Sau chiến tranh, tin tức lấy từ văn khố Hải quân Đức tại Tembach tiết lộ những phản ứng xảy ra trong Bộ Tư lệnh tối cao Đức về chiến dịch “Thịt Ba-tê”. Kết quả thu lượm được đã vượt quá hy vọng điên rồ nhất của chúng tôi.
Theo ý người Đức, Đồng minh sẽ làm gì sau khi Tunisie thất thủ? Tất cả ước đoán của chúng tôi trúng phóc, chúng tôi còn đánh giá quá thấp những khó khăn phải vượt qua.
Chúng tôi tìm thấy bản sao thông tri của Bộ Tư lệnh tối cao Đức gửi cho đạo quân của họ, tháng Hai 1943, cho rằng cuộc tấn công sắp tới của Đồng minh sẽ diễn ra tại Địa Trung Hải và nhằm vào những hòn đảo, có lẽ theo thứ tự như sau: trước hết Sicile, thứ nhì đảo Crète rồi tới Corse và Sardaigne. Vậy thì, khi thảo kế hoạch ở London, chúng tôi đã có ý nghĩ rằng: ngay từ lúc đầu, Đức phải đặt đảo Sicile lên hàng đầu trong các giả thuyết của họ tới khi Đồng minh lần lần gia tăng sửa soạn ở Tây Địa Trung Hải dĩ nhiên họ nhận thấy không phải để nhằm tấn công đảo Crète trong khi Sicile chưa bị chinh phục vẫn còn ngăn chặn lối đi. Vả lại, thông tri kể trên cũng nói: “Theo báo cáo nhận được liên quan đến dự tính đổ bộ của Anh-Mỹ, có thể trông thấy ngay kẻ thù đang cố gắng đánh lừa chúng ta một cách đại quy mô”.
Tương lai cho thấy người Đức nhận xét đúng về phương diện này. Nhưng tôi tự hỏi: nếu các ông “sếp” trong Bộ Tham mưu Anh-Mỹ biết rằng người Đức giữ miếng thận trọng đến thế nào, liệu có bao giờ chúng tôi được phép khởi xướng chiến dịch “Thịt Ba-tê” không?
Tài liệu tịch thu được còn xác định người Đức nhất quyết cố giữ chiến lược ấy cho tới đầu tháng Năm 1943. Thế rồi đến ngày 9 tháng đó, tất cả đều thay đổi: tin tức khám phá ra trong các giấy tờ của Thiếu tá Martin đã tới tay Bộ Chỉ huy tối cao Đức. Vào ngày tháng này, tường trình của Tình báo hẳn đã tới Bộ đó, vì chúng tôi tìm thấy trong hồ sơ báo cáo dưới đây, gửi theo ngay báo cáo ngày 14 tháng Năm đã nêu lên trong chương XII:
«Tiếp theo báo cáo 2:744/4 của tôi đề ngày 9 tháng Năm 1943, sau khi nhận được các bản chính, tôi kết luận như sau:
1 - Phải trù tính đến một cuộc đổ bộ quan trọng ở Đông và Tây Địa Trung Hải.
a) Mục tiêu hành quân ở Đông Địa Trung Hải, dưới quyền tướng Wilson, là bờ biển gần Kalamata và miền duyên hải phía Nam mũi Araxos (cả hai đều ở phía tây Péloponèse). Sư đoàn 56 bộ binh tăng cường, được chỉ định đổ bộ lên Kalamata, và sư đoàn 5 bộ binh có tăng cường lên mũi Araxos. Không biết hai sư đoàn ấy đổ bộ tất cả hay chỉ một phần. Trong trường họp thứ nhất, họ cần phải có một thời hạn ít ra từ hai đến ba tháng, vì hai lữ đoàn của sư đoàn 56 đã tham dự cuộc giao tranh ở Enfidaville ngày 9 tháng 5-1943 và sư đoàn này phải cải tổ lại trước khi xuống tàu. Như thế họ phải mất một thời gian trước khi đổ bộ xảy ra, và có lẽ đúng với tinh thần bức thư.
Tuy nhiên, nếu chỉ thực hiện với một vài đơn vị của hai sư đoàn này, cuộc đổ bộ có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì một lữ đoàn của sư đoàn 56 và một hoặc hai lữ đoàn của sư đoàn 5, có lẽ đã sẵn sàng ở vùng xuất phát thực sự (Ai Cập-Lybie).
Mật ký của một cuộc đổ bộ lên Péloponèse là Husky.
Bộ Tổng Tham mưu Anh-Mỹ đã đề nghị với Tướng Wilson một chiến dịch phụ “dương Đông kích Tây” đánh lên Dodecanèse. Tới ngày 23 tháng 4-1943, Wilson chưa có quyết định về việc này.
b) Mục tiêu của hành quân dưới quyền Tướng Alexander ở Tây Địa Trung Hải không thấy nói rõ. Một câu khôi hài trong bức thư ám chỉ đảo Sakrdaigroe. Mật ký cho chiến dịch này là Brimstone, mục tiêu giả tạo cho chiến dịch Brimstone là đảo Sicile.
2 - Cần phải tuyệt đối giữ bí mật về sự khám phá này và hạn chế tối đa việc thông tri những tin tức đó.»
Báo cáo này có một chi tiết là tôi rất thích thú. Tôi mãn nguyện về điệp viên Đức ở Madrid đã chịu khó gửi bản sao bức thư có vẻ không quan trọng của Huân tước Mountbatten gửi cho Đô đốc Cunningham, ngược lại y sao lãng bức thư cũng vô giá trị của Tướng Eisenhower.
Phải chăng vì lý do thư đó có đoạn nói xa xôi đến vụ thất bại trong trận đổ bộ lên Dieppe? Dù sao, trong đoạn 1b của bản báo cáo cũng cho thấy lối chơi chữ của tôi nói bóng gió về cá mòi, tuy không hay lắm nhưng đem lại hiệu quả: “một câu khôi hài trong bức thư ảm chỉ đảo Sardaigne!” Câu đó không viết trong thư của Archibald Nye, nhưng với loại báo cáo này, ta có thể tha thứ được. Ý thức khôi hài của giặc Đức là một điều may cho chúng tôi.
Tình báo Đức đã mắc mưu, bây giờ Bộ Tổng Tư lệnh Berlin lại tán thành quan điểm của họ. Có thể chính nhờ Hitler mà chúng tôi thành công, vì được biết, theo nhật ký của Đô đốc Doenitz viết sau cuộc hội đàm với Hitler, Quốc trưởng Đức, ngày 14 tháng Năm đã xác nhận nội dung tài liệu của Thiếu tá Martin là đúng. Thật vậy, Doenitz được cử sang Ý để khích lệ Mussolini sau trận thảm bại ở Bắc Phi, trên đường về bản doanh mình đã đến tường trình với Hitler trước khi đích thân xem những tài liệu đó. Trả lời câu hỏi của Hitler về ý kiến Mussolini đối với “mưu toan Anh-Mỹ”, ông ta tuyên bố Thủ tướng Ý yên chí, Đồng minh sẽ tấn công Sicile.
Đây là lời Hitler do Doenitz thuật lại:
“Quốc trưởng không đồng ý với Mussolini về việc địa điểm xâm lăng có thể xảy ra là đảo Sicile. Hơn nữa ngài tin rằng các mệnh lệnh Anh-Mỹ mới khám phá ra được đã xác nhận giả thuyết nói dự trù tấn công của Đồng minh chủ yếu nhằm đảo Sardaigne và miền Péloponèse.”
Rõ ràng Hitler đã say sưa khẳng định và bám chặt vào ý nghĩ: Đồng minh dự tính đổ bộ lên Hy Lạp! Đến nỗi, ngày 23 tháng Bảy, gần nửa tháng sau cuộc đổ bộ lên Sicile, ông ta vẫn tưởng chiến dịch chính yếu là cuộc xâm lăng Hy Lạp, nên ủy thác cho Rommel, tướng cưng nhất, làm Tư lệnh các lực lượng tập trung ở miền này. Ngày 25 tháng 7, Rommel bay đi Hy Lạp, rồi lại được gấp rút gọi về nắm quyền chỉ huy ở Ý để tập hợp các lực lượng tập trung của quốc gia này sau khi Mussolini bị hạ bệ.
Nhưng đổ lỗi cả cho Hitler thì cũng bất công quá, ngay trong bữa ông ta phản đối ý kiến của Mussolini ngày 14 tháng Năm, nhật ký hành quân của Bộ Tổng Tư Lệnh Hải quân Đức thuật lại rằng Bộ Tham mưu Lục quân đã cả quyết: những tài liệu đều xác thực, sẽ tấn công lớn vào Sardaigne, nhưng có thể tập kích vào Sicile để đánh lừa.
Như vậy, ngày 14 tháng 5-1743, các Bộ Tham mưu Hành quân, Bộ Tư lệnh Tối cao và chính Quốc trưởng Đức, đều có tin thực: Chiến dịch “Thịt Ba-tê” hoàn toàn kết quả chỉ còn xem, sau đó hậu quả đối với lực lượng Anh-Mỹ ra sao?
Tôi không rõ chi tiết Lục quân và Không quân Đức sửa soạn sắp đặt ra sao, nhưng hẳn phải lớn lao vĩ đại nếu xét đoán qua việc Đệ nhất sư đoàn thiết giáp được lệnh băng qua toàn thể Âu châu. Sư đoàn này khởi hành từ Pháp đến đóng bản doanh ở Tripolis thành phố trong bán đảo Péloponèse, địa điểm lý tưởng để chỉ huy chống các cuộc đổ bộ lên Kalamata và Araxos.
Nếu để ý nghĩ đến sự cố gắng phi thường cho một hành trình đầy hậu quả như vậy, tức là việc tạm thời thoái triệt cả một sư đoàn thiết giáp ra khỏi vùng tác chiến, ta có thể nói riêng vụ đó cũng đủ đền bù khó nhọc công lao chúng tôi trong chiến dịch “Thịt Ba-tê”, dù chúng tôi không giúp ích một chút nào trong cuộc xâm lăng Sicile.
Trong văn khố Đức còn thấy một văn kiện yêu cầu Bộ Ngoại giao Đức thông báo cho Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ biết quân đội và tàu chiến đã chuyển sang Hy Lạp và nhấn mạnh không có ý định thù nghịch với nước Thổ. Lo xa như thế cũng không lấy gì ngạc nhiên, nếu ta thấy người Đức sửa soạn rộng lớn và rầm rộ chừng nào. Như đã nói ở trên, tôi không rõ chi tiết di chuyển quân đội và không quân Đức, nhưng chắc phải rất quan trọng, xét đoán theo hoạt động Hải quân đối phương ghi đầy đủ trong các tài liệu bắt được sau chiến tranh.
Ngay từ 20 tháng 5, Bộ Tư lệnh Tối cao Đức đã ra lệnh đặt và hoàn tất ba bãi mìn mới ở ngoài khơi Hy Lạp, trong đó có một ở ngay đằng trước Kalamata. Đô Đốc chỉ huy trên biển Egée được lệnh lấy lại quyền kiểm soát những bãi mìn do người Ý đặt ngoài khơi bờ biển phía Tây Hy Lạp. Trọng pháo phòng thủ duyên hải Đức phải được đặt trong các địa hạt do Ý kiểm soát.
Đó chỉ là một phần trong những biện pháp dự trù hoặc đã chuẩn bị xong tới ngày đó, vì người Đức cho rằng tất cả miền duyên hải cũng như các đảo của Hy Lạp đều bị đe dọa, trong khi họ vẫn hy vọng đẩy lui các cuộc tấn công của Đồng minh, mặc dầu Đức yếu kém ở vùng này. Nhưng chỉ thị ấy được bổ túc bằng mệnh lệnh thiết lập căn cứ Hải quân cho chiến hạm phóng ngư lôi, các bản doanh, các cơ sở tuần duyên và phòng ngự bảo vệ. Tất cả đều vĩ đại.
Giá trị “Thịt Ba-tê” tăng lên, tài liệu mỗi lúc một chứng minh thêm cho tất cả thắng lợi thâu lượm được do chiến dịch duy nhất này. Đúng thế, các chỉ thị, mệnh lệnh đều căn cứ theo nội dung những bức thư của Thiếu tá Martin (chi tiết này không thể đưa ra trong các lệnh hành quân vì lý do an ninh).
Còn có bằng cớ khác nữa về sự kiện này, trong các các bản mệnh lệnh nói rõ: Đã xác định Đồng minh sẽ đổ bộ đại quy mô lên Đông cũng như Tây Địa Trung Hải mặc dầu “Chúng ta chỉ nhận được từ Tây Địa Trung Hải bằng chứng rõ rệt về những sửa soạn một số lớn tàu đổ bộ”. Người ta thấy ngay sự liên hệ giữa bức thư của “Thịt Ba-tê” với các bản mệnh lệnh này, nếu đem những tài liệu đó ra đối chứng.
Ít lâu sau, đầu tháng Sáu, cả một hạm đội phóng thủy lôi Đức được gửi từ Sicile sang biển Egée. Giá trị “Thịt Ba-tê” tăng lên thật không ngờ.
Trong thời gian này, ở phía Tây Địa Trung Hải, người Đức cũng cựa quậy. Tôi chỉ có thể tóm lược phản ứng chính của họ bằng cách dẫn chứng một mệnh lệnh của Đại tướng Keitel, nhân danh Hitler, Tổng Tư lệnh Tối cao Quân đội Đức gửi đi ngày 14 tháng Sáu.
Các chỉ thị này, căn cứ rõ rệt vào ý tưởng của Đức: việc dùng đảo Sicile làm mục tiêu lừa dối trong cuộc tấn công Sardaigne có thể đưa đến một trận tập kích lên đảo này làm cho đối phương sao lãng (Người Đức cũng nghĩ rằng Đồng minh dùng Dodecanèse làm mục tiêu giả trong trận đánh ở Đông Địa trung Hải: coi báo cáo ngày 14-5).
Chính vì thế mà họ tập trung phòng thủ lên phía Bắc Sicile như đã kể ở trên. Ngoài ra một đơn vị lớn của thiết giáp Panzer với đầy đủ tiếp tế trong hai tháng cũng được đưa sang đảo Corse hồi tháng sáu, đúng theo lệnh của Hitler và bắt đầu từ thời kỳ này họ không ngớt tăng viện cho Sardaigne và Corse, rồi về sau mới dành ưu tiên cho Sicile.
Ngày 9 tháng 7, trước trận đổ bộ của Đồng minh lên Sicile một hôm, tướng Keitel còn gửi một báo cáo (của Đô đốc Doenitz) nói về miền Đông và Tây Địa Trung Hải và chiến lược sau này của Đồng minh căn cứ vào chiến trường hai nơi đó, rồi kết luận rất có thể Anh-Mỹ sẽ đánh vào ba đảo Corse, Sardaigne và Sicile (hoặc cùng một lúc, hoặc lần lượt), Đô đốc Doenitz còn cho rằng ở Bắc Phi có khá đủ quân sĩ Đồng minh để sử dụng cho cả hai mặt trận rồi khai thác mở rộng đầu cầu trên đất Hy Lạp. Theo ý ông, một cuộc đổ bộ quan trọng trên đất Ý (sau khi chiếm được các đảo) không chắc đã có, vì người Đức có thể phản ứng mau chóng ở Ý, còn ở Hy Lạp viện binh, tiếp tế của họ bó buộc phải chậm chạp. Từ đất Hy Lạp, Đồng minh có thể tấn công các mỏ dầu Rumani gây ảnh hưởng chính trị tai hại ghê gớm cho nước Hungary và nước Rumani.
Sau cùng, Doenitz kết luận “lực lượng phía Tây sẵn sàng tấn công ngay” và khởi sự bất cứ lúc nào (ông đoán đúng quá!) còn “lực lượng phía Đông hình như đang ở trong thời kỳ tập hợp” (ông đoán sai rồi: lực lượng có tham dự thực sự vào trận đánh Sicile).
Tờ mờ sáng ngày 10 tháng Bảy, Đồng minh đố bộ lên Sicile, nhưng người Đức không tin là cuộc tấn công thực sự (và tài liệu của Thiếu tá Martin là trò lừa dối). Bộ chỉ huy Đức còn yêu cầu điệp viên của họ đặc biệt thám xét duyên hải eo biển Gibraltar để dò la các đoàn tàu Anh-Mỹ sắp đi tấn công Corse và Sardaigne. Có lẽ họ vẫn tưởng các cuộc đổ bộ lên Sicile (mặc dầu đổ bộ lên một phía mà họ không ngờ tới) chỉ là một trận “dương Đông kích Tây” để họ xao lãng không chú ý đến chiến trường chính yếu.
Nhưng, ngày 12 tháng 7, người Đức bắt đầu bớt tin tưởng vào tài liệu của “Thịt Ba-tê”. Ồ, rõ ràng quá, xâm lăng Sicile đúng là sự thật, và vẫn cứ tiếp tục từ hai hôm rồi.
Chúng tôi tìm thấy hai điệp văn trao đổi giữa Tư lệnh Hải quân Đức ở nước Ý và Bộ Chỉ huy Hải quân của họ. Trong điệp văn thứ nhất, viên Tư lệnh chua chát than phiền rằng toán ngư lôi hạm gửi sang biển Egée để phòng thủ Hy Lạp đã phương hại các việc phòng thủ Sicile, vì tuần tiễu ngoài khơi thiếu tàu bè nên không công hiệu. Ông còn nói những ngư lôi hạm thiếu hụt “kinh niên” và theo lệnh trên gửi chiến hạm đi nơi khác, sẽ có ảnh hưởng tai hại cho công cuộc phòng thủ và hộ tống.
Bộ Chỉ huy Hải quân Đức trả lời: Theo nhiều vụ thám thính, Đồng minh đã đổ vào Sicile nhiều lực lượng quá, không chắc đã đánh lên Hy Lạp nữa trước khi chiến sự Sicile chấm dứt. Việc phòng thủ Hy Lạp có thể xuống hàng thứ yếu “trong lúc này” (Bộ chỉ huy cũng như Hitler vẫn còn bị ảnh hưởng của “Thịt Ba-tê” hay sao?), và lệnh gửi bảy chiếc ngư lôi hạm sang biển Egée được hủy bỏ. Các chiến hạm này có thể đặt dưới quyền Tướng Tư lệnh Đức trên đất Ý.
***
Hậu quả tức thời của chiến dịch “Thịt Ba-tê” đã chấm dứt, ngoại trừ những việc liên quan đến các lực lượng Đức phải ăn không ngồi rồi ở Hy Lạp. Tổng hợp kết quả thâu lượm trong chiến dịch có thể tóm lược như sau:
Chúng tôi đánh lừa được những người Tây Ban Nha đã giúp đỡ người Đức, đánh lừa tình báo, gián điệp Đức ở Madrid cũng như ở Berlin, đánh lừa Bộ Tham mưu Hành quân và Bộ Chỉ huy Tối cao Đức, đánh lừa Đại tướng Keitel, và đánh lừa luôn cả Hitler cho tới cuối tháng Bảy.
Về phía Đông Địa Trung Hải, chúng tôi đã xúi bẩy, lừa họ phải tăng cường phòng thủ Hy Lạp, thiết lập những bãi mìn, những dàn trọng pháo phòng duyên .vv… Đức đã tập trung nhiều binh sĩ ở Hy Lạp, gồm có một sư đoàn thiết giáp Panzer vượt qua toàn thể Âu châu, và Hitler đã phải cử Đại tướng Rommel sang Hy Lạp chỉ huy những binh sĩ này.
Tất cả mọi cố gắng của người Đức đều vô ích, và đã giảm thiểu tiềm lực phòng thủ ở Sicile và Ý.
Về phía Tây Địa trung hải: chúng tôi khiêu khích họ phải tăng cường xây nhiều pháo đài cho đảo Corse và Sardaigne, lơ là làm hại đảo Sicile, phải ngừng sửa soạn phòng thủ bờ biển Sicile nơi Đồng minh tấn công thực sự để đem lên miền duyên hải Anh-Mỹ không đổ bộ lên, phải đem ngư lôi hạm từ Sicile sang biển Egée “phương hại đến việc phòng thủ Sicile”, nên thiếu chiến hạm hộ tống.
Tất cả trên đây còn thấy dấu vết trong những tài liệu hiện đại, và tôi có lý do chính đáng thừa nhận thắng lợi của “Chiến dịch Thịt Ba-tê” quả thật là lớn lao, vĩ đại hơn cả chúng tôi mong ước trong những lúc lạc quan nhất.
Xin nhường người khác nhiệm vụ tìm kiếm, xác định có bao nhiêu sinh mạng Anh và Mỹ đã được “một người không bao giờ có” cứu thoát trong trận chinh phục Sicile, và ảnh hưởng “chiến công” của ông ta đối với diễn biến của chiến tranh.