Đứa Con Gái Hoang Đàng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15

❊ ❊ ❊

Khi Florentyna quay lại trường Radcliffe, cô được chào đón bởi một cuốn danh mục giới thiệu môn học dày hai trăm trang, khiến cô mất ba đêm để nghiền ngẫm. Từ danh mục ấy, cô có thể lựa một môn học tự chọn ngoài những môn chính bắt buộc. Cô Rose gợi ý cô chọn một thứ gì đó mới mẻ, thứ mà cô có thể không bao giờ có cơ hội khác để học chuyên sâu.

Florentyna nghe nói, cũng giống như mọi thành viên khác của trường, rằng Giáo sư Luigi Ferpozzi sẽ dành một năm làm giáo viên thỉnh giảng tại Harvard và thực hiện một buổi thảo luận mỗi tuần. Kể từ khi giành giải Nobel Hòa bình, ông đã đi vòng quanh thế giới đón nhận những lời ngợi khen, và lúc ông được trao bằng danh dự tại Đại học Oxford, người ta trích dẫn mô tả rằng ông là người duy nhất mà khiến cả Giáo hoàng cũng như Tổng thống đều phải bằng lòng, ngoài Đức Chúa. Vị chuyên gia hàng đầu thế giới về kiến trúc Ý đã chọn Baroque Rome làm đề tài của mình. “Thành phố của Con mắt và Trí tuệ” là nhan đề của bài giảng đầu tiên. Nội dung tóm tắt trong cuốn danh mục môn học rất thu hút: Gian Lorenzo Bernini, họa sỹ quý tộc, và Francesco Borromini, con trai thợ cắt đá, những người đã cùng nhau biến đổi thành phố Vĩnh cửu của Caesar và các Giáo hoàng thành một thủ đô nổi bật nhất trên thế giới. Điều kiện bắt buộc: hiểu biết tiếng Latinh và tiếng Ý, tiếng Đức và Pháp được khuyến khích. Giới hạn ba mươi sinh viên.

Cô Rose không mấy lạc quan về cơ hội Florentyna được chọn vào trong số ít đó. “Họ nói với cô rằng đã có cả một hàng dài từ thư viện Widener đến công viên trung tâm Boston Common chỉ để được nhìn thấy ông ấy, chưa kể ông còn nổi tiếng là một người ghét phụ nữ nữa.”

“Julius Caesar[1] cũng vậy ạ.”

“Khi cô ở phòng sinh hoạt chung tối qua, ông ấy không đối xử với cô như Cleopatra[2],” cô Rose đáp. “Nhưng cô phải ngưỡng mộ sự thật là ông ấy đã bay cùng Binh đội Ném bom trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai. Cá nhân ông ấy đã bảo vệ một nửa số nhà thờ tại nước Ý bằng việc ra lệnh cho các máy bay đi vòng quanh những kiến trúc quan trọng.”

“Chà, em muốn trở thành một trong những học trò được ông ấy chọn!” Florentyna nói.

“Em ư?” Cô Rose nói một cách hờ hững. “Chà, nếu em thất bại thì,” cô ấy nói thêm, nhoẻn miệng cười trong lúc viết vội một ghi chú cho Giáo sư Ferpozzi, “em luôn luôn có thể đăng ký một trong những môn khoa học khảo sát kia. Họ dường như không có giới hạn số sinh viên.”

“Các loại đá chỉ dành cho những người leo núi thôi ạ[3],” Florentyna nói một cách khinh thường. “Không phải cho em. Em đi đặt bẫy Giáo sư Ferpozzi đây ạ.”

Sáng hôm sau lúc tám rưỡi, đúng một tiếng trước khi vị giáo sư chính thức có mặt để gặp mọi người ngày hôm đó, Florentyna leo lên những bậc cầu thang cẩm thạch của thư viện Widener. Khi đã ở bên trong tòa nhà, cô vào thang máy – đủ lớn cho cô và một cuốn sách – đi lên tầng trên cùng, nơi các vị giáo sư cấp cao đặt văn phòng của họ dưới mái hiên. Thế hệ trước rõ ràng là đã quyết định rằng cách ly với đám sinh viên quá khích vẫn tốt hơn việc phải leo lên cao hoặc sự bất tiện của một chiếc thang máy luôn luôn bận.

Khi Florentyna lên tới tầng mái của tòa nhà, cô thấy mình đứng trước một cánh cửa che kín. Bảng tên “Giáo sư Ferpozzi” vừa mới được khắc bằng mực đen trên lớp kính. Cô nhớ lại vào năm 1945, chính người đàn ông này đã ngồi cùng Tổng thống Conant ở Munich, và chính họ đã quyết định số phận của kiến trúc Đức: những gì nên được bảo tồn, và những gì sẽ bị san bằng. Cô chỉ biết rằng mình không nên làm phiền ông ấy trong ít nhất là một tiếng nữa. Cô quay người nửa chừng, quyết định rút lui, nhưng thang máy đã di chuyển xuống tầng thấp hơn. Cô quay lại lần nữa và mạnh dạn gõ vào cửa. Rồi cô nghe thấy tiếng đổ vỡ.

“Dù là ai đi nữa thì cũng đi đi. Anh đã làm tôi đánh vỡ bình trà yêu thích nhất của mình rồi,” một giọng nói giận dữ cất lên, mà chắc chắn tiếng mẹ đẻ phải là tiếng Ý.

Florentyna kìm hãm ý muốn bỏ chạy, thay vào đó chầm chậm xoay nắm đấm cửa. Cô thò đầu vào nhìn căn phòng đáng lẽ là có những bức tường, nhưng không có cách nào nhận biết được bởi những quyển sách và tạp chí chuyên ngành xếp thành chồng từ sàn lên tới trần nhà trông như thể chúng thay thế cho gạch và vữa.

Ở giữa đống bừa bộn đó là bóng dáng vị giáo sư tuổi từ bốn mươi tới bảy mươi. Người đàn ông cao lớn đó mặc một chiếc áo khoác vải tweed của hãng Harris cũ kĩ và chiếc quần flannel màu xám trông như chúng được mua từ cửa hàng giảm giá hoặc được thừa kế từ ông nội của người đó. Ông đang cầm một tay nắm màu nâu mà vài phút trước từng được gắn vào một ấm trà. Dưới chân ông là một túi trà được bao quanh bởi những mảnh sứ vỡ màu nâu.

“Tôi đã sở hữu chiếc ấm trà này hơn ba mươi năm rồi. Tôi yêu quý nó chỉ sau bức tượng Pietà[4], cô gái trẻ ạ. Cô định sẽ đền bù nó bằng cách nào đây?”

“Bởi Michelangelo không thể khắc một cái khác cho thầy, em sẽ phải tới Woolworth để mua vậy.”

Vị giáo sư vô thức mỉm cười. “Cô cần gì?” Ông hỏi, nhặt túi trà lên nhưng để những gì còn lại của ấm trà nguyên trên sàn.

“Được ghi danh vào khóa học của thầy ạ,” Florentyna đáp.

“Tôi không thích phụ nữ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào,” ông nói, không bận tâm nhìn mặt cô, “và chắc chắn là không phải người vừa làm tôi đánh vỡ bình trà của mình ngay trước bữa sáng. Cô có tên không?”

“Rosnovski ạ.”

Ông quay lại và nhìn cô chăm chú trong giây lát trước khi ngồi xuống bàn làm việc và bỏ túi trà vào chiếc gạt tàn thuốc lá. Ông ghi chú ngắn gọn. “Rosnovski, cô có vị trí thứ ba mươi.”

“Nhưng thầy chưa biết điểm số cũng như phẩm chất của em.”

“Tôi đã khá rõ phẩm chất của cô rồi đấy,” ông nói một cách đe dọa. “Cho buổi bình luận tuần tới của nhóm, cô sẽ chuẩn bị một bài luận về…” ông ngập ngừng giây lát, “… một trong những công trình trước đây của Borromini, San Carlo alle Quattro Fontane[5]. Chúc một ngày tốt lành,” ông nói thêm trong lúc Florentyna ghi chú vội vàng lên cuốn sổ của mình. Không để cô suy nghĩ thêm, ông quay lại với những gì còn sót của chiếc ấm trà.

Florentyna rời đi, nhẹ nhàng khép cửa lại sau lưng. Cô đi bộ chầm chậm xuống những bậc thang đá cẩm thạch, cố gắng sắp xếp suy nghĩ. Tại sao giáo sư lại chấp nhận cô nhanh như vậy? Làm thế nào ông biết về cô chứ?

Trong suốt tuần sau đó, cô dành nhiều ngày dài dưới tầng hầm của bảo tàng Fogg xem xét cẩn thận những ghi chép học thuật, thiết kế slide thuyết trình về các bản sao kế hoạch của Borromini về San Carlo, thậm chí kiểm tra cả danh sách chi phí dài của ông để xem tòa nhà đáng kinh ngạc đó tiêu tốn bao nhiêu tiền của. Cô cũng thu xếp thời gian đến xem xưởng gốm sứ của Shreve, Crump Lowe.

Khi Florentyna hoàn thành xong bài luận của mình, cô duyệt lại nó đêm trước và cảm thấy tự tin về kết quả, nhưng sự tự tin đó biến mất ngay giây phút cô tới buổi thảo luận của giáo sư Ferpozzi. Căn phòng chật cứng những sinh viên đầy háo hức và cô kinh hoàng khi phát hiện ra mình là sinh viên chưa tốt nghiệp duy nhất có mặt, là người duy nhất không theo chuyên ngành Mỹ thuật và là người phụ nữ duy nhất của khóa học. Một máy chiếu đặt trên bàn giáo sư đối diện với màn hình lớn màu trắng.

“A, kẻ phá hủy nhà cửa đã trở lại,” giáo sư cất tiếng, khi Florentyna ngồi vào chiếc ghế còn trống ở hàng đầu. “Với những ai chưa từng đi ngang đời cô Rosnovski trước đây, nhớ đừng mời cô ấy tới nhà dùng trà nhé.” Ông mỉm cười với lời nhận xét của mình và gõ nhẹ chiếc tẩu vào cái gạt tàn đặt góc bàn, một dấu hiệu cho biết ông muốn giờ học được bắt đầu.

“Cô Rosnovski,” giáo sư cất lời với sự tự tin, “sẽ trao đổi với chúng ta về công trình Oratorio di San Filippo Neri[6] của Borromini.” Tim Florentyna thắt lại. “Không, không.” Ông mỉm cười lần thứ hai. “Tôi có chút nhầm lẫn. Nó là, nếu tôi nhớ chính xác thì, nhà thờ San Carlo.”

Trong vòng hai mươi phút, Florentyna trình bày bài luận của mình, trình chiếu các hình ảnh và trả lời câu hỏi. Ferpozzi hầu như không nhúc nhích sau ống tẩu của mình, ngoại trừ thỉnh thoảng sửa lỗi phát âm cho cô về các loại tiền xu của La Mã thế kỷ 17.

Khi Florentyna cuối cùng cũng ngồi về chỗ, ông gật gù một cách đăm chiêu và xác nhận, “Một bài thuyết trình hay về công trình của một thiên tài.” Cô thả lòng người lần đầu tiên trong ngày thì Ferpozzi đứng bật dậy trên đôi chân mình. “Bây giờ, nhiệm vụ đau khổ của tôi là cho mọi người thấy sự tương phản và tôi muốn mỗi người ghi chú lại để chuẩn bị cho buổi thảo luận đầy đủ vào tuần sau.” Ông đi từ từ tới chiếc máy chiếu, và đặt slide đầu tiên của mình lên. Một tòa nhà xuất hiện trên màn hình sau bàn làm việc của giáo sư. Florentyna nhìn chằm chằm đầy lo lắng vào tấm hình mười năm tuổi của tòa nhà Chicago Baron, cao vượt lên trên các tòa nhà chung cư quy mô nhỏ trang nhã trên đại lộ Michigan. Có một sự im lặng kì lạ trong căn phòng và một, hai sinh viên nhìn cô chăm chú, đợi xem cô phản ứng như thế nào.

“Thật dã man, phải không?” Nụ cười mỉm của Ferpozzi trở lại. “Tôi không chỉ muốn đề cập đến tòa nhà, một thứ mảnh ghép vô giá trị cho sự tự mãn của kẻ có quyền lực giàu có, mà đến hiệu ứng tổng thể mà tòa tháp to lớn này tạo ra cho khung cảnh xung quanh. Hãy để ý đến cách mà tòa tháp phá vỡ cảm giác cân xứng và hòa hợp của mắt nhìn để đạt được điều chắc chắn rằng nó là tòa nhà duy nhất mà chúng ta nhìn vào.” Ông bật hình ảnh thứ hai lên màn chiếu. Lần này hiện ra tòa nhà San Francisco Baron. “Một sự cải thiện nhỏ,” ông tuyên bố, nhìn sâu vào bóng tối nơi có những khán giả đang chăm chú theo dõi, “nhưng chỉ vì kể từ trận động đất năm 1906, những nhà lãnh đạo thành phố San Francisco không cho phép các tòa nhà cao quá hai mươi tầng. Bây giờ hãy đi ra nước ngoài một chút,” ông tiếp tục, quay mặt nhìn lên màn hình một lần nữa. Trên màn chiếu hiện ra tòa nhà Cairo Baron, những ô cửa sổ lấp lánh của nó phản chiếu sự hỗn loạn và nghèo đói của các khu ổ chuột chen chúc lên nhau từ xa.

“Ai có thể đổ lỗi cho người bản địa vì đã ủng hộ cho cuộc cải cách thỉnh thoảng mới xảy ra, khi một tượng đài Giàu sang như vậy đặt vào giữa họ trong khi họ cố gắng tồn tại ở những ngôi nhà đắp bùn được thắp sáng bằng ngọn đèn cầy?” Một cách liên tục, giáo sư trình chiếu hình ảnh của các tòa nhà Baron tại London, Johannesburg và Paris, trước khi nói, “Tôi muốn ý kiến phân tích của các bạn về tất cả những công trình quái dị này vào tuần sau. Chúng có bất kì giá trị kiến trúc nào không, chúng có thể được biện minh dựa trên nền tảng tài chính không và lớp con cháu các bạn có muốn thấy chúng không? Nếu có thì tại sao? Chúc một ngày tốt lành.”

Mọi người rời khỏi phòng giáo sư trừ Florentyna, cô đang mở một bưu kiện bọc giấy màu nâu để bên cạnh mình.

“Em đã mua cho thầy một món quà chia tay,” cô nói, và đứng dậy đưa ra một ấm trà bằng đất nung. Ngay lúc Ferpozzi đưa tay ra, cô buông tay và chiếc ấm trà rơi xuống sàn dưới chân ông rồi vỡ làm nhiều mảnh.

Ông nhìn chăm chú vào những mảnh vỡ trên sàn. “Tôi đáng bị như vậy,” ông nói và mỉm cười với cô.

“Việc đó,” cô tiếp tục quả quyết nói, “không xứng đáng với một người có danh tiếng như thầy.”

“Hoàn toàn chính xác,” ông nói, “nhưng tôi muốn xem trò có bản lĩnh không. Rất nhiều phụ nữ không có, trò biết đấy.”

“Thầy có hình dung rằng liệu vị trí của thầy cho phép thầy…”

Ông phẩy tay từ chối. “Tuần tới tôi sẽ đọc sự biện hộ cho đế chế của cha trò với sự quan tâm, cô gái trẻ, và tôi sẽ rất hạnh phúc nếu thấy mình không đúng.”

“Thầy nghĩ rằng em sẽ quay lại ư?” Cô nói.

“Ồ đúng, trò Rosnovski. Nếu trò chỉ cần giống một nửa những gì đồng nghiệp của tôi nói về trò, tôi sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến vào tuần sau.”

Florentyna rời đi, cố ngăn bản thân không đóng sầm cánh cửa phía sau lưng mình.

Suốt bảy ngày sau đó, cô nói chuyện với các giáo sư kiến trúc, những nhà quy hoạch thành phố Boston và các nhà bảo tồn quốc tế. Cô gọi điện cho cha mẹ mình và George Novak trước khi đưa đến kết luận miễn cưỡng rằng, mặc dù tất cả đều có những lời bào chữa khác nhau, giáo sư Ferpozzi đã không phóng đại. Cô quay lại lớp học một tuần sau đó và ngồi xuống cuối phòng, lo sợ về những điều mà các bạn học của cô sẽ đưa ra.

Giáo sư Ferpozzi nhìn cô chăm chú khi cô ngồi lọt thỏm trong ghế. Sau đó ông gõ nhẹ tẩu thuốc của mình vào chiếc gạt tàn và nói với cả lớp. “Các bạn sẽ để bài luận của mình lên góc bàn làm việc của tôi vào cuối giờ học này, nhưng hôm nay tôi muốn thảo luận về tầm ảnh hưởng của các công trình của Borromini đối với nhà thờ châu Âu trong suốt thế kỷ sau cái chết của ông.” Ferpozzi sau đó có một bài giảng đầy màu sắc và uyên thâm khiến cho ba mươi học viên của ông nuốt lấy từng lời. Khi nói xong, ông chọn một anh chàng trẻ tuổi với mái tóc màu cát ở hàng trên cùng chuẩn bị bài viết về cuộc gặp gỡ đầu tiên của Borromini với Bernini.

Một lần nữa, Florentyna vẫn ngồi im khi mọi sinh viên khác ra khỏi lớp, để lại bài luận của họ lên góc bàn thầy Ferpozzi. Khi chỉ còn hai người, cô đưa tận tay giáo sư một bưu kiện bọc giấy nâu. Ông mở nó ra và thấy một bình trà Royal Worcester Viceroy bằng loại sứ mỏng trộn xương ghi năm sản xuất 1912. “Tuyệt diệu,” ông nói. “Và nó sẽ bên tôi mỗi ngày, miễn là không ai làm rơi.” Cả hai cùng cười. “Cảm ơn, cô gái trẻ.”

“Cảm ơn thầy,” Florentyna đáp lại, “vì đã không đặt em vào sự chế nhạo nào nữa.”

“Sự kiềm chế đáng ngưỡng mộ của trò, thật hiếm thấy ở phụ nữ, khiến mọi chuyện rõ ràng là không cần thiết nữa. Tôi hi vọng rằng trò sẽ tha thứ cho tôi, nhưng cũng sẽ đáng trách tương tự nếu tôi không cố gắng tác động lên người mà một ngày nào đó sẽ điều hành đế chế khách sạn lớn nhất thế giới.” Ý nghĩ ấy chưa bao giờ xuất hiện trong đầu Florentyna cho đến lúc này. “Hãy nói với cha của trò rằng tôi luôn luôn ở tại khách sạn Baron mỗi khi tôi đi đâu đó. Phòng ở, đồ ăn và dịch vụ gần như là tốt nhất trong số những khách sạn lớn, và không bao giờ có bất cứ điều gì phải phàn nàn khi đứng ở bên trong nhìn ra ngoài. Hãy chắc chắn rằng trò học được nhiều về con trai người thợ cắt đá như tôi biết về người xây dựng đế chế đến từ Slonim. Bản thân là một người nhập cư là điểm chung mà cha trò và tôi sẽ luôn luôn tự hào. Chúc một ngày tốt lành, cô gái.”

Florentyna rời khỏi văn phòng dưới mái hiên thư viện Widener một cách buồn bã, nhận ra rằng cô biết rất ít về những hoạt động của đế chế của cha mình.

Suốt năm học đó, cô tập trung tối đa cho môn nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại, nhưng người ta cũng luôn nhìn thấy cô vào mỗi buổi chiều thứ Ba, ngồi cùng một đống sách, tiếp thu từng bài giảng của Giáo sư Ferpozzi. Chính Tổng thống Conant đã nhận xét tại bữa tối cấp cao rằng: thật là buồn khi thấy người đồng nghiệp chuyên gia của ông ấy chia sẻ tình bạn với Florentyna - thứ tình bạn mà thật sự vị giáo sư nên có từ ba mươi năm trước.

Nhưng, giáo sư nói với Tổng thống rằng, đây là lần đầu tiên ông gặp một người ngang tầm mình.

***

Lễ tốt nghiệp tại Radcliffe là một sự kiện đầy màu sắc. Những vị phụ huynh đầy tự hào, ăn mặc lịch sự đứng xen lẫn với các thầy cô giáo trong những bộ áo chùng màu đỏ tươi, tím than và nhiều màu sắc tương ứng với bằng cấp của họ. Các vị học giả nhẹ nhàng đi lại, trông giống như các giám mục trong buổi lễ, thông báo cho quan khách con cháu họ đạt thành tích tốt như thế nào, đôi khi với một cung cách thoái mái ân cần. Trong trường hợp của Florentyna, không cần thiết phải phóng đại nữa, bởi cô đã tốt nghiệp với thành tích xuất sắc và được bầu cho giải thưởng Phi Beta Kappa từ sớm.

Đó là một ngày vui buồn lẫn lộn của Florentyna và Bella, bởi họ sống ở hai đầu đất nước, một người ở New York còn người kia ở mãi San Francisco. Bella đã được Claude cầu hôn vào ngày 28 tháng Hai – “Không thể đợi đến ngày 29[7] được,” cô ấy giải thích – và họ làm lễ kết hôn tại nhà nguyện Houghton thuộc trường Harvard vào kỳ nghỉ xuân. Claude nài nỉ, và Bella buộc phải đồng ý, Tình yêu, Sự ngưỡng mộ và Tuân thủ[8]. Florentyna nhận ra hai người bọn họ đã may mắn như thế nào khi Claude nói với cô tại quầy lễ tân rằng, “Bella thật xinh đẹp phải không?”

Florentyn mỉm cười và quay lại nhìn Bella, người đang nhấn mạnh rằng thật buồn khi Wendy không ở bên họ ngày hôm ấy.

“Không có ý nhắc chuyện cô ấy chưa từng có một ‘ngày học bình thường’,” Bella nói thêm và cười rạng rỡ.

Cô Rose dẫn Abel ra một bên và nói với ông, “Tôi đã hi vọng thuyết phục được Florentyna tới Cambridge để làm nghiên cứu Tiến sĩ, và sau đó có thể trở thành một thành viên của khoa, nhưng dường như trò ấy có những dự định khác.”

“Chắc chắn chúng tôi có,” Abel nói. “Florentyna sẽ tham gia vào tập đoàn Baron với vị trí giám đốc, với những trách nhiệm đặc biệt trong vấn đề quản lý việc cho thuê các cửa hàng trong chuỗi khách sạn. Chúng đã phát triển nhanh ngoài tầm kiểm soát trong vài năm qua và tôi sợ rằng mình đã bỏ bê chúng.”

“Cậu không nói với tớ rằng đó là điều cậu dự định đấy, Florentyna,” Bella bùng nổ. “Tớ tưởng cậu nói là…”

“Shhhhh, Bella,” Florentyna kêu lên, đặt một ngón tay lên môi cô bạn.

“Bây giờ thì, đó là chuyện gì vậy, cô gái trẻ? Cô định giữ bí mật với cả ba sao?”

“Bây giờ chưa tới thời gian hay địa điểm thích hợp, ba à.”

“Ôi thôi đi, đừng khiến chúng tôi hồi hộp,” Edward nói. “Là Liên Hợp Quốc hay General Motors – bên nào cảm thấy họ không thể tồn tại được nếu không có cậu vậy?”

“Tôi phải thú nhận là,” cô Rose nói, “giờ đây em đã giành được thành tích cao nhất mà ngôi trường này có thể trao tặng, tôi rất hứng thú muốn biết bước tiếp theo của em sẽ là gì.”

“Hi vọng trở thành một vũ công Rockette, có thể lắm,” Claude gợi ý.

“Đây là người đoán gần đúng nhất cho tới giờ,” cô nói.

Tất cả đều cười trừ mẹ Florentyna.

“Chà, nếu cậu không thế tìm được việc ở New York, cậu luôn có thể đến làm việc tại San Francisco,” Bella nói.

“Tớ sẽ ghi nhớ lời đề nghị này,” Florentyna nhẹ nhàng nói.

Cô cảm thấy nhẹ nhõm khi những cuộc thảo luận về tương lai của mình không đi xa hơn nữa bởi buổi lễ tốt nghiệp chuẩn bị bắt đầu. George Kennan, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Nga, phát biểu khai mạc buổi lễ. Bài nói chuyện của ông được đón nhận nhiệt liệt. Florentyna đặc biệt thích trích dẫn từ Bismarck[9] trong phần cuối bài phát biểu của ông, “Chúng ta hãy dành lại một vài nhiệm vụ cho lớp trẻ thực hiện.”

“Cậu sẽ có bài phát biểu như thế một ngày nào đó,” Edward nói khi họ đi qua hội trường Tricentennial.

“Hãy cầu nguyện đi, quý ông à, chủ đề của tớ sẽ là gì đây?”

“Những vấn đề khi trở thành nữ Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.”

Florentyna cười. “Cậu vẫn tin vào việc đó, phải không?”

“Và cậu cũng vậy, ngay cả khi cậu luôn luôn cần tớ nhắc nhở cậu điều đó.”

Edward thường xuyên được nhìn thấy ở cạnh Florentyna suốt cả năm, và bạn bè hi vọng họ sớm công bố lễ đính hôn, nhưng Edward biết rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đây là một cô gái không bao giờ với tới được, anh nghĩ. Họ được định mệnh sắp đặt là bạn thân, không bao giờ là người yêu.

Sau khi Florentyna đóng gói nốt đồ đạc còn lại và nói lời chào tạm biệt với mẹ, cô kiểm tra để chắc rằng mình không để quên gì trong phòng. Cô ngồi xuống cuối giường và hồi tưởng lại thời gian ở Radcliffe. Cô đã đến đây với ba vali hành lý, và giờ rời đi với sáu cái cùng một tấm bằng đại học. Một lá cờ đuôi nheo màu đỏ đậm của môn khúc côn cầu trên băng mà Scott đã cho cô là tất cả những gì sót lại trên tường. Cô gỡ lá cờ xuống, giữ nó trong giây lát, rồi bỏ vào giỏ rác.

Cô ngồi ở ghế sau cùng với cha khi người tài xế lái xe rời trường lần cuối.

“Anh có thể lái chậm hơn một chút không?” Cô đề nghị.

“Vâng, thưa cô.”

Florentyna quay lại và nhìn chăm chú qua ô cửa hậu cho đến khi những ngọn tháp của Cambridge khuất sau đám cây, và không còn thứ gì thuộc về quá khứ của cô có thể nhìn thấy được nữa.

❀ ❀ ❀

[1] 82* Gaius Julius Caesar (100 - 44 trước Công nguyên): lãnh tụ quân sự, chính trị gia, đồng thời là một sử gia vĩ đại thời cổ đại, nhiều người xem ông là một nhà độc tài, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành Đế chế La Mã hùng mạnh.

[2] 83* Cleopatra VII Philopator (69 - 30 trước Công nguyên): người cai trị thực sự cuối cùng của Ai Cập cổ đại, có mối quan hệ tình ái với Caesar, có chung một người con là Caesarion.

[3] 84* Tác giả dùng: Rocks for Jocks, có thể hiểu theo nghĩa “rock-jock” là người có kỹ năng leo núi; cùng có thể hiểu là cách gọi khóa học cơ bản tìm hiểu vể địa lý ở các trường đại học, cao đẳng: “Rocks for Jocks” hay “Geology 101” hay “Introduction to earth Science”,…

[4] 85*“Đức Mẹ sầu bi”, kiệt tác điêu khắc thời Phục hưng của Michelangelo, nằm trong Vương cung thánh đường Peter (St Peter’s Basilica) ở Vatican.

[5] 86* Còn gọi là San Carlino, một nhà thờ Công giáo La Mã tại Rome, Ý.

[6] 87* Công trình tôn giáo theo lối kiến trúc Baroque được khôi phục ở trung tâm Bologna, Ý.

[7] 88* Tương truyền trong văn hóa của người Ai Len, vào ngày 29 tháng Hai phụ nữ có thể cầu hôn nửa còn lại.

[8] 89* To love, honour and obey: một phần của lời thề nguyền trong đám cưới.

[9] 90*Otto von Bismarck (1815 - 1898): Thủ tướng Phổ, người có công đầu thành lập Đế chế Đức, đươc coi là thiên tài chính trị lớn nhất thế kỷ 19.

u ăn, thể dục thể thao, chăm sóc động vật, làm đồ thủ công, sưu tầm tem, leo núi, chúng nối bước nhau rất nhanh chóng. “Sẽ dễ dàng hơn nếu con là một con bạch tuộc đấy,” cô Tredgold bình luận. Nhưng chiến thắng cuối cùng đã thuộc về cô, khi
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.