Lễ rửa tội và đặt tên thánh cho Florentyna là một sự kiện mà mọi người có mặt sẽ luôn nhớ đến – trừ Florentyna, cô bé con ngủ say sưa suốt cả quá trình ban phép. Sau buổi lễ tại Hội truyền giáo Đức thánh Ba ngôi của người Ba Lan[1], các vị khách di chuyển về khách sạn Stevens, nơi Abel đã đặt một phòng riêng. Anh mời hơn một trăm người tới chia vui nhân dịp này. Bạn thân nhất của anh, George Novak – người anh em Ba Lan đã ngủ ở chiếc giường tầng trên của con tàu đi qua Constantinople, sẽ là Kum[2], và một trong những anh em họ của Zaphia, Janina, sẽ là người còn lại[3].
Các vị khách xử lý rất nhanh bữa tối truyền thống gồm mười món, bao gồm cả pierogi[4] và bigos[5] trong khi Abel ngồi ở đầu bàn ăn nhận những món quà mừng thay mặt cho con gái. Có một chiếc lắc nhạc bằng bạc, trái phiếu tiết kiệm, một cuốn Huckleberry Finn, và món quà đẹp nhất trong số đó là một chiếc nhẫn ngọc lục bảo cổ từ một mạnh thường quân giấu tên của Abel. Anh mong rằng người đó cũng cảm thấy mãn nguyện khi trao đi món quà, giống như tâm trạng con gái anh đã thể hiện khi nhận được nó. Để ghi nhớ sự kiện này, Abel tặng con gái một con gấu bông to màu nâu với đôi mắt làm bằng những chiếc cúc đỏ.
“Nhìn nó giống như Franklin D. Roosevelt vậy,” George nói và giơ cao con gấu cho mọi người đều nhìn thấy. “Cần có lễ đặt tên thứ hai nhé – FDR[6].” Abel nâng cốc lên. “Dành cho ngài Tổng thống,” anh chạm cốc – hay ngài Tổng thống Gấu như cách Florentyna gọi nó.
Bữa tiệc cuối cùng cũng kết thúc khoảng gần ba giờ sáng, sau khi Zaphia đưa Florentyna về nhà một lúc lâu. Abel buộc phải huy động một chiếc xe chở đồ giặt là của khách sạn để chuyển đống quà tặng về phố Rigg. George vẫy tay chào khi Abel đi xuống đường Lake Shore, vừa đi vừa đẩy chiếc xe dọc vỉa hè.
Người cha hạnh phúc huýt sáo một mình trong lúc nhớ lại từng khoảnh khắc của buổi tối tuyệt vời. Chỉ khi ngài Tổng thống Gấu rơi khỏi xe lần thứ ba Abel mới nhận ra anh đã đi vòng vèo qua đường Lake Shore như thế nào. Anh nhặt con gấu lên và nhét nó vào giữa đống quà, tính chọn một con đường thẳng hơn thì một bàn tay chạm vào vai anh. Abel nhảy sang bên, sẵn sàng đánh trả bất kì kẻ nào muốn cướp những món đồ đầu tiên của Florentyna. Anh nhìn trừng trừng vào gương mặt của một viên cảnh sát trẻ.
“Chắc anh có một lời giải thích dễ hiểu cho việc đẩy một chiếc xe chở đồ giặt của khách sạn Stevens dọc đường Lake Shore vào lúc ba giờ sáng như thế này chứ?”
“Vâng, thưa ngài cảnh sát,” Abel trả lời.
“Nào, hãy bắt đầu bằng việc cho tôi biết có gì trong những gói hàng?”
“Ngoài Franklin D. Roosevelt, thì tôi cũng không biết chúng có gì.”
Viên cảnh sát không thấy bị thuyết phục nên đã bắt Abel vì tình nghi ăn trộm đồ. Trong khi chủ nhân của những món quà ngủ say sưa với chiếc chăn trùm ấm áp trong căn phòng dành cho trẻ trên tầng cao nhất của một ngôi nhà trên đường Rigg, cha cô đã có một đêm thức trắng trên chiếc đệm lông ngựa cũ kĩ trong một phòng giam của nhà tù khu vực. George xuất hiện ở toà án vào sáng sớm tinh mơ ngày hôm sau để xác nhận câu chuyện của Abel.
***
Abel bắt đầu không thoải mái với việc phải rời Chicago cùng Florentyna đáng yêu của anh dù chỉ trong vài ngày, lo sợ việc có thể anh sẽ bỏ lỡ mất những bước đi đầu tiên của con bé, từ đầu tiên con bé nói hay tất cả những thứ đầu tiên khác nữa. Kể từ ngày con gái chào đời, anh đã dõi theo sự lớn lên từng ngày của con, không bao giờ cho phép một từ Ba Lan nào được nói ra trong nhà; anh rất cương quyết với việc không chấp nhận dù chỉ một chút ngữ điệu Ba Lan nào có thể khiến cô bé cảm thấy xấu hổ với bạn bè cùng trang lứa. Abel rất mong chờ từ đầu tiên cô bé nói ra, hi vọng đó chính là “ba”, trong khi Zaphia thì lo sợ nó có thể là một từ Ba Lan nào đó và sẽ làm lộ việc cô không nói tiếng Anh với đứa con đầu lòng của mình mỗi khi chỉ có hai mẹ con ở bên nhau.
“Con gái anh là người Mỹ,” anh giải thích cho Zaphia, “và vì vậy nó cần phải nói tiếng Anh. Quá nhiều người Ba Lan tiếp tục giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng của mình, chỉ đảm bảo rằng thế hệ con cháu sống cả đời ở cái xó xỉnh tây bắc Chicago này bị người ta gọi là ‘lũ trộm cướp Ba Lan[7] ngu ngốc’ và bị cười nhạo bởi mọi đối tượng mà chúng vô tình bước qua trước mặt.”
“Ngoại trừ những người đồng hương của họ vẫn còn cảm thấy chút ít lòng trung thành cho hoàng đế Ba Lan,” Zaphia nói một cách ngoan cố.
“Hoàng đế Ba Lan ư?” Abel lặp lại. “Em đang sống ở thế kỷ nào vậy, Zaphia?”
“Thế kỷ 20,” cô cao giọng trả lời.
“Cùng với Dick Tracy[8] và Những cuộc vui nổi tiếng[9] chứ gì?”
“Có vẻ như anh không còn thái độ của một người mà tham vọng cuối cùng là trở về Warsaw trong vai trò là đại sứ đầu tiên của Ba Lan nữa.”
“Anh đã nói với em là đừng bao giờ đề cập chuyện đó, Zaphia. Đừng bao giờ.”
Zaphia, với vốn tiếng Anh vẫn còn yếu, không tiếp tục đáp lại nữa nhưng sau đó tâm sự với người chị họ của mình rằng cô cảm thấy hai vợ chồng đang dần trở nên xa cách. Đồng thời, cô tiếp tục nói tiếng Ba Lan bất cứ khi nào Abel không ở nhà. Zaphia không hề bị ấn tượng với sự thật – mặc dù Abel liên tục nhắc nhở cô – rằng doanh số của General Motor thậm chí còn lớn hơn cả ngân sách nhà nước Ba Lan.
Năm 1935, Abel tin tưởng rằng nước Mỹ đã vượt qua cơn nguy kịch và thời kỳ Suy thoái chỉ còn là chuyện của quá khứ, nên anh quyết định đã đến thời điểm xây dựng khách sạn Chicago Baron mới bên cạnh Richmond Continental đã cũ. Anh lựa chọn kiến trúc sư và bắt đầu dành nhiều thời gian ở Thành phố của Gió[10] hơn việc chạy trên đường, quyết tâm biến khách sạn thành nơi tốt nhất ở vùng Midwest[11] này.
Chicago Baron đã làm lễ cất nóc vào tháng Năm năm 1936, được Chủ tịch đảng Dân chủ Edward J. Kelly cắt băng khánh thành. Cả hai Thương Nghị sĩ của bang Illinois hết sức ủng hộ và giúp đỡ, bởi họ đều nhận thấy quyền lực đang lên của Abel.
“Chà, có vẻ như một triệu đô la đã được sử dụng đúng chỗ đấy,” Thương Nghị sĩ cao cấp Hamilton Lewis nói.
“Không thể chính xác hơn được, thưa ngài,” Abel nói trong khi vị Thương Nghị sĩ trầm trồ trước những căn phòng công cộng được phủ lớp thảm dày với trần nhà trát vữa cao vút có những hình trang trí với tông xanh lá nhạt nhã nhặn. Điểm nhấn cuối cùng là chữ “B” trạm nổi màu xanh lá đậm tô điểm cho tất cả mọi vật dụng từ những chiếc khăn trong phòng tắm đến những lá cờ bay phấp phới trên đỉnh của tòa nhà bốn mươi hai tầng.
“Khách sạn này đã mang trong mình dấu ấn của thành công rồi,” Hamilton Lewis phát biểu trước đám đông hai ngàn khách, “bởi vì, những người bạn của tôi ơi, chính người đàn ông này, chứ không phải tòa nhà, sẽ luôn được biết tới với tên gọi Nam tước Chicago.”
Abel cảm thấy thỏa mãn với những tràng tung hô vang dội và mỉm cười với bản thân. Cố vấn quan hệ công chúng của anh đã gợi ý một vài gạch đầu dòng cho người viết những bài phát biểu của vị Thương Nghị sĩ hồi đầu tuần.
Abel bắt đầu cảm thấy thoải mái, tự tin khi đứng chung với những doanh nhân lớn và các chính trị gia cao cấp. Tuy nhiên, Zaphia chưa bắt kịp với những thay đổi trong lối sống của chồng, và đứng thu mình đầy lo lắng ở hậu trường, uống hơi nhiều rượu sâm-panh, cuối cùng lặng lẽ rời đi sau khi bữa tối được phục vụ, để lại lời cáo lỗi vụng về rằng muốn xem Florentyna ngủ có ngon giấc hay không. Abel dẫn người vợ lặng lẽ của mình ra cánh cửa quay mà không hề giấu giếm sự khó chịu. Zaphia không hề quan tâm cũng như không hiểu mức độ thành công của Abel, và không muốn trở thành một phần của thế giới mới ấy. Cô chỉ để ý được rằng thái độ của mình khiến Abel khó chịu đến mức nào và không thế cưỡng lại việc nói với chồng, khi anh đẩy nhanh cô vào trong xe, “Không cần phải vội về nhà đâu anh.”
“Anh sẽ không về sớm đâu,” anh nói với chiếc cửa quay lúc trở lại bên trong, đẩy nó mạnh tới nỗi chiếc cửa còn xoay thêm ba vòng nữa sau khi anh đi qua.
Anh quay về phòng giải trí của khách sạn để tìm ngài Ủy viên hội đồng Henry Osborne đang đợi anh ở đó.
“Đây chắc hẳn là đỉnh cao của cuộc đời anh nhỉ?” Vị ủy viên hội đồng bình luận.
“Đỉnh cao ư? Mình vừa mới bước sang tuổi ba mươi mà thôi,” Abel tự nhủ.
Một ánh đèn máy ảnh lóe sáng khi anh đặt tay quanh vị chính trị gia cao lớn, da sậm và điển trai. Abel nở nụ cười trước ống kính, thưởng thức việc được đối xử như một người nổi tiếng, và nói, chỉ vừa đủ cho những kẻ nghe lén nghe được, “Tôi sẽ đưa chuỗi khách sạn Baron vươn ra toàn cầu. Tôi dự định khiến mình quan trọng đối với nước Mỹ giống như Cesar Ritz đối với châu Âu vậy. Bất cứ lúc nào một người Mỹ đi du lịch, anh ta sẽ phải nghĩ ngay tới Baron như ngôi nhà thứ hai của mình.” Vị ủy viên hội đồng thành phố và Abel rảo bước thong thả trở lại phòng ăn cùng nhau, và ngay khi họ thoát khỏi những đôi tai lén lút kia, Abel nói thêm, “Mời ngài dùng bữa trưa cùng tôi ngày mai, ngài Henry. Có một vài thứ tôi muốn thảo luận với ngài.” “Rất vinh hạnh, ngài Abel. Một ủy viên hội đồng thành phố hạnh phúc sẽ luôn luôn có thời gian cho Nam tước Chicago.”
Cả hai bật cười sảng khoái, dù chẳng ai thấy lời bình luận hài hước chút nào. Đó lại là một đêm dài nữa của Abel. Khi trở về nhà, anh đi thẳng vào một căn phòng trống để không làm Zaphia tỉnh giấc – hay chí ít đó là lời anh nói với cô vào sáng hôm sau.
Lúc Abel vào bếp để cùng Zaphia ăn bữa sáng, Florentyna đang ngồi trên chiếc ghế cao của cô bé và bôi đầy quanh miệng với một bát ngũ cốc hết sức nhiệt tình, và cắn hầu hết mọi thứ với được trong tầm tay – ngay cả khi những thứ đó không phải là đồ ăn. Sau khi thưởng thức xong chiếc bánh quế có rưới xi-rô lá phong, Abel đứng dậy khỏi ghế và nói với Zaphia rằng anh sẽ ăn trưa cùng với Henry Osborne.
“Em không thích người đàn ông đó,” Zaphia nói một cách cảm tính.
“Anh cũng không quá ái mộ ông ta đâu,” Abel thừa nhận. “Nhưng đừng quên rằng ông ta có một vị trí cao trong Hội đồng thành phố, nên ông ta có thể làm nhiều việc có lợi cho chúng ta.”
“Và nhiều việc gây hại nữa.”
“Đừng lo lắng đến mất ngủ vì ông ta. Em cứ để anh xử lý chuyện với tay Ủy viên Osborne này,” Abel nói khi anh vuốt má vợ và chuẩn bị rời đi.
“Tổng tống,” một tiếng nói vang lên, và cả hai người quay lại nhìn chằm chằm vào Florentyna, giờ đang khoa chân múa tay chỉ xuống sàn chỗ con gấu Franklin D. Roosevelt hai-tuổi-rưỡi nằm bẹp trên khuôn mặt lông lá của nó.
Abel cười lớn, nhặt con gấu rất-được-yêu-thích lên và đặt trả lại chỗ mà Florentyna dành cho nó ở trên chiếc ghế cao.
“Tổng thống,” Abel nói một cách từ tốn và rõ ràng. “Tổng tống,” Florentyna nhắc lại. Abel lại cười vang và vỗ đầu Franlkin D. Roosevelt.
Như vậy là FDR không những phải chịu trách nhiệm về Chính sách mới[12] mà còn cho cả phát ngôn chính trị đầu tiên trong đời của Florentyna nữa.
Abel rời khỏi nhà, thấy người tài xế đang đứng cạnh chiếc Cadillac, cửa sau xe đã mở sẵn. Khả năng lái xe của Abel ngày càng xuống cấp khi anh có thể chi trả cho những chiếc xe ngày càng cao cấp hơn. Khi anh mua chiếc Cadillac này, George đã khuyên anh nên thuê một tài xế riêng. Sáng hôm đó anh yêu cầu tài xế đi chậm lại khi họ đến Gold Coast[13]. Abel nhìn chằm chằm vào ánh sáng lấp lánh phản chiếu trên những tấm kính của tòa tháp Chicago Baron và không tin rằng có nơi nào khác trên trái đất này có thể có người đạt được nhiều thứ một cách mau chóng đến thế. Những gì mà người Trung Quốc hạnh phúc vì gây dựng được trong mười thế hệ thì anh đạt được trong chưa đầy mười lăm năm.
Abel nhảy ra khỏi xe trước khi tay tài xế phải đi một vòng để mở cửa. Anh bước nhanh vào khách sạn và đi thang máy tốc hành riêng lên tầng bốn mươi hai, nơi anh dành cả buổi sáng để xem xét mọi vấn đề lắt nhắt mà mọi khách sạn mới phải trải qua như: một trong những thang máy dành cho khách không vận hành trơn chu, hai tay phục vụ đã tham gia vào một cuộc ẩu đả bằng dao trong nhà bếp và bị George sa thải ngay trước khi Abel tới, và một danh sách những thiệt hại sau ngày khai trương cao một cách đáng ngờ. Abel phải xem xét tới khả năng có những vụ trộm gây ra bởi nhân viên phục vụ được ghi trong sổ sách núp dưới danh mục Hỏng hóc. Anh không muốn bỏ sót bất kì rủi ro nào tồn tại trong chuỗi khách sạn của mình, từ việc ai đang nghỉ trong những căn phòng Tổng thống đến giá của tám ngàn cuộn giấy mới mà khách sạn cần mỗi tuần. Anh dành buổi sáng để xử lý những tồn đọng, các vấn đề và cách giải quyết, chỉ dừng lại khi ngài Ủy viên Hội đồng Osborne được dẫn tới văn phòng của mình.
“Chào buổi sáng, ngài Nam tước,” Henry nói, có ý ám chỉ tới danh hiệu gia đình Rosnovski.
Trong những năm tháng trước đây khi Abel còn làm phụ bàn tại khách sạn Plaza ở New York, tước vị này được nhắc tới như một trò đùa bỡn. Tại Richmond Continental khi anh là một trợ lý giám đốc, nó được thì thầm sau lưng anh. Gần đây, mọi người đều nói danh xưng ấy với sự tôn trọng.
“Chào buổi sáng, ngài Ủy viên,” Abel nói khi liếc nhìn chiếc đồng hồ để bàn. Đã một giờ năm phút chiều. “Chúng ta cùng đi ăn trưa thôi.”
Abel dẫn Henry vào phòng ăn riêng liền kề. Đối với một người quan sát bình thường, Henry Osborne không có vẻ gì là bạn tri kỉ trời sinh của Abel Rosovski. Được giáo dục tại Choate và sau đó là Harvard, như cách ông ta liên tục nhắc Abel, sau đó phục vụ với vai trò là một trung úy trẻ của Thủy quân lục chiến trong Đại chiến thế giới. Cao hơn một mét tám, mái tóc đen dày điểm xuyết một chút bạc, ông ta trông trẻ hơn so với bề dày lịch sử cá nhân mà ông ta luôn khăng khăng nói.
Hai người lần đầu gặp nhau bởi vụ cháy khách sạn Richmond Continental cũ. Henry khi đó làm việc cho Công ty Bảo hiểm Tai nạn miền Tây, mà nếu ai còn nhớ, đã đứng ra bảo hiểm cho tập đoàn Richmond khi ấy. Abel đã rất kinh ngạc khi Henry gợi ý rằng một khoản tiền mặt nhỏ có thể đảm bảo cho những giấy tờ khiếu nại được xét duyệt nhanh chóng hơn qua trụ sở chính. Anh đã không chi trả “khoản tiền mặt nhỏ” khi ấy – mặc dù những giấy tờ đền bù bằng cách nào đó vẫn được thông qua bởi Henry cũng tin tưởng vào tương lai của Abel.
Lần đầu tiên trong đời, Abel học được rằng kiểu người như thế nào thì có thể mua chuộc được.
Thời điểm Henry Osborne được chọn vào Hội đồng Thành phố Chicago với vai trò ủy viên, Abel đã có thể chi ra một khoản tiền mặt nhỏ, và giấy phép xây dựng cho khách sạn Baron mới được thông qua ở Tòa thị chính nhanh chóng, giống như kiểu hồ sơ xét duyệt được gắn đôi giày trượt vậy. Khi Henry sau đó tuyên bố ông ta sẽ ứng cử cho vị trí đại diện của quận Chín bang Illinois vào Hạ viện, Abel là một trong những người đầu tiên gửi tấm séc lớn cho quỹ tranh cử. Trong khi Abel giữ sự cảnh giác với đồng minh mới của mình, anh cũng đồng thời nhận ra một chính trị gia ba phải có thể là trợ thủ đắc lực cho tập đoàn Baron. Abel rất thận trọng để đảm bảo rằng không một khoản tiền mặt nho nhỏ nào – anh không nghĩ chúng là sự hối lộ – bị ghi lại trên sổ sách và cảm thấy rất tự tin rằng mình có thể chấm dứt mối quan hệ của họ bất cứ khi nào anh cảm thấy thích hợp.
Phòng ăn được trang trí với cùng sắc xanh lá cây nhã nhặn giống phần còn lại của khách sạn, nhưng không có sự xuất hiện của chữ B dập nổi ở bất cứ đâu trong phòng. Toàn bộ nội thất đều từ thế kỷ 19, làm hoàn toàn bằng gỗ sồi. Xung quanh phòng treo những bức chân dung sơn dầu cùng thời kỳ, tất cả đều được nhập khẩu. Khi cánh cửa phòng khép lại, người ta hoàn toàn có thể tưởng tượng mình đang ở một thế giới khác, cách xa sự nhộn nhịp của một khách sạn hiện đại.
Abel ngồi xuống vị trí đầu của một chiếc bàn được trang trí rất công phu, có thể đủ cho tám người ngồi thoải mái, nhưng giờ chỉ đặt cho hai.
“Cảm giác có chút gì đó giống như đang ở Anh Quốc thế kỷ 17,” Henry nhận xét khi ngắm nghía căn phòng. “Còn chưa kể đến Ba Lan thế kỷ 16 nữa,” Abel nói trong lúc một người bồi bàn mặc đồng phục chỉnh tề đang phục vụ món cá hồi hun khói và một người khác thì rót cho mỗi người họ một ly rượu Bouchard Chablis.
Henry nhìn chằm chằm vào chiếc đĩa đầy đồ ăn trước mặt mình. “Bây giờ thì tôi có thể hiểu vì sao anh tăng cân nhiều như vậy rồi, ngài Nam tước ạ.”
Abel cau mày và nhanh chóng đổi chủ đề. “Anh sẽ xem trận đầu của the Cubs ngày mai chứ?”
“Để làm gì? Họ có thành tích sân nhà tệ hơn cả những người Cộng hòa nữa. Dù tôi có vắng mặt thì tờ Tribune cũng sẽ miêu tả trận đấu là giành-giật-điểm-số mặc cho kết quả thế nào đi nữa, và rằng nếu trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác thì có lẽ đội Cubs đã có thể giành được một chiến thắng vang dội.”
Abel cười.
“Một điều chắc chắn nữa là,” Henry tiếp tục, “anh sẽ không bao giờ được xem một trận đấu ban đêm trên sân Wrigley. Chơi dưới ánh đèn pha không được ưa chuộng được ở Chicago.”
“Anh cũng đã nói điều tương tự về bia lon hồi năm ngoái.”
Đến lượt Henry cau mày. “Anh không mời tôi ăn trưa để nghe quan điểm của tôi về bóng chày hay bia lon, Abel, vậy lần này tôi có thể giúp đỡ anh với một kế hoạch nho nhỏ nào đây?”
“Đơn giản thôi. Tôi muốn xin anh lời khuyên về việc nên làm gì với William Kane.”
Henry dường như bị mắc nghẹn. Mình cần nói chuyện với tay đầu bếp: không nên còn xương trong món cá hồi xông khói, Abel nghĩ, trước khi tiếp tục nói:
“Anh từng nói với tôi, Henry, bằng một bản mô tả chi tiết, về những gì đã xảy ra khi đường đời của anh giao cắt với anh ta, và cuối cùng thì anh ta đã lừa anh về chuyện tiền bạc thế nào. Chà, tay Kane này còn làm nhiều chuyện tệ hại hơn thế với tôi nữa kìa. Trong thời kỳ Suy thoái, anh ta đã vắt kiệt Davis Leroy – cộng sự và cũng là người bạn thân nhất của tôi, và đó là nguyên nhân trực tiếp khiến Leroy tự sát. Để khiến mọi chuyện tồi tệ hơn, tay Kane này còn từ chối giúp đỡ khi tôi muốn gánh trách nhiệm quản lý chuỗi khách sạn và cố gắng làm cho chúng có nền tảng tài chính hợp lý.”
“Cuối cùng thì ai đã giúp đỡ anh?” Henry hỏi. “Một nhà đầu tư cá nhân có tài khoản ở quỹ đầu tư ủy thác Continental. Người quản lý chưa bao giờ cho tôi biết nhiều thông tin, nhưng tôi luôn nghĩ đó là David Maxton.”
“Ông chủ của khách sạn Stevens sao?” “Chính là người đó.”
“Điều gì khiến anh nghĩ là ông ta?”
“Khi tôi tổ chức tiệc cưới cho mình và làm lễ rửa tội cho Florentyna tại khách sạn Stevens, hóa đơn của tôi luôn được chi trả bởi một người tài trợ.”
“Điều đó vẫn khó có thể dẫn đến kết luận được.” “Tôi đồng ý, nhưng tôi khá chắc đó là Maxton, bởi vì ông ấy từng đề nghị tôi điều hành khách sạn Stevens.
Tôi đã nói rằng tôi quan tâm đến việc tìm người ủng hộ tập đoàn Richmond hơn, và trong vòng một tuần, ngân hàng của tập đoàn ở Chicago đã nhận được một khoản tiền từ ai đó không muốn để lộ danh tính, bởi việc ấy có thể đụng chạm đến những lợi ích kinh doanh khác của họ.”
“Điều đó nghe có vẻ thuyết phục hơn đấy. Vậy thì hãy nói xem anh bận tâm điều gì về William Kane,” Henry nói trong khi đùa giỡn với ly rượu trong tay và đợi Abel tiếp tục.
“Một điều không chiếm mất quá nhiều thời gian của anh, Henry, nhưng nó đáng giá cả về mặt tài chính và, bởi anh cũng đánh giá Kane cao như tôi vậy, nên cả về mặt cá nhân nữa.”
“Tôi đang nghe đây,” Henry nói, mắt vẫn không rời ly rượu trong tay.
“Tôi muốn sở hữu một số lớn cổ phần của ngân hàng Kane ở Boston.”
“Việc này không dễ đâu,” Henry nói. “Phần lớn cổ phiếu được giữ trong quỹ đầu tư ủy thác của gia đình và không được phép bán mà không có sự đồng ý của anh ta.”
“Anh có vẻ biết nhiều thông tin nhỉ,” Abel nói. “Kiến thức thông thường thôi mà,” Henry trả lời.
Abel không tin người đàn ông này. “Vậy thì hãy bắt đầu bằng việc tìm hiểu xem những ai là cổ đông trong công ty Kane Cabot và có ai trong số họ hứng thú với việc từ bỏ cổ phần của mình với một mức giá đáng kể so với giá gốc không.”
Abel quan sát ánh mắt Henry sáng lên khi ông ta bắt đầu suy tính xem vụ giao dịch này sẽ mang lại cho mình bao nhiêu, nếu có thể thỏa thuận với cả hai bên.
“Nếu anh ta phát hiện ra ý định của anh, anh ta có thể sẽ chơi rất thô bạo đấy,” Henry nói.
“Anh ta sẽ không phát hiện ra được,” Abel trả lời. “Và thậm chí nếu anh ta có thể đi nữa, thì chúng ta vẫn luôn đi trước anh ta hai bước. Anh có nghĩ mình đủ khả năng làm việc này không?”
“Tôi chỉ có thể gắng thử thôi. Anh có kế hoạch gì rồi chăng?”
Abel nhận ra Henry đang cố gắng tìm hiểu xem mức giá nào ông ta có thể trông đợi, nhưng anh vẫn chưa nói xong. “Tôi muốn có một bản báo cáo trên giấy vào ngày đầu tiên của mỗi tháng chỉ rõ số cổ phần của Kane ở bất kì công ty nào, những cam kết kinh doanh của anh ta, và mọi chi tiết mà anh có thể moi được về đời tư nữa. Tôi muốn mọi thứ anh có thể tìm hiểu được, thậm chí là những điều có vẻ tầm thường.”
“Tôi nhắc lại nhé, việc này không đơn giản đâu,” Henry nói.
“Liệu một ngàn đô mỗi tháng có khiến nó dễ dàng hơn chút nào không?”
“Một ngàn năm trăm thì chắc chắn hơn đấy,” Henry đáp lại.
“Một ngàn đô mỗi tháng trong vòng sáu tháng đầu tiên. Và nếu anh đưa ra được những thông tin có giá trị thì tôi sẽ nâng con số lên một ngàn năm trăm đô.”
“Thỏa thuận vậy đi,” Henry nói.
“Tốt,” Abel nói và lấy ví từ túi áo trong, rút ra tờ chi phiếu đã được chuyển sẵn thành một ngàn đô la tiền mặt.
Henry xem xét tờ séc. “Anh dường như tự tin rằng tôi sẽ đồng ý thì phải?”
“Không, hoàn toàn không,” Abel nói và rút ra một tờ ngân phiếu thứ hai từ trong ví. Nó được ghi mệnh giá một ngàn năm trăm đô la. Cả hai người đàn ông cười vang.
“Bây giờ hãy thảo luận một chủ đề dễ chịu hơn nhé,” Abel nói. “Chúng ta sẽ thắng chứ?”
“Đội Cubs ư?”
“Không, cuộc bầu cử ấy.”
“Chắc chắn rồi. Landon đang bị dần cho tơi tả. Kansas Sunflower không hi vọng đánh bại FDR được,” Henry nói. “Ngài Tổng thống đã nhắc nhở chúng ta rằng, một bông hoa đặc biệt màu vàng, với một trái tim đen, thì chỉ có giá trị như thức ăn dành cho vẹt mà thôi, và sẽ luôn chết trước tháng Mười một.”
Abel lại cười. “Vậy cá nhân ông thì sao?”
“Không có gì đáng lo lắng cả. Luôn có một ghế an toàn cho đảng Dân chủ. Thách thức là chiếm được quyền đề cử của nội bộ đảng, chứ không phải cuộc bầu cử.”
“Tôi rất trông đợi việc ông trở thành một nghị sĩ, Henry.”
“Tôi chắc chắn làm được, Abel ạ. Và tôi mong được phục vụ anh cũng như những thành viên khác của đảng.”
Abel nhìn ông ta với một chút ngưỡng mộ. “Có vẻ tốt hơn đấy, tôi hi vọng thế,” anh bình luận trong lúc một miếng bít-tết lớn được đặt xuống trước mặt, đồng thời ly thứ hai được rót đầy với loại rượu Cote de Beaune 1929. Thời gian còn lại của bữa trưa được dành cho việc thảo luận về những chấn thương của Gabby Hartnett, bốn huy chương vàng của Jesse Owen tại Thế vận hội mùa hè Berlin cũng như khả năng Hitler có thể xâm chiếm Ba Lan.
“Không bao giờ,” Henry nói và bắt đầu hồi tưởng lại lòng can đảm của người Ba Lan tại Mons[14]trong cuộc Đại chiến.
Abel không bình luận gì về thực tế rằng không có trung đoàn Ba Lan nào được nhìn thấy thực sự hành động ở Mons cả.
Vào lúc hai rưỡi chiều, Abel trở lại bàn làm việc, tiếp tục xem xét những vấn đề liên quan đến phòng Tổng thống cũng như tám ngàn cuộn giấy mới.
Mãi chín giờ tối hôm đó anh mới trở về nhà, và Florentyna thì đã đi ngủ. Nhưng cô bé tỉnh dậy khi cha bước vào phòng trẻ và mỉm cười với anh.
“Tổng thống, Tổng thống, Tổng thống.”
Abel mỉm cười, “Không phải ta. Con thì có thể, nhưng không phải ta.” Anh cúi người xuống và hôn lên má cô bé trong khi cô lặp đi lặp lại từ duy nhất trong vốn từ vựng hiện giờ.
❀ ❀ ❀
[1] 10* Chúa ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (giáo lý Kitô giáo).
[2] 11*Kum: cha đỡ đầu (tiếng Ba Lan).
[3] 12* Ý chỉ Kuma: mẹ đỡ đầu (tiếng Ba Lan).
[4] 13* Pierogi: món ăn gần giống há cáo của khu vực Trung và Đông Âu.
[5] 14*Bigos: món thịt hầm truyền thống của người Ba Lan.
[6] 15* FDR: viết tắt tên Franklin D.Roosevelt.
[7] 16*Polack: từ miệt thị để chỉ người đến từ Ba Lan, hoặc có nguồn gốc Ba Lan.
[8] 17*Dick Tracy: nhân vật truyện tranh Mỹ, là một thám tử tư; do Chester Gould sáng tạo ra năm 1931.
[9] 18* Famous Funnies: series truyện tranh nổi tiếng tại Mỹ từ 1934 đến 1955, gồm 218 số.
[10] 19*Tên gọi khác của Chicago.
[11] 20*Midwest: đầu những năm 1800 được coi là cực Tây, sau kéo dài thêm nên đổi thành tên này; bao gồm Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, North Dakota, Ohio, South Dakota, Wisconsin.
[12] 21* New Deal: là một hệ thống các chính sách của Tổng thống Roosevelt từ 1933 đến 1936 nhằm phục hồi sau đợt đại suy thoái.
[13] 22* Gold Coast, Chicago: khu vực bao quanh hồ Michigan
[14] 23* Một thành phố thuộc Bỉ.