Ốc đảo Ammon.
Nơi tọa lạc ngôi đền Ammon hoàn toàn bị bao vây bởi một sa mạc cát trải dài tít tắp, nơi vốn không hề có nước. Dải đất phì nhiêu nằm giữa sa mạc này chẳng lấy gì làm rộng lớn; ngay cả nơi trải rộng nhất, nó cũng chỉ rộng khoảng bốn mươi stade. Nơi đây trồng đầy các loại cây ăn quả, chủ yếu là ô liu và cọ; và đây cũng là nơi duy nhất trong vùng được sương mai tưới mát. Một con suối cũng từ đó mà tuôn trào, hoàn toàn khác biệt với tất cả những con suối khác chảy ra từ lòng đất. Bởi lẽ vào giữa trưa, nước suối nếm vào thấy lạnh, và khi chạm vào thì càng lạnh hơn nữa, lạnh đến tận cùng. Nhưng khi mặt trời lặn về phía tây, nước bắt đầu ấm dần lên, từ lúc chiều tà, nó cứ thế ấm dần mãi cho đến nửa đêm, là lúc đạt đến độ ấm nhất. Sau nửa đêm, nước lại dần dần trở nên nguội lạnh; đến hừng đông thì nó đã lạnh, nhưng đến giữa trưa thì đạt đến độ lạnh nhất. Mỗi ngày, con suối đều trải qua những biến chuyển luân phiên theo trình tự đều đặn như vậy.
Tại nơi này, người ta còn khai thác được loại muối tự nhiên bằng cách đào đất, và một số tư tế của thần Ammon thường vận chuyển một lượng lớn thứ muối ấy sang Ai Cập. Mỗi khi khởi hành tới Ai Cập, họ lại đựng muối vào những chiếc hộp nhỏ đan bằng lá cọ, đem làm quà tặng cho đức vua hoặc những vị quyền quý khác. Các hạt muối này khá lớn, có hạt còn dài hơn cả ba đốt ngón tay; và chúng trong suốt như pha lê. Người Ai Cập cùng những ai có lòng tôn kính thần linh đều dùng loại muối này trong các buổi tế lễ, bởi nó tinh khiết hơn hẳn thứ muối lấy từ biển khơi. Alexander khi ấy đã vô cùng kinh ngạc trước nơi này và đã cầu hỏi thần dụ. Theo lời chính ông kể lại, sau khi nghe được những điều vừa ý, ông đã lên đường trở về Ai Cập theo con đường cũ, dựa trên ghi chép của Aristobulus; tuy nhiên, theo ghi chép của Ptolemy, con trai của Lagus, ông đã chọn một con đường khác, dẫn thẳng tới Memphis.