỉ cho thuê theo tuần ở Seattle.
Cuối cùng, tôi cũng kiếm được báo và hoàn toàn choáng váng. Tựa báo đập thẳng vào mắt tôi:
Kẻ bị truy nã gắt gao nhất không gian mạng: Hacker lẩn tránh cuộc rượt đuổi của FBI
Tôi bắt đầu đọc bài báo và không thể tin vào mắt mình. Chỉ có đoạn đầu câu chuyện là dễ chịu, họ trao cho tôi danh hiệu “pháp sư kỹ thuật”. Sau đó, John Markoff, phóng viên tờ Times viết bài báo, tiếp tục nói rằng “các nhân viên chấp pháp có vẻ không thể theo kịp anh ta.” Điều này chắc hẳn sẽ khiến đặc vụ Ken McGuire và đồng sự phải nóng mặt cũng như bị mất mặt với cấp trên – họ sẽ càng ráo riết tìm kiếm tôi hơn.
Bài báo viết sai lệch sự thật và đầy phỉ báng này khẳng định tôi đã nghe lén FBI – một việc mà tôi chưa từng làm. Và như một điềm báo trong bộ phim War Games (tạm dịch: Trò chơi chiến tranh) ra mắt năm 1983, tôi đã đột nhập vào máy tính của Bộ Chỉ huy Phòng không Không quân Bắc Mỹ (NORAD) – đó không chỉ là việc tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ làm mà còn gần như là một việc bất khả thi với bất cứ ai, bởi các máy tính trọng yếu của cơ quan này đều không kết nối với thế giới bên ngoài, nên chúng dĩ nhiên cũng miễn nhiễm với việc bị người ngoài hack được.
Markoff đã gọi tôi là “kẻ bị truy nã gắt gao nhất không gian mạng” và “một trong những tội phạm máy tính bị truy nã gắt gao nhất nước Mỹ”.
Tất cả những chuyện này xảy ra vào đúng ngày Quốc khánh, khi lòng ái quốc nhiệt thành của những người Mỹ gan dạ trở nên mạnh mẽ hơn bất kỳ ngày nào trong năm. Nỗi sợ máy tính và công nghệ của mọi người hẳn đã dâng đến cao trào khi họ đọc về một thằng oắt con trong lúc ngồi ăn trứng ốp-la hay ngũ cốc sáng, một mối hiểm họa đối với an ninh và sự an toàn của người Mỹ.
Sau này tôi mới biết được rằng nguồn tin của những lời dối trá trắng trợn này và nhiều đơm đặt khác đều đến từ một phone phreaker không đáng tin cậy, Steve Rhoades, hắn đã từng là một người anh em của tôi.
Tôi nhớ mình đã ở trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh sau khi đọc xong bài báo, cố đọc hết câu này đến câu khác mà không hề có câu nào đúng sự thật. Qua lời bài báo này, Markoff đã một tay tạo ra “Huyền thoại về Kevin Mitnick” – một huyền thoại làm xấu hổ FBI, khiến họ phải đặt việc tìm ra tôi trở thành ưu tiên hàng đầu và dựng lên những hình ảnh hư cấu, gây ảnh hưởng đến các công tố viên và thẩm phán, khiến họ coi tôi như một mối nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Tôi không thể không nhớ lại, năm năm trước tôi đã từ chối tham gia vào cuốn sách mà Markoff và vợ hắn thuở ấy, Katie Hafner, muốn viết về tôi và một số hacker khác, bởi họ muốn kiếm tiền từ câu chuyện của tôi trong khi bản thân tôi lại không kiếm được xu nào từ nó. Tôi cũng nhớ lại việc John Markoff nói với tôi trong một cuộc điện thoại rằng, nếu tôi không đồng ý phỏng vấn, bất kỳ điều gì người khác nói về tôi sẽ được coi là sự thật bởi tôi đã không ở đó để phản bác lại.
Thật đáng sợ khi phát hiện ra tôi đã trở thành mục tiêu vô cùng quan trọng của FBI.
Ít nhất bức ảnh đó cũng là một món quà. Tờ Times đã dùng bản sao tấm ảnh chụp mặt tôi năm 1988, tấm ảnh được chụp sau khi tôi bị giam ở Nhà tù Liên bang Terminal Island trong ba ngày mà không hề được tắm rửa, cạo râu, hay có quần áo để thay – tóc tôi rối bù, trông dơ dáy và lôi thôi, giống như một gã vô gia cư trên phố vậy. Người đang nhìn tôi trên trang nhất tờ báo có gương mặt béo phị, nặng hơn tôi vào ngày 4 tháng 7 khi đó khoảng 40-45kg.
Ngay cả vậy, bài báo đã nâng mức độ nguy hiểm của tôi thêm vài bậc. Tôi bắt đầu đeo kính râm đều đặn, ngay cả khi ở trong nhà. Nếu bất cứ ai hỏi: “Có chuyện gì với cái kính vậy?” tôi sẽ nói mắt tôi đang nhạy cảm với ánh sáng.
Đọc lướt qua mục Căn hộ Cho thuê được liệt kê trong tờ báo địa phương, tôi quyết định sẽ tìm một căn tại “Quận U”, gần Đại học Washington, hy vọng nơi đó sẽ giống như khu vực hấp dẫn, giàu sức sống Westwoo, cạnh UCLA tại Los Angeles. Tôi chọn một căn tầng hầm, tự nhủ rằng nó buồn tẻ hơn so với nhà nghỉ tôi vừa ở, nhưng hợp lý trong thời điểm hiện tại nhờ giá rẻ. Tòa nhà thuộc sở hữu của một ông chủ tên là Egon Drews, do anh con trai David của ông ta quản lý. Thật may, Egon cũng cả tin và không để tâm đến việc kiểm tra tín dụng hay lý lịch, việc một công ty quản lý thường yêu cầu.
Khu vực này hóa ra không phải là một lựa chọn quá tốt. Đây không phải là Westwood dễ chịu, nắng ấm, mà thay vào đó là khu vực xuống cấp, buồn bã của thành phố, la liệt những người ăn xin trên phố. Có thể tôi sẽ sống tốt hơn một khi có công việc ổn định. Nhưng ít nhất cũng có một YMCA gần đó để tôi có thể tiếp tục tập gym gần như hằng ngày.
Với tôi, một trong số ít điểm sáng của Quận U là nhà hàng Thái sạch sẽ với đồ ăn ngon, rẻ cùng một bồi bàn người Thái dễ thương. Cô ấy rất thân thiện, có nụ cười ấm áp và chúng tôi đã hẹn hò vài lần. Nhưng nỗi sợ hãi ngày xưa vẫn lởn vởn trong tôi – mối nguy về một mối quan hệ gần gũi, hay trong cơn mê sau vài phút đắm say, tôi có thể lỡ mồm để lộ ra điều gì đó về mình. Tôi vẫn tiếp tục tới dùng bữa ở nhà hàng nhưng nói với cô ấy rằng mình quá bận rộn để nghĩ tới chuyện tình cảm.
Dù có làm gì khác đi nữa, tôi luôn hack để giữ cho đầu óc được bận rộn. Đó là lý do tôi phát hiện ra Neill Clift, người đã tìm ra lỗi trong hệ điều hành VMS của DEC, đang dùng một tài khoản e-mail trên một hệ thống có tên là Hicom, ở Đại học Loughborough tại Anh.
Thật thú vị! Tôi gần như đã bỏ qua Clift khi phát hiện ra DEC đã cung cấp cho anh ta một chiếc Vaxstation 4000 và trả cho anh ta 1.200 bảng mỗi năm (quá rẻ) để tìm ra các lỗi bảo mật. Sau đó, tôi không hy vọng anh ta sẽ dùng bất cứ hệ thống nào khác để sử dụng e-mail ngoại trừ ở nhà hay ở chỗ làm. Có lẽ đây là điều may mắn hiếm hoi của tôi.
Sau khi đào bới chút ít xung quanh, tôi biết được rằng Hicom là hệ thống truy cập công cộng và ai cũng có thể đăng ký tài khoản. Thiết lập tài khoản của riêng mình xong, tôi khai thác một lỗ hổng bảo mật mà rõ ràng là Neill chưa biết về nó, chiếm toàn quyền điều khiển hệ thống cùng quyền ưu tiên của quản trị hệ thống. Tôi rất thích thú nhưng không kỳ vọng mình sẽ tìm được gì nhiều, bởi tôi không cho là anh ta sẽ bất cẩn tới mức gửi DEC những kết quả nghiên cứu bảo mật của anh ta từ một hệ thống công cộng.
Việc đầu tiên tôi làm là lấy một bản sao thư mục e-mail của Neill và xem từng tập tin. Chết tiệt! Không có gì thú vị cả – không có lỗi nào! Tôi thất vọng. Vừa gần lại vừa xa. Nhưng tôi có một ý tưởng: Có thể anh ta đã gửi e-mail và xóa các tin nhắn đi ngay lập tức. Vì vậy, tôi kiểm tra ghi chép hệ thống e-mail.
Mắt tôi sáng lên: Các tập tin ghi chép e-mail cho thấy Neill đang gửi tin nhắn cho một ai đó tên là Dave Hutchins ở DEC, đôi khi hai đến ba tin một tuần. Chết tiệt! Tôi thực sự muốn xem nội dung những tin nhắn này. Lúc đầu, tôi nghĩ mình sẽ xem tất cả các tập tin bị xóa trên đĩa hệ thống để tìm các e-mail bị xóa đã gửi cho Hutchins, nhưng rồi tôi có một kế hoạch hay hơn.
Bằng cách cấu hình lại phần mềm trao đổi e-mail trên Hicom, tôi chỉnh sao cho mỗi khi Neill gửi một tin nhắn đến bất kỳ địa chỉ e-mail nào ở DEC, nó sẽ được chuyển đến một tài khoản tôi đã hack ở USC. Việc này giống như thêm một lệnh chuyển tiếp vào tất cả các địa chỉ “deccom” để chuyển tiếp đến tài khoản của tôi ở USC. Vậy thì tôi sẽ lấy được tất cả e-mail gửi đến bất cứ địa chỉ “deccom” nào từ bất cứ ai trên Hicom.
Thử thách tiếp theo là tìm ra cách hiệu quả để “nhái lại”[1] e-mail đến Clift sao cho chúng giống như đến từ DEC. Thay vì làm giả tin nhắn qua Internet – một bước có thể dễ dàng bị phát hiện nếu Neil nhìn kỹ tiêu đề e-mail – tôi viết một chương trình làm giả e-mail từ hệ thống nội bộ để làm giả cả tiêu đề, khiến cho e-mail giả gần như không thể bị phát hiện.
Mỗi khi Neill gửi báo cáo về lỗ hổng bảo mật đến Dave Hutchins ở DEC, e-mail sẽ được chuyển đến tôi (và chỉ tôi). Tôi sẽ ngấu nghiến mọi chi tiết và gửi lại một tin nhắn “cảm ơn” trông giống như được gửi từ Hutchins. Vẻ đẹp của kiểu hack này – còn được biết đến dưới tên gọi cuộc tấn công “người-đứng-giữa” – đó là Hutchins thật, cũng như DEC, sẽ không bao giờ nhận được thông tin Neill gửi cho họ. Việc này rất thú vị, bởi điều đó có nghĩa rằng, DEC sẽ không thể sớm khắc phục được các lỗ hổng đó, bởi các nhà phát triển không biết gì về chúng – ít nhất là từ Neill.
Sau khi dành vài tuần chờ đợi Neill bận rộn với việc tìm lỗi, tôi trở nên thiếu kiên nhẫn. Còn những lỗ hổng bảo mật mà tôi đã bỏ lỡ thì sao? Tôi muốn tất cả chúng. Việc cố gắng đột nhập vào hệ thống của anh ta thông qua dial-up rất khó thành công, bởi tôi không thể làm gì nhiều tại màn hình đăng nhập ngoại trừ việc ngồi đoán mò mật khẩu, hoặc thử tìm một lỗi trong bản thân phần mềm log-in, và chắc chắn anh ta đã kích hoạt cảnh báo an ninh cho những lần log-in thất bại.
Tôi cũng chẳng nên nghĩ tới một cuộc tấn công bằng kỹ thuật xã hội qua điện thoại làm gì, bởi Neill sẽ nhận ra giọng tôi từ vài năm trước. Nhưng gửi e-mail giả có thể giúp tôi chiếm được tất cả lòng tin và sự tín nhiệm cần có để anh chia sẻ lỗi với tôi. Cách này có một điểm bất lợi: Nếu anh ta phát hiện ra, tôi sẽ mất quyền tiếp cận tất cả các lỗi trong tương lai của anh ta bởi anh ta chắc chắn sẽ phát hiện ra tôi đã đột nhập vào Hicom.
Nhưng thế thì sao? Tôi là một kẻ ưa thích rủi ro. Tôi muốn xem liệu mình có thể thực hiện được việc này hay không.
Tôi gửi cho Neill các tin nhắn giả từ Dave Hutchins, báo rằng Derrell Piper thuộc Đội Kỹ thuật của VMS – người mà tôi đã giả danh khi gọi cho anh ta lần trước – muốn liên lạc với anh ta qua e-mail. Đội Kỹ thuật VMS đang thắt chặt quá trình an ninh, tôi viết, và Derrel sẽ quản lý dự án.
Neill trên thực tế đã liên lạc với Derrell Piper thật vài tháng trước, nên tôi biết yêu cầu này nghe có vẻ ổn.
Sau đó, tôi gửi một e-mail giả nữa đến Neill, tự nhận mình là Derrell và làm giả địa chỉ e-mail thật của anh ta. Sau khi trao đổi vài tin nhắn qua lại, tôi nói với Neill rằng “tôi” đang tổng hợp lại cơ sở dữ liệu để theo dõi mọi vấn đề bảo mật nhằm giúp DEC có thể đơn giản hóa quá trình giải quyết.
Để tăng thêm độ tin cậy, tôi thậm chí còn gợi ý Neill rằng chúng tôi nên dùng mã hóa PGP để không ai như Mitnick có thể đọc được e-mail của mình! Không lâu sau, chúng tôi đã trao đổi khóa PGP với nhau để mã hóa trao đổi e-mail của mình.
Đầu tiên, tôi nhờ Neill gửi cho tôi danh sách tất cả lỗ hổng bảo mật mà anh đã gửi cho DEC trong hai năm qua. Tôi bảo anh ta rằng tôi đang duyệt qua danh sách và đánh dấu lại những cái mình còn thiếu. Tôi giải thích rằng hồ sơ của Đội Kỹ thuật VMS rất lộn xộn – lỗi được gửi đến các nhà phát triển khác nhau và rất nhiều e-mail cũ đã bị xóa – nhưng cơ sở dữ liệu mới của chúng tôi sẽ sắp xếp lại các thành quả và giải quyết những vấn đề này.
Neill gửi cho tôi danh sách lỗi tôi yêu cầu, nhưng tôi chỉ xin một hay hai báo cáo lỗi chi tiết một lần để tránh bất cứ nghi ngờ nào từ phía anh ta.
Nhằm củng cố lòng tin của Neill, tôi bảo anh ta rằng tôi muốn chia sẻ một vài thông tin nhạy cảm về lỗ hổng với anh ta vì anh ta đã giúp đỡ công ty khá nhiều. Tôi có chi tiết một lỗ hổng khác mà Brit đã tìm ra và báo cáo về DEC cách đây khá lâu. Lỗi này đã trở thành một tin tức lớn khi truyền thông biết đến và DEC đã cuống cuồng gửi bản vá lỗi đến các khách hàng sử dụng VMS của họ. Tôi đã tìm được người khám phá ra lỗi và thuyết phục anh ta gửi chi tiết cho mình.
Giờ tôi sẽ gửi những dữ liệu này cho Clift, nhắc anh phải giữ nó tuyệt mật bởi đây là thông tin của riêng DEC. Thêm vào đó, tôi còn gửi cho Clift hai lỗi khai thác vấn đề bảo mật khác mà anh ta chưa biết.
Vài ngày sau, tôi nhờ anh ta đáp lại. (Tôi không trực tiếp dùng từ đó, nhưng tôi đang tính đến hiệu quả trong việc đền đáp qua lại như một kỹ thuật tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ.) Tôi giải thích rằng ngoài danh sách kia, nếu anh ta có thể gửi cho tôi tất cả báo cáo lỗi chi tiết mà anh ta đã gửi cho DEC trong suốt hai năm qua, cuộc sống của tôi sẽ dễ thở hơn rất nhiều. Tôi nói tôi chỉ đơn giản là đưa tất cả vào cơ sở dữ liệu theo trình tự thời gian. Yêu cầu của tôi đầy tính rủi ro. Tôi đang yêu cầu Neill gửi cho tôi tất cả những gì anh ta có; nếu điều đó không khiến anh nghi ngờ, thì chẳng điều gì có thể. Tôi như ngồi trên đống lửa trong vài ngày chờ đợi và khi nhìn thấy e-mail từ anh ta gửi đến hòm thư USC của tôi, tôi lo lắng mở ra, nửa chờ đợi thư sẽ viết: “Hay lắm, Kevin.” Nhưng nó chứa mọi thứ! Tôi đã trúng số độc đắc với các lỗi của VMS rồi.
Sau khi có được bản sao cơ sở dữ liệu lỗi của anh ta, tôi nhờ Neill kiểm tra kỹ hơn chương trình log-in và Loginout của VMS. Neill đã biết Derrel phát triển chương trình Loginout và tôi tò mò muốn biết liệu anh ta có tìm được lỗi bảo mật nào trong đó không.
Neill e-mail lại cho tôi một vài câu hỏi kỹ thuật về Đa thức Purdy, thuật toán dùng để mã hóa mật khẩu của VMS. Anh ta đã tốn vài tháng, thậm chí vài năm để cố hạ gục thuật toán mã hóa này – hay nói khác đi, tối ưu hóa mã nguồn của anh ta để bẻ khóa mật khẩu của VMS. Một trong những câu hỏi của anh ta là một câu hỏi có hay không lý thuyết toán đằng sau thuật toán Purdy. Thay vì nghiên cứu nó, tôi chỉ đoán mò câu trả lời – tại sao lại không? Tôi có 50% cơ hội đoán đúng cơ mà. Cuối cùng, tôi đã đoán sai. Sự lười nhác của tôi đã dẫn đến việc làm lộ tẩy cú lừa.
Tuy vậy, thay vì nói cho tôi biết, Neill gửi cho tôi e-mail khẳng định anh ta đã tìm ra lỗi bảo mật lớn nhất từ trước đến nay – trong chính chương trình log-in VMS mà tôi nhờ anh ta phân tích. Anh ta nói rằng nó nhạy cảm đến nỗi anh ta sẽ chỉ sẵn lòng gửi nó cho tôi qua đường bưu điện.
Anh ta nghĩ tôi ngu chắc? Tôi chỉ trả lời với địa chỉ hòm thư thật của Derrell ở DEC, hiểu rằng mọi chuyện đã bại lộ.
Lần tiếp theo tôi đăng nhập vào Hicom để kiểm tra trạng thái mọi thứ, một tin nhắn bỗng nhảy ra trên màn hình của tôi:
Gọi cho tôi đi, anh bạn.
Neill.
Nó khiến tôi mỉm cười. Nhưng sao chứ? Tôi nghĩ: Anh đã biết mình bị tôi lừa rồi, giờ tôi không có gì để mất hết.
Tôi gọi.
“Chào Neill, có chuyện gì vậy?”
“Chào anh bạn.” Không giận dữ, không đe dọa, không thù hằn. Chúng tôi như hai người bạn cũ.
Chúng tôi nói chuyện suốt vài giờ và tôi đã chia sẻ mọi tình tiết phức tạp trong việc tôi đã hack anh ta suốt những năm qua như thế nào. Tôi quyết định sẽ nói cho anh ta nghe, bởi có vẻ như tôi sẽ không bao giờ hack anh ta nữa.
Chúng tôi trở thành bạn bè trên điện thoại, đôi khi lại nói chuyện hàng giờ trên điện thoại nhiều ngày liền. Sau cùng, chúng tôi chia sẻ một sở thích chung: Neill yêu thích việc tìm ra các lỗ hổng bảo mật còn tôi yêu thích việc sử dụng chúng. Anh ta bảo tôi rằng Cảnh sát Quốc gia Phần Lan đã liên hệ với anh ta về lần tôi hack vào Nokia. Anh ta đề nghị dạy cho tôi một số kỹ thuật tìm lỗi thông minh, dù phải đợi cho đến khi tôi hiểu hơn về “nội bộ” của VMS – cách hoạt động bên trong hệ điều hành, chi tiết của những thứ “sâu xa ẩn tàng”. Anh ta nói tôi đã dành quá nhiều thời gian để hack vào các thứ thay vì tự học về những thứ bên trong. Thật ngạc nhiên, anh ta thậm chí còn cho tôi mấy bài tập để thực hành, để học thêm về nó, sau đó kiểm tra thành quả của tôi và phê bình. Người săn lỗi VMS lại đang huấn luyện hacker – thật trái khoáy làm sao!
Sau này, tôi chặn được một e-mail mà tôi nghĩ là Neill đã gửi cho FBI. Nội dung như sau:
Kathleen
Chỉ có một kết quả trong ghi chép mail của nyx:
Sep 18 23:25:49 nyxsendmail[15975]: AA15975: message- id=<00984B0F.85F46A00.9@hicomlutacuk>
Sep 18 23:25:50 nyxsendmail[15975]: AA15975: from=<kevin@hicom
.lutacuk>, size=67370, class=0
Sep 18 23:26:12 nyxsendmail[16068]: AA15975: to=<srush@nyxcs
.duedu>, delay=00:01:15, stat=Sent
Hy vọng điều này có ích.
Ngày và tháng trên ghi chép là khi tôi gửi e-mail từ tài khoản của mình trên Hicom đến một trong những tài khoản tôi có trên hệ thống truy cập công cộng ở Denver tên là “nyx”. Và ai là “Kathleen” mà tin nhắn gửi tới? 99% khả năng, một lần nữa, lại là đặc vụ Kathleen Carson.
E-mail đó là bằng chứng rõ ràng cho thấy Neill đã làm việc với FBI. Tôi không ngạc nhiên; sau cùng, tôi là người đã khai chiến và theo đuôi anh ta, vì thế tôi đáng bị như vậy. Tôi đã vui thú với những cuộc trò chuyện giữa hai chúng tôi và học hỏi nhiều điều từ anh ta; thật thất vọng khi biết rằng anh ta chỉ đang chèo kéo tôi với hy vọng có thể giúp FBI bắt tôi. Dù luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi gọi điện, nhưng tôi quyết định tốt nhất là cắt đứt mọi liên lạc, để tránh cung cấp thêm cho FBI bất kỳ đầu mối nào.
Khi khởi tố một phạm nhân, như bạn đã biết, chính phủ được yêu cầu phải chia sẻ bằng chứng với bị can. Trong những tài liệu sau này được đưa cho tôi, có một bức thư cho thấy mức độ hợp tác của Neill và tầm quan trọng của nó với FBI. Lần đầu tiên đọc bản sao bức thư này, tôi đã rất ngạc nhiên.
Bộ Tư pháp Mỹ, Cục Điều tra Liên bang
11000 Wilshire Boulevard #1700
Los Angeles, CA 90014
Ngày 22 tháng 9 năm 1994
Ngài Neill Clift, Đại học Loughborough
Gửi anh Neill:
Hẳn anh phải rất bức bối và băn khoăn liệu FBI hay các lực lượng chấp pháp của Anh rốt cục có định làm gì để bắt người “bạn” của chúng ta, KDM, hay không. Tôi chỉ có thể đảm bảo với anh rằng bất kỳ manh mối nào tôi đang nắm trong tay có liên quan đến Kevin đều được theo đuổi rất quyết liệt.
Trên thực tế, tôi vừa xác minh thông tin anh cung cấp... Hẳn là hệ thống máy tính này đã bị Kevin truy cập và chiếm đoạt. Tuy nhiên, chúng tôi đang gặp phải một tình thế khó xử, quản trị viên hệ thống có tên “NYX” này không hề có ích với lực lượng chấp pháp như anh; và chúng tôi cũng bị giới hạn trong việc tiếp tục theo dõi tài khoản này bởi những thủ tục pháp lý của Mỹ.
Qua thư này, tôi muốn anh biết được rằng FBI trân trọng sự hợp tác của anh ra sao. Bất kỳ liên lạc nào qua điện thoại giữa anh và Kevin đều rất quan trọng – ít nhất là với tôi.
... Tôi có thể báo cáo rằng anh (và chỉ anh) là đầu mối liên hệ cụ thể mà chúng tôi có với Kevin bên ngoài thế giới máy tính. Tôi không tin chúng ta có thể tìm được hắn qua theo dấu điện thoại, telnet hay kết nối FTP, hayvà bất kỳ biện pháp công nghệ nào khác. Chỉ có qua trao đổi cá nhân (hay trong trường hợp của anh là điện thoại) với Kevin, chúng ta mới có thể biết thêm về hoạt động và kế hoạch của hắn. Sự trợ giúp của anh là vô cùng quan trọng cho cuộc điều tra này.
[Thêm in nghiêng để nhấn mạnh.]
... Tôi chỉ có thể đảm bảo với anh, một lần nữa, rằng những nỗ lực của anh trong việc “theo đuổi” Kevin rất đáng trân trọng... Nếu anh tiếp tục chọn cộng tác với FBI thông qua việc cung cấp cho tôi thông tin về những gì đã trao đổi với Kevin, tôi xin hứa rằng một ngày nào đó, tất cả những mẩu thông tin nhỏ được lọc để gửi cho tôi từ khắp nơi trên thế giới sẽ quy về một mối và dẫn đến chiếc máy tính đầu cuối nơi tôi sẽ tìm ra Kevin và ngay lập tức cho hắn vào còng.
Cảm ơn anh một lần nữa, Neill.
Trân trọng,
Kathleen Carson
Đặc vụ Cục Điều tra Liên bang
Đọc lại bức thư này khiến tôi giật mình bởi đặc vụ Carson đã bức bối ra sao khi không thể tóm được tôi – và cô ta sẵn sàng thú nhận điều đó như thế nào trong thư.
Trong quá trình nỗ lực tìm kiếm việc làm ở Seattle, tôi tìm thấy một quảng cáo trên báo cho vị trí phân tích Bộ phận Giải đáp hỗ trợ tại Trung tâm Y tế Virginia Mason. Tôi đến buổi phỏng vấn kéo dài vài giờ và vài ngày sau thì nhận được hợp đồng làm việc. Nghe không giống như công việc sẽ đem lại thử thách như công việc cũ ở hãng luật tại Denver. Nhưng căn hộ của tôi trông thật chán đời và tôi không muốn tìm một nơi tốt hơn cho đến khi tôi ổn định thu nhập và biết mình sẽ làm tại khu vực nào của thành phố, vì vậy, tôi vẫn nhận công việc này bất chấp những trở ngại của nó.
Khi tôi nhận gói phong bì dành cho nhân viên mới của Phòng Nhân sự, tôi phát hiện ra đơn đăng ký yêu cầu tôi lấy dấu vân tay.
Đây đúng là tin xấu. Liệu những dấu vân tay này có bị gửi đi để so sánh với hồ sơ của FBI không? Tôi thực hiện một cuộc gọi dàn xếp khác, lần này là đến Đội Tuần tra bang Washington, tự nhận mình đến từ Phòng Xác nhân Cảnh sát bang Oregon.
“Chỗ chúng tôi đang thiết lập một chương trình hỗ trợ các tổ chức trong thành phố và quận bằng cách quét hồ sơ xin việc của họ để kiểm tra hồ sơ phạm tội,” tôi nói. “Vì vậy, chúng tôi đang muốn xin một số lời khuyên. Các anh có yêu cầu vân tay không?”
“Có, chúng tôi có.”
“Các anh cho chạy các dấu vân tay này đối chiếu với hồ sơ bang, hay gửi chúng đến FBI?”
“Chúng tôi không gửi đến cơ quan bên ngoài nào,” người ở đầu dây bên kia bảo tôi. “Chúng tôi chỉ kiểm tra hồ sơ của bang thôi.”
Tuyệt vời! Tôi không có hồ sơ phạm tội nào ở bang Washington, vì vậy, tôi biết nộp hồ sơ với vân tay của tôi sẽ an toàn.
Tôi bắt đầu công việc vài ngày sau đó, cùng chung văn phòng với một gã cao kều, rất hay chú ý đến tiểu tiết tên là Charlie Hudson và một đồng nghiệp nữa. Công việc không thú vị chút nào; việc của tôi chủ yếu là trả lời các câu hỏi ở Bộ phận Tư vấn từ các bác sĩ và những viên chức trong bệnh viện khác, những người khiến tôi nhớ lại câu chuyện cười về những kẻ mù công nghệ cố gắng sao chép đĩa mềm trên một chiếc máy photocopy của Xerox.
Chẳng hạn như, hầu hết tất cả nhân viên ở đây đều dùng mã số An sinh Xã hội của mình làm câu hỏi bảo mật để khôi phục mật khẩu. Tôi cố thuyết phục sếp của tôi rằng nó thiếu an toàn ra sao, nhưng ông ta lại gạt phắt đi. Tôi từng thoáng nghĩ về việc sẽ cho ông ta thấy việc lấy mã số An sinh Xã hội của bất kỳ ai dễ ra sao, nhưng ngay lập tức nhận ra đó là một ý tưởng rất tồi. Khi tôi bắt đầu viết mấy chương trình nhỏ trên hệ thống VMS để giải quyết một số vấn đề trợ giúp kỹ thuật, tôi được thông báo rằng dự án này nằm ngoài trách nhiệm của tôi và tôi nên dừng ngay việc đó lại.
Thái độ tâm lý của tôi khá ổn. Trong suốt thời gian trốn chạy, tôi chưa bao giờ nhận được các cảnh báo làm tôi lo lắng đến an toàn của bản thân. Nhưng tôi không bao giờ để mình hoàn toàn mất cảnh giác. Một ngày nọ, tôi bước ra khỏi tòa nhà căn hộ và nhìn thấy một chiếc Jeep Cherokee đỗ bên vệ đường. Điều khiến tôi chú ý là gần như không có chiếc xe nào đỗ trên đường giờ đó, vậy mà chiếc xe này lại đỗ ở một nơi không tiện ra vào bất kỳ căn nhà hay căn hộ nào. Và có một gã ngồi trong đó. Như thể thách thức, tôi lườm thẳng vào mắt hắn. Chúng tôi chạm mắt trong giây lát rồi hắn liếc đi chỗ khác, không để tâm. Cẩn thận là hợp lý nhưng tôi quyết định rằng mình đã hơi hoang tưởng và tiếp tục đi.
Hai tháng sau khi tôi chuyển đến Seattle, Lewis giới thiệu tôi với Ron Austin, bạn hacking của Poulsen, một người tôi đã nghe tên nhưng chưa bao giờ nói chuyện. Chủ đề chính của cuộc nói chuyện với Ron là Justin Peterson, người đã bước chân vào cuộc đời cả ba chúng tôi bằng cách chỉ điểm. Austin và tôi bắt đầu liên lạc thường xuyên. Anh ta cung cấp cho tôi danh sách các số điện thoại công cộng ở khu vực phía Tây Los Angeles và tôi cho anh ta biết mình sẽ gọi cho anh ta bằng số nào và vào lúc nào.
Tôi chuyển hướng tất cả cuộc gọi từ Seattle đến các bộ chuyển mạch ở Denver, Portland, Sioux Falls và Salt Lake City, thêm vào một lớp bảo vệ nữa bằng cách sửa phần mềm chuyển mạch sao cho bất kỳ ai theo dấu cuộc gọi của tôi sẽ đều tốn rất nhiều thời gian. Dù không tin tưởng Austin, nhưng tôi vẫn cảm thấy an toàn khi nói chuyện với anh ta bởi chúng tôi dùng rất nhiều điện thoại công cộng, mỗi lần một máy khác nhau.
Có một lý do khác khiến tôi cảm thấy an tâm về anh ta: Anh ta chia sẻ cho tôi một công cụ nghiên cứu rất mạnh mà anh ta đã học được từ Justin. Trong một lần tình cờ đến kỳ lạ, Justin – rất lâu trước khi tôi gặp anh ta – đã chui vào tòa nhà tôi rất quen thuộc: số 5150 Đại lộ Wilshire, nơi có văn phòng của Dave Harrison. Justin có hứng thú với việc ăn cắp dữ liệu thẻ tín dụng khi chúng được gửi đến máy xử lý thẻ để xác minh và hắn ta cũng nhắm vào mạng GTE Telenet mà tôi đang theo, dù với một ý định khác.
Khi Justin bắt đầu bật lại bản thu âm tiếng modem qua một cài đặt sẽ dịch tiếng này thành chữ trên màn hình, hắn nhận ra lẫn trong những dữ liệu khác là thông tin chứng thực đăng nhập của vài cơ quan đang truy cập vào hồ sơ của DMV ở California – những thông tin chứng thực mà hắn ta và mọi hacker khác có thể dùng để moi bất kỳ thông tin gì từ DMV. Thật không thể tin được! Tôi có thể tưởng tượng ra Justin lúc đó đã há hốc mồm ra sao. Có lẽ chính hắn cũng không thể tin được vào vận may của mình và bắt đầu tự mình dùng những thông tin chứng thực này để quét biển số xe và bằng lái xe.
Ron không chỉ kể cho tôi nghe câu chuyện về Justin. Anh ta còn thực sự kể chi tiết cho tôi biết: “Địa chỉ của GTE Telenet là 916268,05. Ngay khi màn hình trống, anh hãy gõ ‘DGS’. Mật khẩu là ‘LU6’. Và thế là anh đã đăng nhập xong!”
Tôi không thể cúp máy đủ nhanh để bắt tay vào thử. Nó hoạt động thật!
Kể từ đó, tôi không bao giờ phải dùng đến tấn công bằng kỹ thuật xã hội với DMV để moi thông tin nữa. Tôi có thể lấy mọi thứ tôi muốn, nhanh chóng, gọn gàng và an toàn.
Việc Austin chia sẻ cách hack này giúp tâm trí tôi được thả lỏng trong việc nghi ngờ xem liệu anh ta có phải là kẻ chỉ điểm cố lấy thông tin để giúp FBI tìm ra tôi hay không. Nếu anh ta là kẻ chỉ điểm, FBI sẽ không bao giờ cho phép anh ta cho tôi truy cập vào các hồ sơ được bảo vệ ở DMV. Tôi bị thuyết phục rằng chơi với anh ta là an toàn.
Trong quá trình điều tra về Eric, tôi đã dành không biết bao nhiêu giờ lên mạng và ôm điện thoại cùng “RGB”, một hacker Hà Lan nổi tiếng chuyên đi tìm lỗi và hack vào các hệ thống khác nhau. Anh đã bị bắt vào tháng 5 năm 1992 tại nhà riêng ở Utrecht, Hà Lan bởi các đặc vụ chính phủ giả dạng là người bán hàng của một công ty máy tính – một lực lượng liên ngành gồm cảnh sát địa phương và đội PILOT, nhóm chấp pháp được thành lập để chiến đấu với các cuộc tấn công có liên quan đến hacking. RGB bảo tôi cảnh sát có hàng trăm trang bản ghi các cuộc nói chuyện với tôi.
Sau khi RGB được thả, chúng tôi quay lại hacking cùng nhau lần nữa. Anh ấy bắt đầu chọc ngoáy các hệ thống ở Đại học Carnegie Mellon và theo dõi lưu lượng truy cập mạng của họ thông qua một chương trình gọi là “tcpdump”. Sau hàng tuần trời theo dõi, cuối cùng anh ấy cũng tóm được mật khẩu của một nhân viên CERT. Ngay khi xác nhận mật khẩu này dùng được, anh ấy liên lạc với tôi, giọng đầy phấn khích và nhờ tôi tìm thứ gì đó thú vị, chủ yếu là các lỗ hổng bảo mật được báo cáo mà chúng tôi có thể tận dụng trong công cuộc hacking của mình.
CERT (Computer Emergency Response Team – Đội Ứng cứu Khẩn cấp Máy tính) đặt trụ sở tại Đại học Carnegie Mellon, Pittsburgh là trung tâm nghiên cứu và phát triển đầu tư do liên bang thành lập vào tháng 11 năm 1988, sau khi sâu máy tính Morris Worm làm tê liệt 10% mạng Internet. CERT ngăn chặn các sự cố an ninh nghiêm trọng thông qua việc thiết lập Trung tâm Điều hành Mạng để liên lạc với các chuyên gia an ninh. Trung tâm này tạo ra một chương trình tiết lộ lỗ hổng với nhiệm vụ tư vấn về các lỗ hổng bảo mật, thường là sau khi các nhà sản xuất phần mềm đã phát triển một bản vá lỗi hoặc tạo ra một giải pháp tạm thời để giảm thiểu rủi ro của các lỗi bảo mật đó. Các chuyên gia an ninh dựa vào CERT để bảo vệ hệ thống và an ninh mạng của khách hàng khỏi những kẻ đột nhập. (Chức năng của CERT được Bộ An ninh Nội địa tiếp quản từ năm 2004.)
Giờ hãy nghĩ tới chuyện này một chút: Nếu ai đó phát hiện ra và báo cáo một lỗ hổng an ninh, CERT sẽ đưa ra tư vấn. Hầu hết các tư vấn an ninh của CERT đều tập trung vào “các dịch vụ mạng công khai” – các yếu tố trong hệ điều hành có thể bị truy cập từ xa – nhưng đồng thời họ cũng báo cáo các lỗ hổng bảo mật có thể bị “người dùng nội bộ”, những người đã có sẵn tài khoản trên hệ thống, khai thác. Các lỗ hổng này thường liên quan đến hệ điều hành chạy trên nền tảng Unix – bao gồm SunOS, Solaris, Irix, Ultrix và một số khác – hình thành nên phần lớn mạng Internet lúc bấy giờ.
Các báo cáo lỗi bảo mật mới thường được gửi về CERT, đôi khi là trong các e-mail không mã hóa. Đây là những lỗi mà RGB và tôi đang theo đuổi, những lỗi mới chúng tôi có thể tận dụng để đột nhập vào các hệ thống, như thể chúng tôi có chìa khóa vạn năng đến máy chủ vậy. Mục đích của chúng tôi là tận dụng “giai đoạn nhiễm”, khoảng thời gian chờ đến khi nhà sản xuất làm xong bản vá lỗi và các công ty có thể cài đặt nó. Những lỗ hổng bảo mật này sẽ có thời gian sống giới hạn: Chúng tôi phải nhanh tay tận dụng thời gian vàng đó trước khi chúng được sửa hoặc bị chặn.
Tôi đã biết về kế hoạch của RGB nhưng vẫn nghi ngờ việc anh ấy có thể lấy được thông tin chứng thực của một tài khoản nhân viên CERT. Vậy mà anh ấy đã làm được trong một thời gian ngắn. Tôi choáng váng nhưng vẫn rất vui vẻ chia sẻ chiến lợi phẩm cùng anh. Chúng tôi cùng hack vào máy trạm của vài nhân viên CERT khác và lấy được vùng lưu trữ e-mail tạm thời của tất cả nhân viên, nghĩa là tất cả e-mail của họ. Rồi chúng tôi lại đào trúng một mạch ngầm khác, bởi rất nhiều e-mail trong số đó chứa những tin nhắn không mã hóa để lộ ra các lỗ hổng gọi là zero-day – nghĩa là chúng chưa bao giờ được tìm ra và các nhà sản xuất phần mềm chưa phát triển hay tung ra các bản vá lỗi để sửa chúng.
Khi RGB và tôi phát hiện ra hầu hết các lỗi gửi đi đều “sạch sẽ” – không mã hóa – chúng tôi càng khó lòng kiềm chế bản thân.
Như tôi đã nói, tất cả chuyện đó đã diễn ra vài năm trước. Nhưng giờ, một ngày tháng 9 năm 1994, một tin nhắn không mong đợi hiện ra từ RGB đã khiến tôi phải chú ý tới CERT:
Xin chào, đây là một vài thông tin cho anh:
Có một hệ thống vaxvms tại 145.89.38.7 có tên đăng nhập là opcnocomm có thể có truy cập x.25 trên đó nhưng tôi không chắc, trên mạng đó có một máy chủ tên là hutsur, máy chủ này chắc chắn có truy cập đến x.25.
Có thể anh đang băn khoăn tại sao e-mail này lại bí mật như vậy, nhưng tôi đang bắt đầu hack trở lại và không muốn đánh động tới phía cảnh sát. Để bắt đầu lại từ đầu, tôi cần anh giúp tôi một việc. Anh có thể lấy cho tôi vài số của các máy chủ đầu cuối trên khắp nước Mỹ được không, tôi sẽ dùng vài đường kết nối ra ngoài để kết nối đến chúng, và đi từ những máy chủ đầu cuối này lên Internet.
Lần này tôi thực sự sẽ thiết lập mọi thứ ổn thỏa, không để lại dấu vết gì đâu. Việc chuẩn bị mọi thứ có thể sẽ mất khoảng một tháng hoặc đại khái vậy, sau đó anh có thể liên lạc với tôi thường xuyên trên Internet, tới lúc đó tôi sẽ cho anh biết thêm thông tin về dự án tôi đang làm. Tôi đang bận truy cập lại vào CERT, tôi đã lấy được những mật khẩu khác nhau cho các hệ thống CMU và tôi sẽ dùng chúng ở giai đoạn sau.
Cảm ơn anh,
Tái bút
Đính kèm là khóa pgp của tôi
Anh ấy muốn đột nhập vào CERT một lần nữa!
Một ngày đầu tháng 10 năm 1994, không lâu sau khi nhận được e-mail của RGB, tôi ra ngoài ăn trưa, mang theo một chiếc hộp nhỏ bên trong có chứa chiếc điện thoại di động OKI 900 hỏng mà tôi định gửi trả cửa hàng hôm đó. Như mọi khi tôi vừa đi bộ vừa nói chuyện điện thoại. Tôi đi xuống Đại lộ Brooklyn hướng về trung tâm Quận U. Khi băng qua đường 52, cách căn hộ của tôi khoảng hai dãy nhà, tôi loáng thoáng nghe thấy tiếng trực thăng.
Tiếng động mỗi lúc một lớn, rồi bỗng nhiên trở nên rất lớn ngay trên đầu tôi, rất thấp, như thể rõ ràng chiếc trực thăng đang định hạ cánh ở một sân trường gần đó.
Nhưng nó không hạ cánh.
Khi tôi rảo bước, nó ở ngay trên đầu tôi và nhìn như thể đang hạ xuống. Chuyện quái gì đang diễn ra thế? Đầu óc tôi bắt đầu rối tung lên. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu – nếu chiếc trực thăng đang tìm tôi? Tôi cảm thấy tay bắt đầu túa mồ hôi và tim bắt đầu đập mạnh. Nỗi lo lắng trào dâng khắp mạch máu.
Tôi chạy vào sân của một khu chung cư, hy vọng những ngọn cây cao sẽ che chắn mình khỏi tầm nhìn của chiếc trực thăng. Tôi quăng gói hàng vào bụi cây và bắt đầu chạy thục mạng, ngắt cuộc gọi khi bắt đầu chạy. Một lần nữa, chế độ luyện tập hằng ngày trên máy StairMaster của tôi đã phát huy tác dụng.
Trong lúc chạy, tôi tính đường tẩu thoát: chạy đến hẻm, rẽ trái và chạy như ma đuổi qua hai khu nhà, qua đường 50 và rẽ vào khu tài chính.
Tôi đoán họ có lực lượng hỗ trợ mặt đất đang trên đường đến và có thể nghe thấy tiếng hú của còi xe cảnh sát bất kỳ lúc nào.
Tôi rẽ vào hẻm. Tôi chạy bên trái hẻm, cạnh khu chung cư sẽ làm lá chắn tốt cho tôi.
Đường 50th đang ở ngay phía trước rồi. Giao thông đông đúc thật.
Tôi đang chạy hoàn toàn bằng adrenaline.
Tôi chạy xuống phố, tránh xe cộ để băng qua đường.
Khốn nạn! Suýt bị đâm – hút chết.
Tôi chạy vào quầy thuốc Walgreen’s, giờ mới cảm thấy buồn nôn. Tim tôi đập mạnh, mồ hôi chảy ròng ròng.
Tôi rời khỏi quầy thuốc lần nữa và lao vào hẻm. Không có trực thăng – thật nhẹ nhõm làm sao! Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi. Bước nhanh về Đại lộ University.
Cuối cùng cũng được an toàn, tôi rẽ vào một cửa hàng và gọi một cú điện thoại khác.
Chưa đầy năm phút trước khi tôi nghe thấy tiếng trực thăng lớn hơn, lớn hơn và lớn hơn.
Nó bay ngay trên cửa hàng và cứ lởn vởn trên đó. Tôi cảm thấy mình như bác sĩ Richard Kimble trong phimThe Fugitive (tạm dịch: Kẻ trốn chạy). Dạ dày tôi cuộn lên, nỗi lo sợ nhanh chóng quay lại. Tôi cần phải trốn chạy.
Tôi rời khỏi cửa hàng qua lối cửa sau. Chạy vào khu nhà, nấp vào một cửa hàng khác.
Mỗi khi tôi bật điện thoại lên để thực hiện cuộc gọi, chiếc trực thăng chết tiệt lại xuất hiện. Khốn kiếp!
Tôi tắt máy và chạy.
Khi tắt điện thoại, chiếc trực thăng không còn theo tôi nữa. Giờ thì tôi đã hiểu. Không còn nghi ngờ gì nữa. Họ đang theo dõi tôi thông qua tín hiệu điện thoại.
Tôi dừng lại dưới một bóng cây và dựa vào thân cây vững chắc để thở lại. Mọi người đi qua nhìn tôi với sự nghi ngờ hiện rõ trên mặt.
Sau vài phút không thấy chiếc trực thăng, tôi bắt đầu bình tĩnh lại.
Tôi tìm tới một bốt điện thoại công cộng và gọi cho cha tôi. “Cha hãy tới một bốt điện thoại công cộng ở Ralph’s,” tôi nói với ông, nhắc tên siêu thị gần căn hộ của cha. Một lần nữa, trí nhớ đáng ngạc nhiên và dị thường của tôi về các số điện thoại lại trở nên hữu ích.
Gặp lại cha, tôi kể cho ông nghe câu chuyện về vụ truy đuổi bằng trực thăng. Tôi thèm khát sự cảm thông và hỗ trợ, thấu hiểu của ông.
Cái tôi nhận được là một điều khác:
“Kevin, nếu con nghĩ có ai đó đang truy đuổi con bằng trực thăng, con thực sự cần được giúp đỡ rồi đấy.”
❀ ❀ ❀
[1] 84* Từ gốc “spoofing”: Một dạng tấn công trong đó một đối tượng hay một chương trình đóng giả thành một đối tượng hay một chương trình khác bằng cách làm giả dữ liệu hòng chiếm được lợi thế bất hợp pháp. (BTV)