Cuối tháng Năm, tháng Sáu và tháng Bảy năm 1943, chúng tôi không có cách nào để vững bụng tin tưởng mưu mô thành công hơn là việc biết rõ người Đức đã trà trộn nhiều trong lãnh thổ Tây Ban Nha, và tính nhẹ dạ cả tin của họ.
Chúng tôi tự tin đã trao được tài liệu cho người Đức, Việc đó xong rồi, toàn bộ tài liệu đầy đủ và chính xác quá, không một cơ quan tình báo nào lại không yên chí đã thâu đoạt một thắng lợi ngoạn mục.
Chúng tôi hình dưng ra các ông “sếp” tình báo Đức đang xoa tay khoái trí. Họ sẽ ưỡn ngực vênh vang nghĩ đến việc tổ chức hiệu nghiệm, chu đáo gây cơ sở bên Tây Ban Nha và liên lạc được với giới chức quan trọng trong xứ này (Đô đốc Canaris, “sếp” các cơ quan Quân báo Tình báo Đức, đặc biệt tự hào về việc này), ngày nay mới thấy thật có lợi.
Trong quá khứ, tổ chức này đã phải cung cấp cho Berlin rất nhiều tin tức về tàu bè chuyển vận qua eo biển Gibraltar, cũng như tin tức thâu lượm bên Anh quốc và Hoa Kỳ, do Madrid trao cho, điều ấy cũng thông thường đối với một cơ quan tình báo.
Mặt khác, rõ rệt tổ chức đó đã làm việc thiếu sót nên ngạc nhiên chưng hửng trước khi Đồng minh xâm lăng Bắc Phi. Cứ như chúng tôi xét đoán, người Đức không ngờ lại có vụ này.
Đến nay tổ chức nọ mới có cơ hội rửa hận.
Muốn cung cấp được cho Bộ Tổng Tham mưu bản sao đúng lá thư của một Tổng Tham mưu phó gửi cho một Tư lệnh lộ quân dã chiến (và một thư nữa trong loại này) nghe ra khó khăn quá, vượt cả những hy vọng điên rồ của một sĩ quan tình báo lão luyện. Đó là mơ ước tham lam cao vọng của anh ta thời còn trẻ!
Tin tức mật thư loại viết trong thư, nếu Bộ Tham mưu biết sử dụng có hiệu quả, có thể gây tai biến hoặc kết cục giáng cho Đồng minh một trận đại bại giữa lúc chiến tranh tới hồi quyết định, và vì thế thay đổi cả lịch sử hoàn cầu.
Chính vì lý do này mà tôi cương quyết tranh đấu chống lại ý kiến; chỉ nên đánh ván bài khi chắc ăn và sử dụng kế hoạch nó để đưa toàn những tin tức giả tạo không quan trọng mấy, qua những tài liệu của sĩ quan cấp nhỏ hơn gửi cho nhau.
Nếu thư từ Thiếu tá Martin mang đi thuộc về loại này, không những người Đức có lẽ chẳng cố gắng lấy bản sao, mà dù có lấy đi chăng nữa, chưa chắc họ đã để ý lưu tâm đến khi họ sắp đặt chiến lược. Ngược lại, những điều Đại tướng Sir Archibald Nye viết cho Đại tướng Alexander phải là đúng, ông Tổng Tham mưu phó Hoàng gia phải biết kế hoạch của Đồng minh, ông ta không thể để ý đến một “kế hoạch phụ thuộc”, cũng không thể kém thông thạo về tin tức.
Sau khi công nhận những thứ đó là xác thực, các cơ quan tình báo Đức bắt buộc phải đi tới cùng, và không một bộ Tổng Tham mưu nào nhận được những tin mật loại này lại không căn cứ vào đó để bày chiến lược, nhất là tin tức lại được tình báo của họ bảo đảm.
Vậy chúng tôi chỉ còn việc chờ đợi.
Ngày “J” của chiến dịch Husky tới và cuộc tấn công đạt kết quả mỹ mãn.
Đảo Sicile hình thể gần như một tam giác mỏm chóp chong xuống. Tờ mờ sáng ngày 10 tháng Bảy, Đồng minh đổ bộ lên hai bên mỏm chóp đó và tiến nhanh về các phía cạnh tam giác đồng thời về trung tâm đảo này.
Nhiều yếu tố giúp cho hậu quả bất ngờ hoàn toàn, như thời tiết xấu, chọn đúng tuần trăng .vv… nhưng không làm sứt mẻ lòng tin của bọn chúng tôi đã thành công trong chiến dịch “Thịt Ba-tê” và đã đóng góp vào cuộc đổ bộ.
Các báo cáo và tài liệu lần lần từ Sicile tới chứng minh quan điểm nhận xét của chúng tôi, vì nhờ đó thấy rằng người Đức đã đình chỉ mọi sửa soạn phòng thủ phía Nam đảo Sicile (nơi có đổ bộ thực sự) để đem hết lên góc phía Tây tam giác và phía Bắc hòn đảo là những hiểm địa nếu chúng tôi dùng làm chỗ “dương Đông kích Tây” cho cuộc xâm lăng Sardaigne hoặc một cuộc tấn công sau khi chiếm được đảo này.
Không những phần lớn các bãi mìn và phòng thủ được đem lên đặt ở phía Bắc Sicile, mà tất cả cơ cấu chống đỡ cũng như pháo đài của đảo này đều kém quan trọng và thiếu sót rõ rệt ở mạn Đông và Nam.
Theo tin tức nhận được, các ông lớn Đồng minh chính thức nhận định chúng tôi đã thắng lợi.
Đô đốc Cunningham tóm tắt quan điểm của các nhà đương cuộc về tất cả chiến dịch trong câu này của bản báo cáo: <“Kế hoạch phụ thuộc rất hữu hiệu và những lộ trình lừa địch của các đoàn tàu đã đóng giúp vào sự bất ngờ của cuộc đổ bộ”.
Mãi về sau này, chiến tranh kết thúc được vài tháng chúng tôi mới được biết kết quả chiến dịch “Thịt Ba-tê” quan trọng nhường nào.
Một buổi sáng, đang làm việc tại Bộ Hải quân tôi bỗng nhận được điện thoại của ông Phó Giám đốc Sở Tình báo. Ông cười sằng sặc nói không nên lời, khó khăn lắm mới biết ông mời tôi lại bàn giấy để cho coi một tập tài liệu.
Tập hồ sơ bên ngoài đề chữ Đức Lieber Gross-admi-rai (Đại Đô đốc thân mến), trong chứa đựng tất cả thư từ của chiến dịch “Thịt Ba-tê”, hay nói cho đúng những bản dịch ra tiếng Đức.
Ông Phó Giám đốc giải thích lý do tại sao ông cười nôn ruột: Một sĩ quan Anh có nhiệm vụ chọn lọc và dịch giấy tờ văn khố Hải quân Đức ta tịch thâu được ở Tembach (Đức). Sáng hôm đó sĩ quan có vẻ đăm chiêu đến xin chỉ thị. Ông ta nghiên cứu hồ sơ nọ và khám phá ra “hai tài liệu này”: một bản sao bức thư tối mật của Tổng Tham mưu phó Hoàng gia gửi cho Tướng Alexander, và sĩ quan nói - trước đây hẳn đã có một vụ tiết lộ ghê gớm, đồng thời có cả sự vi phạm về nội quy. Bình thường sĩ quan phải đưa những bản sao có tính cách quân sự cho đồng nghiệp ông ta ở Bộ Chiến tranh, nhưng vụ này coi bộ “rắc rối” và nhiều hậu quả trầm trọng nên phải đưa trình ông Giám đốc Sở Tình báo Hải quân lo liệu.
Nhận ra các bức thư, ông Phó Giám đốc đã trấn an sĩ quan nọ.
Sau khi thu thập hết giấy tờ liên quan đến vụ này, chúng tôi có đủ bằng chứng đã toàn thắng các cơ quan tình báo Đức. Như đã dự đoán, họ nhận ra ngay tầm quan trọng và đã trình lên các cấp trên và Bộ Tham mưu. Điệp viên Đức ở Madrid đã đánh điện về Berlin tường thuật nội dung và việc khám khá ra tài liệu, vào những ngày đầu tháng Năm, vì chúng tôi đã tìm thấy một báo cáo của Đức thời đó đề ngày 9 tháng 5, điệp viên trình bày ý kiến về mưu toan dự định của Đồng minh, trước khi “nguyên văn tài liệu” tới Berlin.
Khi Sở Tình báo Đức ở Berlin nhân được, họ phản ứng đúng như chúng tôi mong ước, và đòi hỏi đàn em phải đưa bằng cớ chính xác, vì từ Madrid gián điệp Đức lại phúc trình lần nữa rõ ràng hơn lần thứ nhất, nói rằng sắp sửa điều tra lại. Nhưng thì giờ cấp bách Berlin đã nhận thấy tin tức quan trong thực sự, nên cho rằng những chi tiết gửi về cũng đủ bắt buộc phải tin rồi. Và họ hùng hục lao đầu vào tròng.
Tài liệu quan trọng thứ nhất là một báo cáo của điệp viên kèm theo bản dịch sang tiếng Đức lá thư của Archibald Nye cho Tướng Alexander. Báo cáo đề ngày 14 tháng Năm 1943 đóng dấu “tối mật” và “đưa tận tay, đừng vào sổ”, và ghi thêm đã được trình lên Đô đốc Doenitz, Tổng Tư lệnh Bộ Tham mưu Đức. Ngày 15 tháng Năm, vị Tham Mưu trưởng của Đô đốc này cũng đã ký tắt vào và đánh dấu chữ thập xanh chỉ rõ Đô đốc Doenitz phải đích thân đọc. Ông này coi rồi xóa chữ thập xanh đi, ký tên và viết con số “18” tức là ngày ông đọc, sau khi thăm viếng Mussolini và Hitler trở về bản doanh.
Ngoài ra còn có hai sĩ quan nữa cũng được coi bản bảo cáo đó.
Dưới đây là nguyên văn báo cáo của điệp viên Đức từ Madrid gửi về Berlin.
Đề Mục: Tài liệu bắt được của địch, liên quan tới chiến sự ở Địa Trung Hải.
• Phần phụ thuộc:
a - Bản sao bức thư bắt được, của Bộ Tham mưu Hoàng Gia gửi cho Tướng Alexander
b - Báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu (Đức).
Nội dung các tài liệu khác không quan trọng. Tham xét, nghiên cứu kỹ càng của 3.SKL, xác định như sau:
— Sự chính xác của các tài liệu bắt được không thể ai nghi ngờ được. Còn đang nghiên cứu xem những tài liệu này có phải cố tình để rơi vào tay ta? Và đối phương có biết rõ ta đã lấy được? Hay bị rớt xuống biển? Rất có thể kẻ thù không biết về vụ ta lấy được tài liệu. Ngược lại, chắc chắn kẻ thù biết rằng tài liệu không tới tay người nhận.
— Kẻ thù liệu có thay đổi kể hoạch hành quân hoặc thực hiện sớm hơn lên? Chưa chắc, nhưng đó là một điểm phải lưu ý đặc biệt.
— Ngày giờ các cuộc hành quân: Vụ này coi như khẩn cấp. Tuy nhiên, ngày 23 tháng 4 người ta vẫn còn đủ thì giờ dùng đường hàng không để báo cho Tướng Alexander biết đề nghị của Tướng Wilson nên dùng đảo Sicile làm mục tiêu giả cho trận tấn công ở miền Đông Địa Trung Hải. Và họ yêu cầu Alexander trả lời ngay lập tức nếu đồng ý với Wilson “vì thời giờ thúc bách”.
Trong trường hợp đó, Bộ Tham mưu Anh dự tính sửa đổi lại kế hoạch ở cả Đông lẫn Tây Địa Trung Hải, và họ có thể làm kịp.
— Dàn thế trận: Dự đoán hai cuộc tấn công sẽ xảy ra cùng một lúc, vì đảo Sicile không thể sử dụng làm mục tiêu giả cho cả hai cùng một lúc.
— Vùng Tobrouk là một điểm xuất phát rõ rệt quá, cho các trận đánh ở Đông Địa Trung Hải. Không nên bàn đến Alexandrie, vì trong trường hợp này, dùng Sicile làm mục tiêu giả thật là vô lý.
— Không nhận thấy họ chỉ dùng mục tiêu giả để lừa ta trong thời gian trước khi tấn công, hay thực ra lúc đó sẽ có một cuộc tấn công phụ cùng một lúc với trận đánh lớn thực sự?
— Tài liệu đính kèm theo đây không cho thấy rõ ràng họ sẽ chỉ cho đổ bộ có hai sư đoàn lên thôi: sư đoàn 5 và 56 tấn công Đông Địa Trung Hải và đổ bộ lên Araxos và Kalamata. Tuy nhiên chỉ có hai sư đoàn này được nhận binh để mở trận tấn công. Rất có thể quân lính xung phong tấn công và mục tiêu của họ chỉ có vậy mà thôi.
— Cần phải nhấn mạnh rằng theo các tài liệu này ở phía Đông Địa Trung Hải cũng đang có những sửa soạn lớn lao. Điều này rất quan trọng vì tin tức liên can đến sửa soạn của địch quân ở vùng đó chúng tôi nhận được ít hơn tin tức từ Algérie gửi tới.»
Trước hết người ta phải ngạc nhiên về việc Tình báo Đức chưa chi đã liều lĩnh quả quyết rằng “Sự chính xác của các tài liệu bắt được không thể ai nghi ngờ được”, và mặc dầu họ đã giữ võ cẩn thận dè dặt nói sẽ điều tra xem có phải trò bịp không, đồng thời về tin tức trong các tài liệu, ngay từ lúc này họ đã dám tuyên bố không chắc đã là một âm mưu dối trá.
Ngay từ bấy giờ họ cũng đã dám quyết đoán chúng tôi không chắc đã thay đối kế hoạch hoặc thực hiện sớm hơn. Những ai có kinh nghiệm biết về chương trình và khởi sự hành quân lớn lao phức tạp khó khăn rắc rối đến thế nào, sẽ phải đồng ý với họ, ít ra ở lối xét đoán này.
Nhận xét ghi trong mục 5 bản báo cáo một lần nữa cho thấy, rất cần phải đặt mình vào địa vị đối phương để nghiên cứu các tin tức nắm trong tay, mỗi khi chúng ta tổ chức một vụ lừa bịp loại này.
Người Đức nói rằng không thể dùng đảo Sicile làm mục tiêu phụ cho một cuộc tấn công xuất phát từ căn cứ Alexandrie (Ai cập), có lẽ vì đường xa quá, theo ý họ. Nếu Bộ Tham mưu của chúng ta đọc tài liệu này, phản ứng sẽ khác hẳn, vì Tướng lãnh của ta biết rằng đường xa dặm thẳng không phải là trở ngai, và binh sĩ ở Alexandrie vẫn có thể đem dùng trong trận tấn công vào Sicile (như đã xảy ra thực sự).
Rồi phải nghiên cứu tỉ mỉ phần còn lại của bản báo cáo vì trong chương sau tôi sẽ bàn tới những quyết nghị của Bộ Tham mưu hành quân Đức, nhưng công nhận rằng báo cáo đó cho thấy rõ người Đức đã nghiên cứu từng câu, từng chữ trong bức thư của ông Tổng Tham mưu phó Hoàng gia.
Tiếp theo còn có bản báo cáo thứ nhì, đề ngày 15 tháng 5 năm 1943, của Cơ quan Tình báo Đức. Nội dung như sau:
«Chủ đề: Thư tín của Anh
Giạt vào bờ biển gần Huelva.
Ngày 10 tháng 5 năm 1943, trong cuộc đàm luận với viên chức liên hệ (một sĩ quan Tham mưu Tây Ban Nha liên lạc với chúng tôi từ nhiều năm nay) các điểm sau đây đã được xác định:
Trong bàn tay co quắp của xác chết có một chiếc cặp loại thường đựng những tài liệu sau đây:
— Một miếng giấy trắng loại thường cặp phủ những bức thư gửi cho Tướng Alexander và Đô đốc Cunningham. Miếng giấy trắng này không thấy ghi gì ở trên.
Ba bức thư này mỗi chiếc để ở trong một phong bì riêng biệt, trên có đề địa chỉ thường lệ và gửi riêng cho người nhận, niêm phong bằng ấn dấu cá nhân của người gửi (ấn đầu gắn trên nhẫn đeo tay). Các ấn dấu còn nguyên vẹn. Cả những bức thư nằm trong phong bì, và tôi đã cầm trong tay cũng vẫn còn tốt. Muốn chụp bản sao, người Tây Ban Nha đã dùng sức nóng nhân tạo làm cho khô, rồi lại ngâm vào nước biển trong 24 tiếng đồng hồ mà bề ngoài không phai mờ mấy chút.
— Trong chiếc cặp còn có những bản in thử cuốn sách nói về hoạt động các toán xung kích trong chiến dịch Liên quân cùng với hình ảnh đăng trong cuốn này. Trong bức thư đề ngày 22 tháng 4, Mountbatten có nói đến những bản in thử đó. Những bản in thử nguyên vẹn nhưng các tấm hình bị hư hỏng hoàn toàn.
— Trong túi ngực áo vét người mang thư còn có một chiếc ví đựng giấy tờ riêng, gồm có giấy tờ quân sự dán ảnh (theo thẻ quân sự, đây là Thiếu tá Martin như Mountbatten đã viết trong thư ngày 22 tháng 4), một thư của vị hôn thê gửi cho Martin, một thư của thân sinh Thiếu tá này, và một phiếu nhận tiền của hộp đêm ở London đề ngày 27 tháng 4. Như vậy Thiếu Tá Martin đã rời khỏi London ngày 28 tháng 4 cùng một ngày xảy ra tai nạn phi cơ trên biển gần Huelva.
— Phó Lãnh sự Anh chứng kiến và trông thấy hết, dĩ nhiên ông ta ngỏ ý muốn lấy những tài liệu, nhưng người ta từ chối lấy cớ rằng những gì tìm thấy trong xác chết, kể cả giấy tờ, phải nộp cho nhà đương cục địa phương Tây Ban Nha.
Sau khi sao lại bằng phóng ảnh, tất cả tài liệu được Bộ Tổng Tham mưu Tây Ban Nha đặt lại tình trạng cũ, coi có vẻ chưa ai mở ra, như chính tôi đã trông thấy. Tất cả sẽ trao cho người Anh hôm nay do Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha đưa trả,
Bộ Tổng Tham mưu Tây Ban Nha còn điều tra về số phận phi công lái máy bay có lẽ bị thương trong tai nạn, để thẩm vấn về những hành khách khác, nếu có.»
Với bọn tôi, báo cáo này thật là thú vị, vì nó chứng minh chúng tôi đã không uổng công nhào nặn ra một ông Thiếu tá Martin “rất thực”, nên lôi cuốn người ta phải tin tưởng vào các giấy tờ mang theo. Ngoài ra nhờ có tình cờ may mắn nên một số chi tiết trở thành quan trọng làm cho người ta thờ ơ với những cái khác. Báo cáo này còn cho biết người Đức được thông báo ngay khi người Tây Ban Nha nắm được tài liệu, đúng như chúng tôi mong đợi trước kia.
Như đã nói, chúng tôi không bận tâm lo lắng về chuyện móc chiếc cặp vào Thiếu tá Martin bằng một sợi giây nghe có xuôi tai không? Vì người ta chỉ bảo với Đức rằng tay Martin co quắp nắm chiếc cặp chứ không động đến giây “sên”. Họ nói lờ mờ như vậy, và sự cộng tác của họ với người Đức thật được việc cho chúng tôi.
Tôi vẫn không hiểu nổi một đoạn trong mục đầu tiên nói “một tờ giấy trắng loại thường cặp phủ những bức thư”. Chắc đây là một tờ giấy do một người Tây Ban Nha phủ lên để đề phòng dấu vết, hoặc một tờ giấy trong các bản in thử cuốn sách xung kích bị tuột ra. Dù sao, trước đây chúng tôi cũng không hề bọc những phong bì này, ngoài ra các phong thư đều được niêm phong bằng ấn dấu chính thức có huy hiệu Hoàng gia chứ không phải bằng ấn dấu cá nhân.
Sau nữa chúng tôi nhận thấy việc giấy má riêng để trong chiếc ví đã được lôi ra coi và thư của cô Pam cũng như của thân phụ Thiếu tá Martin đã được lưu ý xem xét. Chúng tôi tự mãn: cố gắng tỉ mỉ như vậy nay đã có kết quả. Nên nhớ, thư của Huân tước Mountbatten gửi cho Đô đốc Cunningham cũng được việc vì nó minh định Thiếu tá Martin là ai.
Báo cáo này còn làm nổi bật nỗi khó khăn lớn là cần phải khắc phục mỗi khi ta tổ chức một âm mưu. Người ta bắt buộc phải hạn chế chỉ được phép cung cấp những yếu tố căn bản để cho đối phương lấy đó suy luận ra. Bởi thế người ta phải đánh giá sự tế nhị và tài năng của người Đức khi họ nghiên cứu những yếu tố này.
Nhận xét về sự tế nhị của người Đức gần đúng nhưng chúng tôi đánh giá quá cao tài năng của họ, vì họ mắc phải hai lỗi lầm chứng tỏ lơ đễnh, sao lãng quá đáng hai lỗi lầm đều về ngày tháng.
Như ta có thể trông thấy khi so sánh phóng ảnh những bức thư của Huân Tước Mountbatten gửi cho Đô đốc Cunningham với phóng ảnh bản dịch của Đức, họ đã sơ suất không lưu ý đến ngày tháng: bức thư đề ngày 21- 4 nhưng người Đức chép hoặc dịch ra lại thay đổi thành ngày 22-4.
Có thể việc đó không quan trong lắm, nhưng lầm lỗi thứ nhì mới thật là tai hại. Báo cáo nói đến phiếu nhận tiền của một hộp đêm tại London đề ngày 27 tháng Tư. Có lẽ người ta sơ sót lúc coi đến hai cuống vé xem hát.
Thiếp mời đi hộp đêm không những không phải là một hóa đơn mà còn không đề ngày. Vậy thì có thể là tấm phiếu tiền phòng đề ngày 24-4 của Hội quán Hải quân, phiếu này không giống như phiếu của một hộp đêm, và chắc chắn ngay cả người Tây Ban Nha cũng không thể lầm một Hội quán với một hộp đêm được.
Đúng như chúng tôi mong muốn, báo cáo cho rằng Thiếu tá Martin khởi hành từ Anh bằng phi cơ ngay hôm sau buổi tiễn đưa. Nhưng sự nhầm lẫn ngày tháng làm cho người ta viết khởi hành “ngày 28 tháng 4, cùng một ngày xảy ra tai nạn phi cơ trên biển gần Huelva.”
Nếu người Đức sực nhớ đến ý kiến của vị bác sĩ Tây Ban Nha (mà điệp viên của họ ở Huelva ít ra phải quen biết) về ngày giờ tử nạn rồi đem so sánh với ngày đi, tất nhiên họ sẽ phải ngờ vực. Bác sĩ Tây Ban Nha rất có lý khi chỉ rõ cái chết xảy ra nhiều ngày trước khi tìm thấy thi hài ngày 30 tháng 4, và nói thêm ít nhất cũng chết vào khoảng năm ngày. Như vậy tai nạn phi cơ làm cho Martin thiệt mạng bắt buộc phải xảy ra vào ngày 25 tháng 4.
Tôi không đủ tài về triết lý để suy luận việc này ra sao? Tóm lại chỉ có thể nói nhờ may mắn nên không ai nhận ra sự mâu thuẫn này, mâu thuẫn có thể cho thấy ngay mưu mô dối trá.
Dù sao đi nữa, báo cáo cho thấy Đức đã kết luận Thiếu tá Martin đi bằng phi cơ và tai nạn xảy ra vào ngày giờ phù hợp với lúc khởi hành và tình trạng thi thể ông ta lúc đến.
Đoạn thứ ba của báo cáo chứng tỏ sự hợp tác chặt chẽ giữa Đức và Tây Ban Nha, như chúng tôi đã đoán đúng. Họ kể lại việc bị một toán quân tình cờ ngang qua đó và một sĩ quan Cảnh bị Hải quân ngăn chặn không lấy được các tài liệu ngay khi ấy, và mọi cố gắng của Phó Lãnh sự Anh để thâu hồi đã bị cản trở vì “người lấy từ chối”. Biết mà, chúng tôi có thể “tin cậy” vào người Tây Ban Nha lắm chứ!
Sau hết, báo cáo nói rõ các phong bì đựng thư cùng các giấy tờ khác chỉ được trao trả sau khi điệp viên Đức xem xét. Điệp viên này yên chí có cảm tưởng như “thư từ chưa có ai mở ra!” Tôi cũng không ngạc nhiên về điểm này, vì chính tôi cũng thấy thế, nếu không đề phòng đặc biệt từ trước.
Như vậy ngay đối với Sở Tình báo Đức, chúng tôi cũng đã thắng, vì họ công nhận vụ này có thật. Cả họ lẫn người Tây Ban Nha đều “nuốt chửng Thịt Ba-tê”.
Tuy nhiên, như đã nói, thắng lợi này sẽ vô ích nếu Bộ Tham mưu Hành quân Đức không đồng ý, cứ sửa soạn chống lại một cuộc xâm lăng đảo Sicile. Nhưng may thay, Bộ Tham mưu Đức cũng lại “nuốt chửng” tất cả, và đi tới cùng.