Bọn chúng tôi có ba người: Georges, tôi và Jock Horsfall, tay đua xe hơi nổi danh hiện đang công tác đặc biệt trong Bộ Chiến tranh. Jock cho chúng tôi mượn một chiếc xe vận tải cỡ nhỏ hiệu Ford nặng 1500 kilô. (Thật ra phải nói bọn tôi gồm bốn người vì tính thêm Thiếu tá Martin nằm trong quan tài thép).
Chút xíu nữa chuyến đi của chúng tôi chấm dứt trước khi khởi hành, vì lúc ra khỏi phòng lạnh để đi đến nhà Georges ở London, chúng tôi thấy trước cửa một rạp chiếu bóng dãy người nối đuôi nhau mua giấy coi một cuốn phim gián điệp. Bọn chúng tôi cùng nghĩ: Không hiểu những khán giả kia phản ứng ra sao nếu chúng tôi ngưng xe lại bảo họ: “Đừng xem phim đó. Chúng tôi có vở tuồng hay hơn nhiều, và là truyện có thật. Hãy nhìn thử coi trong thùng sắt”.
Chúng tôi phá lên cười, nhất là Jock rũ rượi cười sằng sặc chút xíu nữa tông xe vào cột đèn. Nhưng rồi cũng tránh được, cả bọn nguyên vẹn, bình yên đến nơi cư ngụ của Georges. Tới đó, chúng tôi tự tay nấu lấy ăn uống và cắt lượt từng người xuống canh chừng chiếc xe đậu dưới đường. Nếu có chú trộm nào thổi được chiếc xe này, thấy thùng sắt kiên cố tưởng bở, khui ra chắc hết hồn, thất vọng lắm, nhưng cũng chưa nghĩa lý gì so với thất vọng của chúng tôi: bao nhiêu công lao vất vả hàng tháng trời chỉ vì sơ ý giây lát, hóa ra công cốc, chưa kể bí mật bị phanh phui khó lòng tái diễn nữa. Bởi vậy chúng tôi sửa soạn lương thực, bánh mì, sandwich và đồ uống trong bình thủy, vì trên đường đi lên miền Bắc không thể rời chiếc xe ra một phút nào.
Mọi việc xong xuôi, khởi hành đi Greenock, Jock và tôi luân phiên cầm tay lái.
Hành trình thật dài và cực nhọc, vì trong thời chiến dĩ nhiên chúng tôi chỉ dám sử dụng ánh sáng tối thiếu của đèn pha hé mở, nên có lúc không trông rõ, vượt hàng rào lao xe vào mảnh vườn may thay không có cây to hoặc giếng sâu. Chưa kể tiếng động cơ máy bay ầm ầm trên đầu tăng thêm các mối lo âu, chỉ sợ tới nơi không kịp.
Thực thế, tàu ấn định ra khơi ngày 19 và chúng tôi có thừa thì giờ tới Greenock, căn cứ chính (tức là bến đi) của chiếc tàu ngầm, đó là tính cả thời gian phòng ngừa phải đi vòng vo tránh máy bay địch hoặc phải ngừng lại, vì oanh tạc làm hư đường xá. Nhưng Đại úy Jewell đã yêu cầu chúng tôi đến đó trước buổi trưa ngày 18, để phòng có sự khó khăn rắc rối vào phút cuối cùng về việc chuyền chiếc thùng lên tàu ngầm.
Rốt cuộc, mặc dầu gian nan sợ sệt, đường xá gập ghềnh, chiếc xe vẫn nguyên vẹn, phi cơ trên đầu hỏi ra là của bạn, nên chúng tôi ngon trớn tiếp tục đi trong đêm tối, cắt phiên nhau ra kẻ cầm tay lái, kẻ ngủ vùi bên cạnh Thiếu tá Martin.
Tờ mờ sáng ngày 18 chúng tôi đến hải cảng Greenock đi thẳng ra bến, nơi đã hẹn một chiếc xuồng máy đợi sẵn để đưa bọn tôi ra chiếc Forth, tàu tiếp tế các tàu ngầm căn cứ đóng tại Holy Loch.
Tới đây, chúng tôi ngạc nhiên gặp bực mình khó chịu. Tôi đồ chừng việc đem chiếc thùng xuống xuồng máy sẽ khó khăn nên đã cẩn thận, trong bức điện của Sở Mật vụ Hải quân gửi báo tin trước, nói rõ ràng khi đến tôi mang theo một - tôi ghi một - kiện hàng nặng trên 180 kilô và yêu cầu được giúp đỡ mang lên tàu. Mặc dầu quy định như vậy, người ta vẫn hiểu nhầm cho rằng hành lý chúng tôi gồm nhiều hòm tổng cộng 185 kilô!
Kết quả, chiếc xuồng sóng sánh đánh lắc lư trên mặt nước thấp hơn cầu tàu non hai thước, chỉ có một chú lính thủy duy nhất tiêu biểu cho sự giúp đỡ chúng tôi đã hỏi xin bằng công văn! Chú lính đầy thiện chí, sốt sắng lắm, nhưng tôi không có giây thừng, và nếu chuyền tay nhau khiêng chiếc thùng xuống chắc chắn sẽ tuột và hỏng hết việc.
Trông thấy mất thì giờ phiền phức vô cùng, nhất là mình lại ở xa đến, không quen ai để nhờ vả, tôi vội lao đầu đến Bộ Tham mưu, thì may thay, vị sĩ quan gác trực hôm Chủ nhật đó lại là một bà Wren (Women’s Royal Navy Service: nữ quân nhân Hải quân Hoàng gia) trước kia quen biết ở Sở Truyền tin khi tôi còn tòng sự tại tỉnh Hell. Bạn cũ gặp nhau mừng rỡ quá, và sau khi tự sự, tôi được bà này giúp cho 6 lính thủy và giây nhợ đầy đủ đem ra bến, hạ chiếc thùng xuống xuồng máy trong chốc lát. Chẳng bao lâu, xuồng rẽ sóng tới tàu Forth, tôi “giao phó” Thiếu tá Martin cho Đại úy Jewell cùng với chiếc xuồng cao su để thả xuống biển đồng thời với xác chết.
Muốn cho có vẻ tai nạn phi cơ thực sự, mọi việc phải vội vàng xấp ngửa, xuồng cao su sẽ đặt lật úp và chỉ có một bơi chèo bằng nhôm thôi. Còn lại một chiếc tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Thật ra, thả chiếc xuồng đó cũng không lợi ích gì, vì đối với một ngư phủ Tây Ban Nha, xác chết hoàn toàn vô giá trị, trái lại chiếc xuồng cao su được việc vô cùng. Do đó chẳng bao giờ chúng tôi biết số phận xuồng nọ ra sao, mong rằng sẽ trở nên vật hữu ích cho ông bà nào vớt được nó.
Trước đây, người ta đã cho biết một thủy phi cơ loại Gatahna bị rớt xuổng biển không chắc những mảnh vụn, hành lý có thể trôi vào bờ, vì vậy tôi không đưa cho Đại úy Jewell đồ vật nào khác để giả vờ một tai nạn. Tôi bàn với ông ta chỉ nên thả xác xuống nước trước mặt các sĩ quan mà thôi, đừng cho thủy thủ đoàn trông thấy, như vậy số người biết rõ bí mật và bép xép bất cẩn cũng giảm bớt đi nhiều. Cần nhất đừng để có tiết lộ, vì người kín đáo đến đâu cũng không tự kiềm chế nổi, phải bàn tán về chuyện thả một thi hài ngoài khơi Tây Ban Nha.
Nếu chỉ có sĩ quan chứng kiến, phải bịa ra một câu chuyện để gạt bọn thủy thủ đã trông thấy ông thuyền trưởng, khi tới duyên hải Tây Ban Nha, mang ra khỏi tàu ngầm một kiện hàng trước đây nói gửi đi đảo Mallo, mang ra rồi không thấy mang vào. Tôi đề nghị với Đại úy nên tuyên bố: Những “dụng cụ quang học” thực ra là một chiếc phao bí mật đo khí tượng, nếu người Tây Ban Nha biết đến sẽ lấy.
Trong trường hợp bắt buộc phải có thủy thủ trên boong tàu khi thả xác (vì biển động, hoặc vì lý do nào khác) Đại úy sẽ sử dụng “chuyện bịa” như tôi đã ghi ở mục số 10 trong bản chỉ thị trao cho ông từ trước.
Mọi việc xong xuôi, chúng tôi trở về London, làm báo cáo tận cùng bằng mấy dòng: “Ngày 19-4-1943, hồi 18 giờ, giờ mùa hè, tàu ngầm Seraph đã rời căn cứ Holy Roch”.
Nghĩ đến món đồ gửi đi, tôi thấy tên chiếc tàu và tên căn cứ thích hợp quá nên mường tượng ra kết quả mỹ mãn của chiến dịch.