Năm đầu tiên trôi qua một cách chậm chạp, năm thứ hai thậm chí còn tệ hơn. Điểm sáng duy nhất là việc đại diện cho chính phủ tại lễ cưới của Thái tử Charles và Công nương Diana Spencer ở nhà thờ St’Paul. Florentyna ở cùng Đại sứ John Sawyer tại lâu đài Winfield, ý thức rằng vai trò của họ quan trọng tương đương nhau. Cô dường như dành hàng giờ trò chuyện về cách thức thế giới được vận hành và những gì Tổng thống đang làm đối với các vấn đề như việc xây dựng của quân đội Nga trên biên giới Pakistan. Hầu hết những thông tin cô có được là từ tờ Washington Post và ghen tỵ với việc tham gia thật sự của Ralph Brooks như một Ngoại trưởng. Mặc dù cô cố gắng trang bị cho mình đầy đủ thông tin về những vấn đề đang xảy ra trên thế giới nói chung, nhưng lần thứ hai trong đời cô cảm thấy buồn chán. Cô mong mỏi tới năm 1996, sợ rằng những năm tháng làm phó Tổng thống của cô chỉ mang lại một vài kết quả tích cực.
***
Khi chiếc Air Force 2 hạ cánh trở lại Andrews, Florentyna quay về với công việc của mình và dành phần thời gian còn lại của tuần đó kiểm tra qua tình hình của tiểu bang và CIA nay đã chất chồng trong thời gian cô vắng mặt ra nước ngoài. Cô nghỉ ngơi trọn vẹn cuối tuần đó dù CBS đưa tin tới công chúng về việc đồng đô la đang chịu hậu quả của cuộc khủng hoảng quốc tế. Người Nga đang tập trung nhiều quân hơn dọc biên giới Pakistan, một sự thật mà Tổng thống đã bác bỏ trong cuộc họp báo hằng tuần của ông ta là “không đáng kể.” Người Nga, ông ta khẳng định với các nhà báo đang có mặt, không hề hứng thú với việc vượt qua biên giới các quốc gia có hiệp ước với Hoa Kỳ.
Trong suốt tuần tiếp theo, sự hoảng loạn có vẻ dịu đi và đồng đô la được phục hồi. “Đó chỉ là sự phục hồi bề nổi thôi,” Florentyna chỉ ra cho Janet, “được tạo ra bởi người Nga. Các nhà môi giới quốc tế báo cáo rằng ngân hàng Moscow đang bán vàng ra, đó chính xác là điều họ đã làm trước khi xâm lược Afghanistan.
Tôi thực sự ước các nhân viên ngân hàng không xem xét lịch sử dựa vào cơ sở hằng tuần.”
Mặc dù một vài chính trị gia cũng như nhà báo đã liên lạc với Florentyna để bày tỏ nỗi sợ hãi của mình, cô chỉ có thể xoa dịu họ bởi vì cô, cũng như họ, theo dõi diễn biến từ bên lề. Cô thậm chí còn nghĩ đến việc đặt cuộc hẹn với Tổng thống, nhưng đến tối thứ Sáu, hầu hết người dân Mỹ trên đường về nhà mong một cuối tuần yên bình đều tin rằng nguy hiểm trước mắt đã qua. Florentyna vẫn ngồi trong văn phòng của mình ở phía tây tối hôm đó, đọc tin tức được gửi về từ các đại sứ quán và đại diện tại tiểu lục địa Ấn Độ. Càng đọc cô càng cảm thấy không thể chia sẻ với quan điểm thoải mái của Tổng thống được. Bởi không có nhiều thứ có thể làm, cô sắp xếp ngay ngắn đống giấy tờ, đặt chúng vào trong một tập hồ sơ màu đỏ đặc biệt và chuẩn bị về nhà. Cô kiểm tra đồng hồ của mình: sáu rưỡi. Edward đã bay đến từ New York và sẽ cùng cô ăn tối lúc bảy rưỡi. Cô cười với việc lưu trữ đống giấy tờ của bản thân thì Janet lao vào văn phòng.
“Một điệp viên báo cáo rằng người Nga chuẩn bị tấn công.”
“Tổng thống đang ở đâu?” là phản ứng ngay lập tức của Florentyna.
“Tôi không biết. Tôi thấy ông ta rời khỏi Nhà Trắng bằng máy bay trực thăng khoảng ba tiếng trước.”
Florentyna mở lại tập hồ sơ của mình và nhìn chằm chằm vào những thông tin được gửi về, trong lúc Janet vẫn đứng trước bàn làm việc của cô.
“Chà, ai sẽ biết ông ta ở chỗ nào được nhỉ?”
“Bà có thể chắc chắn là Ralph Brooks biết,” Janet nói.
“Gọi Ngoại trưởng ngay cho tôi.”
Janet về văn phòng riêng của mình, còn Florentyna kiểm tra qua các báo cáo lần nữa. Cô điểm nhanh qua các vấn đề mấu chốt được đưa ra bởi đại sứ Mỹ tại Islamabad trước khi đọc lại đánh giá của Đại tướng Pierce Dixon, chủ tịch của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ.
Người Nga, giờ đã được chứng minh, có mười sư đoàn ở biên giới Afghanistan-Pakistan và lực lượng của họ đã tăng lên trong vòng vài ngày qua. Có tin cho hay một nửa hạm đội Thái Bình Dương của họ đang tiến về Karachi, trong lúc hai nhóm chiến đấu đang thực hiện các “bài tập” ở Ấn Độ Dương. Đại tướng Dixon đã chỉ đạo tăng cường điệp viên theo dõi khi tin tức xác nhận rằng năm mươi chiếc MIG-25 và SU-7 đã hạ cánh xuống sân bay quân sự Kabul lúc sáu giờ tối. Florentyna kiểm tra đồng hồ của mình: bảy giờ chín phút.
“Lão già chết tiệt đấy ở đâu rồi?” Cô kêu lên. Điện thoại của cô đổ chuông.
“Ngoại trưởng đang trên điện thoại đợi bà ạ,”
Janet nói. Florentyna đợi thêm vài giây.
“Tôi có thể giúp gì cô bây giờ?” Ralph Brooks nói, nghe như thể Florentyna đã làm phiền anh ta.
“Tổng thống hiện đang ở đâu?” Cô hỏi lần thứ ba. “Ngay lúc này, ông ấy đang ngồi trên một chiếc Air Force 1,” Brooks đáp.
“Đừng nói dối nữa, Ralph. Nó rõ ràng lắm, dù là trên điện thoại. Bây giờ, hãy nói cho tôi biết Tổng thống đang ở đâu.”
“Nửa đường đến California.”
“Liên Xô đang bắt đầu hành động, tại sao ông ta vẫn chưa được khuyên quay trở lại đây?”
“Chúng tôi đã khuyên, nhưng máy bay của ông ấy cần hạ cánh để tiếp nhiên liệu.”
“Anh phải biết rõ Air Force 1 không cần tiếp thêm nhiên liệu cho một hành trình có chiều dài như vậy.”
“Ông ấy không ngồi trên Air Force 1.” “Tại sao lại không?”
Không có lời đáp lại.
“Tôi khuyên anh nên thành thật với tôi, Ralph, cho dù nó chỉ là để cứu lấy chính mình.”
Một khoảng lặng thậm chí dài hơn.
“Ông ấy đang trên đường đến gặp một người bạn tại California khi khủng hoảng nổ ra.”
“Tôi không thể tin được,” Florentyna nói. “Ông ta nghĩ mình là ai vậy? Tổng thống Pháp sao?”
“Tôi đã kiểm soát mọi thứ rồi,” Brooks nói, phớt lờ nhận xét của cô. “Máy bay của ông ấy sẽ hạ cánh xuống sân bay Colorado trong vài phút nữa. Tổng thống sẽ ngay lập tức lên Air Force F15 và quay về Washington trong vòng hai tiếng.”
“Ngay lúc này ông ta đang ngồi trên máy bay loại nào?” Florentyna hỏi.
“Một chiếc máy bay cá nhân 737, thuộc quyền sở hữu của Marvin Snyder, công ty Dầu khí Blade.”
“Tổng thống có thể truy nhập Mạng lưới Điều khiển Quốc gia từ trên máy bay không?” Florentyna hỏi. Không có tiếng đáp lại. “Anh có nghe tôi nói gì không?” Cô quát lên.
“Có,” Ralph nói. “Sự thật là chiếc máy bay đó không có hệ thống bảo vệ hoàn chỉnh. Chúng ta gặp vấn đề tương tự như George Bush khi ông ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc quay về Washington bằng một chiếc máy bay tư nhân tại thời điểm Reagan bị bắn.”
“Anh đang nói vói tôi là trong vòng hai tiếng đồng hồ tới, bất cứ phát thanh viên nghiệp dư nào cũng có thể dò được sóng cuộc nói chuyện giữa Tổng thống và chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ sao?”
“Đúng vậy,” Ralph thừa nhận.
“Tôi sẽ gặp anh trong Phòng Tình huống,” Florentyna nói, và dập máy.
Cô gần như chạy ra khỏi văn phòng mình. Hai nhân viên Sở Mật vụ kinh ngạc vội vàng đuổi theo sau khi cô chạy xuống cầu thang chật hẹp, vượt qua những bức chân dung nhỏ của các vị Tổng thống đời trước. Washington đối mặt với cô ở cuối cầu thang khi cô rẽ vào một hành lang rộng dẫn đến Phòng Tình huống. Nhân viên bảo vệ đã mở sẵn cửa dẫn tới bộ phận thư ký. Cô băng qua căn phòng ồn ào tiếng điện tín và máy đánh chữ trong lúc một nhân viên bảo vệ khác mở cánh cửa ốp gỗ sồi của Phòng Tình huống cho cô. Các nhân viên Sở Mật vụ của cô dừng lại bên ngoài khi cô rảo bước vào phòng.
Ralph Brooks ngồi trong chiếc ghế dành cho Tổng thống và đưa ra mệnh lệnh cho một nhóm quân nhân. Bốn trên tổng số chín ghế đã có người ngồi, xung quanh một chiếc bàn gần như che kín cả căn phòng. Bên phải Brooks là Bộ trưởng Quốc phòng, Charles Lee, bên trái anh ta là Giám đốc Cơ quan Tình báo CIA, Paul Rowe. Đối diện họ là chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, Đại tướng Dixon, và Cố vấn An ninh Quốc gia, Michael Brewer. Cánh cửa phía cuối căn phòng dẫn vào khu vực thông tin liên lạc mở rộng.
Brooks xoay người lại đối mặt với cô. Florentyna chưa bao giờ thấy anh ta bỏ áo khoác, và không cài cúc cổ áo như vậy.
“Không cần hoảng loạn,” anh ta nói. “Tôi kiểm soát mọi việc rồi. Tôi tự tin là người Nga sẽ không dám hành động trước khi Tổng thống quay lại đâu.”
“Tôi không cho rằng đó là những gì người Nga nghĩ trong đầu,” Florentyna nói. “Trong khi Tổng thống vắng mặt không thể giải thích được, chúng ta cần phải chuẩn bị để có những bước đi phù hợp với động thái của họ.”
“Chà, đây không phải vấn đề của bà, Florentyna. Tổng thống đã cho phép tôi nắm quyền kiểm soát.”
“Ngược lại, đây chính là vấn đề của tôi,” Florentyna đáp, kiên quyết từ chối nhận một chỗ ngồi. “Trong trường hợp Tổng thống vắng mặt, trách nhiệm về tất cả các vấn đề quân sự chuyển sang cho tôi.”
“Nghe này, Florentyna, tôi đang điều hành mọi thứ và tôi không muốn bà can thiệp vào.” Những tiếng rì rầm trao đổi giữa các quân nhân trong phòng đột ngột dừng lại khi Brooks nhìn chằm chằm đầy giận dữ vào Florentyna. Cô nhấc chiếc điện thoại gần nhất. “Đưa Bộ trưởng Tư pháp lên màn hình.”
“Vâng thưa bà,” nhân viên điều khiển đáp.
Một vài giây sau, khuôn mặt của Pierre Levale xuất hiện trên màn hình của một trong sáu chiếc ti vi được bọc trong hộp gỗ sồi đặt dọc bên tường.
“Chào buổi tối, Pierre, đây là Florentyna Kane. Chúng ta có một sự tăng cường theo dõi tình báo cần xử lý, và vì vài lí do tôi không thể thảo luận về việc Tổng thống không hiện diện. Ông có thể nói rõ ràng với Ngoại trưởng về việc ai sẽ chịu trách nhiệm điều hành trong tình huống như vậy không?”
Mọi người trong phòng đứng yên và nhìn chăm chú vào khuôn mặt lo lắng trên màn hình. Những đường nét trên gương mặt Pierre Levale chưa bao giờ rõ ràng hơn thế. Họ đều biết ông ta được Parkin bổ nhiệm, nhưng ông ta đã vài lần thể hiện trong quá khứ rằng pháp luật phải được đặt cao hơn Tổng thống.
“Hiến pháp không phải lúc nào cũng rõ ràng đối với những vấn đề như thế này,” ông ta bắt đầu, “đặc biệt là sau sự bất đồng không thể hàn gắn giữa Bush- Haig bởi vụ ám sát Ronald Reagan[1]. Nhưng theo ý kiến của tôi, trong điều kiện Tổng thống vắng mặt, tất cả quyền lực được trao cho phó Tổng thống, và đó là cách tôi sẽ khuyên Thượng viện.”
“Cảm ơn, Pierre,” Florentyna nói, vẫn nhìn vào màn hình. “Xin vui lòng viết lại những điều đó thành văn bản và gửi ngay lập tức một bản sao tới bàn làm việc của Tổng thống sau khi hoàn thành.” Bộ trưởng Tư pháp biến mất khỏi màn hình.
“Giờ thì mọi chuyện đã được định đoạt, Ralph, tóm tắt tình hình ngay cho tôi.”
Brooks miễn cưỡng rời khỏi chiếc ghế Tổng thống, trong khi một sĩ quan mở một bảng điều khiển nhỏ bên dưới công tắc đèn cạnh cửa. Ông ta ấn vào một nút điều khiển, và chiếc rèm màu be phủ dọc bức tường phía sau ghế Tổng thống được kéo ra. Một màn hình lớn hạ xuống từ trần nhà với tấm bản đồ thế giới trên đó.
Charles Lee, Bộ trưởng Quốc phòng, đứng dậy khỏi ghế của mình khi những ánh đèn màu khác nhau thắp sáng khắp tấm bản đồ. “Các ngọn đèn thể hiện vị trí của tất cả lực lượng của kẻ thù mà chúng ta biết,” ông ta nói khi Florentyna quay người lại đối diện với tấm bản đồ. “Màu đỏ là tàu ngầm, màu xanh lá cây là máy bay và màu xanh dương là các sư đoàn được trang bị đầy đủ.”
“Một học viên quân sự năm nhất của học viện West Point khi nhìn vào tấm bản đồ này cũng có thể nói chính xác cho các vị điều gì đang diễn ra trong đầu người Nga,” Florentyna nói khi nhìn chằm chằm vào một lượng lớn đèn đỏ trên Ấn Độ Dương, đèn xanh lá tại sân bay Kabul và đèn xanh dương dọc biên giới Afghanistan-Pakistan.
Paul Rowe sau đó xác nhận rằng người Nga đã tập hợp quân đội cạnh biên giới Pakistan vài ngày nay, và trong vòng một tiếng đồng hồ vừa qua, một tin nhắn được mã hóa từ đặc vụ CIA nằm vùng cho biết Liên Xô có ý định vượt qua đường biên giới Pakistan vào mười giờ theo múi giờ chuẩn miền Đông[2]. Ông ta đưa cho cô một bộ tin nhắn đã được giải mã và trả lời từng câu hỏi của cô.
“Tổng thống đã nói với tôi,” Brooks lên tiếng một cách châm chọc khi Florentyna đọc tin nhắn cuối cùng, “ông ấy cảm thấy Pakistan không phải là một Ba Lan khác và rằng người Nga sẽ không dám vượt qua biên giới Afghanistan.”
“Tôi nghĩ chúng ta sẽ biết liệu nhận định của ông ta có lý hay không,” cô đáp.
“Ngài Tổng thống,” anh ta nói thêm, “đã liên lạc với phía Moscow trong tuần, cũng như Thủ tướng Anh Quốc, Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức. Họ dường như đều tán thành với nhận định của ông ấy.”
“Từ thời điểm đó tình hình đã thay đổi hoàn toàn,” Florentyna trả lời cộc lốc. “Rõ ràng là tôi sẽ phải tự mình nói chuyện với nhà lãnh đạo Liên Xô.”
Một lần nữa Brooks ngập ngừng. “Ngay lập tức,” Florentyna nói thêm. Brooks nhấc điện thoại lên. Tất cả mọi người trong phòng chờ đợi trong lúc đường dây được kết nối. Florentyna chưa bao giờ nói chuyện với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Andropov trước đây, và cô có thể cảm thấy tim mình đập mạnh. Cô biết cuộc điện thoại này được theo dõi để bắt được những phản ứng nhỏ nhất mà cô vô tình lộ ra, cũng như phía vị lãnh đạo người Nga. Người ta nói rằng cũng chính thiết bị này đã tạo điều kiện cho người Nga đối xử thô bạo với Jimmy Carter.
Vài phút sau, Andropov trả lời cuộc gọi.
“Xin chào, bà Kane,” ông ta nói, không thừa nhận chức danh của cô, tiếng ông ta rõ ràng như ngồi ngay phòng bên cạnh. Sau bốn năm tại tòa án St James[3], ngữ điệu của ông ta rất tự nhiên và khả năng kiểm soát ngôn ngữ cũng rất ấn tượng. “Tôi có thể hỏi Tổng thống Parkin đang ở đâu không?” Florentyna có thể cảm thấy miệng mình khô khốc. Ông ta tiếp tục trước khi cô kịp đáp lại. “Tại California, chắc chắn rồi.” Florentyna không thấy ngạc nhiên với việc nhà lãnh đạo Liên Xô biết nhiều về những thói quen của Parkin hơn cô. Giờ đây đã rõ ràng vì sao người Nga chọn thời điểm mười giờ để vượt biên giới Pakistan.
“Ông đúng rồi,” Florentyna nói. “Và bởi ông ấy không ở đây trong ít nhất là hai giờ nữa, ông sẽ phải đàm phán với tôi. Do đó tôi muốn ông biết chắc chắn rằng tôi gánh mọi trách nhiệm của một Tổng thống khi ông ấy vắng mặt.” Cô có thể cảm thấy những giọt mồ hôi lấm tấm, nhưng không dám chạm tay lên trán mình.
“Tôi hiểu,” cựu chỉ huy KGB[4] nói. “Vậy tôi có thể hỏi mục đích của cuộc gọi này là gì không?”
“Đừng giả vờ ngây ngô nữa, ngài Tổng thống. Tôi muốn ông hiểu rằng nếu ông đưa dù chỉ một người thuộc lực lượng vũ trang của mình vượt qua biên giới với Pakistan, nước Mỹ sẽ trả đũa ngay lập tức.”
“Bà thật can đảm đấy, bà Kane,” ông ta nói. “Ông rõ ràng là không hiểu hệ thống chính trị của nước Mỹ, ngài Tổng thống ạ. Việc này không cần đến ‘lòng can đảm’ chút nào. Trong vai trò là phó Tổng thống, tôi là người duy nhất ở nước Mỹ này không có gì để mất và có mọi thứ cần giành lấy.” Lần này, sự im lặng không phải từ phía cô. Florentyna cảm thấy lòng tự tin của mình dâng cao. Ông ta đã để cho cô có cơ hội nói tiếp trước khi kịp đáp trả. “Nếu ông không quay đầu hạm đội chiến đấu của ông ngược về phương nam, rút toàn bộ mười sư đoàn bộ binh khỏi biên giới Pakistan và đưa những chiếc MIG-25 cùng SU-7 của mình quay về Moscow, tôi sẽ không do dự tấn công ông trên đất liền, trên biển cũng như trên không. Ông có hiểu không?”
Điện thoại bị cắt. Florentyna xoay người lại.
Lúc này căn phòng trở nên ồn ào với những chuyên gia lúc trước chỉ “chơi trò chơi” trong tình huống này và giờ đây chờ đợi như Florentyna để xem liệu tất cả những rèn luyện, kinh nghiệm cũng như kiến thức của họ có sắp được kiểm tra hay không.
Ralph Brooks bịt một tay lên ống nói chiếc điện thoại của anh ta và báo cáo rằng Tổng thống đã hạ cánh xuống Colorado và muốn nói chuyện với Florentyna. Cô nhấc chiếc điện thoại an ninh màu đỏ bên cạnh mình lên.
“Florentyna? Có phải bà không?” vang lên trong điện thoại là chất giọng đặc trưng của người Texas.
“Vâng, ngài Tổng thống.”
“Bây giờ nghe tôi đây, thưa bà. Ralph đã tóm tắt tình hình cho tôi và tôi đang trên đường trở về ngay lập tức. Đừng làm gì nóng vội – và hãy đảm bảo rằng báo chí không biết được sự vắng mặt của tôi.”
“Vâng, ngài Tổng thống.” Cuộc gọi kết thúc.
“Đại tướng Dixon?” Cô nói, không bận tâm nhìn đến Brooks.
“Vâng, thưa bà,” đại tướng bốn sao, người chưa từng cất lời cho đến lúc đó, đáp lại.
“Chúng ta có thể huy động lực lượng phản công vào trận địa nhanh đến mức nào?” Cô hỏi vị tham mưu trưởng.
“Trong vòng một giờ đồng hồ. Tôi có thể huy động mười phi đội F111 từ các căn cứ của chúng ta tại châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng tôi sẽ mất ba ngày để hạm đội Địa Trung Hải có thể liên lạc với phía Nga.”
“Hạm đội mất bao lâu để đến được Ấn Độ Dương?” “Hai hoặc ba ngày, thưa bà.”
“Vậy hãy ban hành mệnh lệnh và thực hiện chỉ trong hai ngày, Đại tướng.”
“Vâng, thưa bà,” Đại tướng Dixon đáp lại lần nữa, và rời khỏi Phòng Tình huống đến Phòng Điều khiển.
Florentyna không cần đợi lâu để nhận được báo cáo tiếp theo hiện lên trên màn hình. Đó là điều cô lo sợ nhất. Hạm đội của người Nga vẫn không ngừng tiến về phía Karachi trong khi ngày càng nhiều sư đoàn Liên Xô tập trung về Salabad và Asadabadon trên biên giới Afghanistan.
“Nối máy cho tôi với Thủ tướng Pakistan,” Florentyna nói.
Ông ta trả lời cuộc gọi sau giây lát. “Tổng thống Parkin đang ở đâu?” là câu đầu tiên được hỏi.
Không phải cả ông ta nữa chứ? Florentyna muốn nói, nhưng lại đáp, “Trên đường quay về từ trại David[5]. Ông ấy sẽ ở đây cùng chúng ta ngay thôi.” Cô tóm tắt với ông ta những hành động mình đang tiến hành cho đến thời điểm này và nói rõ việc cô sẵn sàng tiến xa đến đâu.
“Tạ ơn trời vì có một người dũng cảm,” Murbaze Bhutto nói.
“Hãy để đường dây luôn sẵn sàng và chúng tôi sẽ thông báo cho ông nếu có bất cứ điều gì thay đổi,” Florentyna nói, phớt lờ lời khen ngợi.
“Tôi sẽ gọi lại cho Tổng thống Nga chứ?” Ralph Brooks hỏi.
“Không,” Florentyna đáp. “Nối máy cho tôi với Thủ tướng Anh Quốc, Tổng thống Pháp và Thủ tướng Tây Đức.”
Cô kiểm tra đồng hồ của mình: bảy giờ ba lăm. Trong vòng hai mươi phút, Florentyna nói chuyện với cả ba nhà lãnh đạo. Người Anh ủng hộ kế hoạch của cô, người Đức tỏ ý nghi ngờ nhưng vẫn đồng ý hợp tác, trong khi người Pháp không giúp ích gì.
Tin tức tiếp theo mà Florentyna nhận được là những chiếc máy bay MIG-25 của Nga tại sân bay quân sự Kabul đang chuẩn bị cất cánh.
Ngay lập tức cô yêu cầu Đại tướng Nixon đưa toàn bộ lực lượng vào trạng thái sẵn sàng. Brooks nhoài người về phía trước để phản đối, nhưng sau đó tất cả những người đang có mặt đều đặt sự nghiệp của họ vào tay một người phụ nữ. Nhiều người trong số họ quan sát cô gần hơn, nhưng nhận thấy cô không thể hiện cảm xúc gì.
Đại tướng Dixon quay trở lại Phòng Tình huống. “Thưa bà, phi đội F111 hiện đã sẵn sàng để cất cánh, hạm đội số sáu đang chạy hết tốc lực hướng đến Ấn Độ Dương và một lữ đoàn lính nhảy dù có thể đáp xuống Landi Kotal trên đường biên giới Pakistan trong vòng hai giờ nữa.”
“Tốt,” Florentyna nói khẽ. Máy điện tín liên tục nhảy ra những tin nhắn về việc người Nga vẫn đang tiến về phía trước trên mọi mặt trận.
“Bà có nghĩ rằng chúng ta nên liên lạc lại với nhà lãnh đạo Liên Xô trước khi mọi việc quá muộn không?” Brooks hỏi. Florentyna nhận thấy bàn tay anh ta đang run rẩy.
“Tại sao chúng ta phải liên lạc với Andropov?
Tôi không có điều gì để nói với ông ta cả. Nếu chúng ta quay đầu bây giờ, mọi việc sẽ luôn luôn là quá muộn,” Florentyna khẽ đáp.
“Nhưng chúng ta phải thử đàm phán một sự thỏa hiệp, nếu không giờ này ngày mai, Tổng thống sẽ trông như một tên ngốc,” Brooks nói và đứng trước mặt cô.
“Tại sao?” Florentyna hỏi.
“Bởi vì cuối cùng bà cũng sẽ phải nhượng bộ.” Florentyna không trả lời mà xoay người lại trên ghế để đối diện với Đại tướng Dixon, người đứng bên cạnh mình.
“Trong vòng một giờ đồng hồ nữa, thưa bà, chúng ta sẽ trong không phận của kẻ địch.”
“Đã hiểu,” Florentyna đáp.
Ralph Brooks nhấc chiếc điện thoại đang reo liên hồi bên cạnh anh ta. Đại tướng Dixon quay trở lại Phòng Điều hành.
“Tổng thống đang chuẩn bị hạ cánh xuống căn cứ không quân Andrews. Ông ấy sẽ trở lại với chúng ta trong vòng hai mươi phút nữa,” Brooks nói với Florentyna. “Hãy nói chuyện với người Nga và bảo quân họ quay lại cho đến khi ông ấy trở về.”
“Không,” Florentyna đáp. “Nếu người Nga không quay đầu bây giờ ông có thể chắc chắn họ sẽ cho cả thế giới biết Tổng thống đang ở đâu vào giây phút họ bước qua biên giới Afghanistan. Trong mọi trường hợp, tôi vẫn tin là họ sẽ quay đầu.”
“Bà điên rồi, Florentyna,” anh ta kêu lên, đứng dậy khỏi ghế.
“Tôi không cho là mình từng tỉnh táo hơn lúc này,” cô vặn lại.
“Bà cho rằng người Mỹ sẽ cảm ơn bà vì đã đưa họ vào cuộc chiến tranh ở tận Pakistan ư?” Brooks hỏi.
“Pakistan không phải là thứ chúng ta đang thảo luận,” Florentyna đáp. “Ấn Độ sẽ là điểm tiếp theo, rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp, Ý, Anh Quốc và cuối cùng là Canada. Và ông, Ralph Brooks, sẽ vẫn tìm lời biện hộ cho việc né tránh đối đầu ngay cả khi Liên Xô tiến xuống Đại lộ Constitution.”
“Nếu đó là thái độ của bà, tôi sẽ không nhúng tay vào toàn bộ việc này.”
“Vậy thì không còn nghi ngờ gì việc ông sẽ có một phụ chú tương ứng trong lịch sử với vai trò là người cuối cùng thực hiện hành động nhục nhã đó.”
“Vậy thì tôi sẽ nói với ngài Tổng thống là bà đã vượt quyền tôi và chống lại mệnh lệnh của tôi,” Brooks nói, giọng anh ta cao lên theo từng từ.
Florentyna nhìn lên người đàn ông đẹp trai giờ đây mặt mũi đỏ gay. “Ralph, nếu ông sắp tè ra quần, làm ơn hãy thực hiện việc đó trong nhà vệ sinh nam chứ không phải tại Phòng Tình huống.”
Brooks tức giận bỏ ra ngoài. Đại tướng Dixon quay lại.
“Còn hai mươi bảy phút nữa và vẫn không có dấu hiệu người Nga sẽ quay đầu,” Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân thì thầm. Một tin nhắn truyền qua máy điện tín cho biết năm mươi chiếc MIG-25 và SU-7 đang cất cánh và sẽ vào không phận Pakistan trong vòng ba mươi tư phút.
Đại tướng Dixon đứng bên cạnh cô. “Hai mươi ba phút nữa, thưa bà.”
“Cảm giác bây giờ của ngài thế nào, Đại tướng?” Florentyna cố tỏ ra thoái mái.
“Tốt hơn cái ngày tôi tiến vào Berlin ở vị trí một trung úy trẻ, thưa bà.”
Florentyna yêu cầu một thiếu tá kiểm tra cả ba đài truyền hình. Cô bắt đầu cảm nhận những gì Kennedy đã trải qua tại Cuba. Viên thiếu tá bấm một vài nút trước mặt mình. CBS đang chiếu bộ phim hoạt hình Popeye, NBC là một trận bóng rổ, và ABC là một bộ phim cũ của Ronald Reagan. Cô kiểm tra qua mọi thứ trên màn hình ti vi nhỏ một lần nữa, nhưng không có gì thay đổi. Giờ thì cô chỉ có thể cầu nguyện rằng cô có đủ thời gian để chứng minh là mình đúng. Cô nhấp miệng vào cốc cà phê đặt cạnh cùi chỏ. Nó đắng và lạnh. Cô đẩy nó sang một bên khi Tổng thống Parkin hùng hổ tiến vào phòng, theo sau là Brooks. Tổng thống mặc một chiếc áo sơ mi hở cổ, áo khoác thể thao và quần kẻ ô.
“Chuyện quái quỷ gì đang diễn ra vây?” là những từ đầu tiên ông ta thốt ra. Florentyna rời khỏi ghế Tổng thống và Đại tướng Dixon tiến lên phía trước lần nữa.
“Còn hai mươi phút, thưa bà.”
“Bây giờ, hãy tóm tắt tình hình thật nhanh cho tôi, Florentyna.” Parkin ra lệnh, ngồi vào chiếc ghế Tổng thống của ông ta. Cô ngồi xuống bên phải Tổng thống và nói những gì cô đã làm cho đến giây phút ông ta bước vào.
“Cô thật ngu ngốc,” ông ta hét lên khi cô nói xong. “Tại sao cô không nghe Ralph? Ông ta sẽ không bao giờ đưa chúng ta vào rắc rối này.”
“Tôi biết chính xác những gì một Ngoại trưởng sẽ làm trong tình huống như vậy,” Florentyna lạnh lùng đáp.
“Đại tá Dixon,” Tổng thống nói, quay lưng lại với Florentyna. “Vị trí chính xác các lực lượng quân đội của ông là gì?” Vị đại tướng tóm tắt cho Tổng thống Parkin. Những tấm bản đồ liên tục nhấp nháy trên màn hình phía sau ông ta cho biết vị trí mới nhất của người Nga.
“Trong vòng mười sáu phút nữa máy bay ném bom F111 sẽ tới lãnh thổ quân địch.”
“Nối máy cho tôi với Tổng thống Pakistan,” Parkin nói, đập mạnh xuống chiếc bàn trước mặt ông ta.
“Ông ấy vẫn giữ một đường dây mở,” Florentyna khẽ nói.
Tổng thống chộp lấy điện thoại, gù vai lên bàn và bắt đầu nói với một giọng điệu bí mật.
“Tôi xin lỗi vì phải làm cách này, nhưng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc thu hồi những quyết định của phó Tổng thống. Bà ấy không hiểu toàn bộ những tác động gây ra do hành động của mình. Bây giờ, tôi không muốn ông cảm thấy chúng tôi đang bỏ rơi các ông. Chắc chắn là chúng tôi sẽ thương lượng một sự rút lui trong hòa bình khỏi lãnh thổ của các ông ngay khi có cơ hội,” Parkin nói.
“Vì Chúa, các ông không thể bỏ rơi chúng tôi vào lúc này,” Bhutto nói.
“Tôi phải làm điều tốt nhất cho tất cả chúng ta,” Parkin đáp.
“Giống những gì các ông đã làm với Afghanistan phải không.”
Parkin phớt lờ lời bình luận và dập máy điện thoại. “Đại tướng.”
“Vâng, thưa ngài,” Dixon nói và bước lên phía trước.
“Chúng ta còn bao nhiêu thời gian?”
Đại tướng nhìn lên chiếc đồng hồ điện tử hạ xuống từ trên trần nhà trước mặt mình. “Mười một phút mười tám giây,” ông ta nói.
“Giờ hãy nghe đây, và nghe thật kỹ này. Phó Tổng thống đã đảm nhận quá nhiều trách nhiệm trong lúc tôi vắng mặt và giờ tôi phải tìm cách thoát ra khỏi đống lộn xộn này mà không để bị ném trứng vào mặt tất cả chúng ta. Tôi tin rằng ông sẽ đồng ý, Đại tướng ạ.”
“Bất cứ điều gì ngài nói, ngài Tổng thống, nhưng trong hoàn cảnh này, tôi sẽ kiên định với những gì đang làm.”
“Cần có những sự cân nhắc rộng hơn, vượt ra khỏi vấn đề quân sự. Vậy nên tôi muốn ông…”
Một tiếng thét vang lên ở góc xa trong phòng từ một đại tá vô danh. Trong một khoảnh khắc, ông ta thậm chí đã ngắt lời cả Tổng thống.
“Chuyện gì vậy?” Parkin quát lên.
Vị đại tá đứng nghiêm trang nói. “Hạm đội Nga đã quay đầu và hiện giờ đang tiến về phía nam,” ông ta nói trong lúc đọc tín hiệu thông tin.
Ngài Tổng thống không nói nên lời. Vị đại tá vô danh tiếp tục: “Những chiếc MIG-25 và SU-7 đang bay theo hướng Tây bắc về Moscow.” Tiếng hò reo vang lên, nhấn chìm những lời còn lại của viên đại tá. Hệ thống máy điện tín tuôn trào thông tin xác nhận khắp căn phòng.
“Đại tướng,” Parkin nói và quay lại phía vị chủ tịch, “chúng ta đã thách thức được họ. Đây là một ngày vinh quang của ông và nước Mỹ.” Ông ta ngập ngừng trong giây lát rồi nói thêm, “Và tôi muốn ông biết rằng tôi tự hào khi dẫn dắt đất nước chúng ta vượt qua giờ phút vô cùng hiểm nguy này.”
Không ai trong Phòng Tình huống cất tiếng cười và Brooks nhanh chóng tiếp lời, “Xin chúc mừng, ngài Tổng thống.” Mọi người bắt đầu hoan hô lần nữa, trong lúc đó một vài quân nhân tiến đến chúc mừng Florentyna.
“Đại tướng, hãy mang các cậu bé của ông trở về nhà thôi. Họ đã thực hiện một nhiệm vụ quân sự tuyệt vời. Xin chúc mừng… ông cũng đã làm rất tốt.”
“Cảm ơn, ngài Tổng thống,” Đại tướng Nixon nói. “Nhưng tôi cảm thấy lời khen ngợi này nên dành cho…”
Tổng thống quay về phía Brooks và nói, “Hãy tổ chức một lễ kỷ niệm, Ralph. Tất cả mọi người sẽ ghi nhớ ngày hôm nay đến cuối cuộc đời mình. Ngày mà chúng ta cho thế giới thấy nước Mỹ không thể bị điều khiển nữa.”
Florentyna lúc này đứng trong một góc như thể cô không có gì liên quan với những gì đang diễn ra trong căn phòng đó. Cô rời đi vài phút sau bởi Tổng thống tiếp tục phớt lờ mình. Cô quay về văn phòng cá nhân trên tầng thứ hai và bỏ sang một bên tập hồ sơ đỏ, rồi đóng sầm cánh cửa tủ. Không có gì lạ khi Richard không bao giờ bầu cho phe Dân chủ.
***
“Một quý ông đã đợi bà từ bảy rưỡi” là những lời đầu tiên người quản gia nói khi cô trở về nhà mình ở Observatory Circle.
“Ôi Chúa ơi,” Florentyna nói to và chạy thẳng đến phòng giải trí nơi cô thấy Edward đang mắt nhắm, ngủ gục trên ghế sofa trước lò sưởi. Cô hôn lên trán anh và anh tỉnh dậy ngay lập tức.
“A, em yêu, em đã bận giải cứu thế giới khỏi số phận tồi tệ hơn cái chết, chắc hẳn là vậy?”
“Cũng gần như thế,” Florentyna nói, cô đi đi lại lại trong lúc kể cho Edward mọi chuyện đã diễn ra tại Nhà Trắng tối nay. Edward chưa bao giờ thấy cô tức giận như vậy.
“Chà, anh sẽ nói một điều về Pete Parkin,” Edward nói khi cô kết thúc câu chuyện. “Ông ta kiên định đấy chứ.”
“Ông ta sẽ không còn như vậy sau ngày mai đâu.” “Ý em là sao?”
“Chính là vậy đó. Em sẽ tổ chức một cuộc họp báo vào sáng mai và cho mọi người biết chính xác những gì đã diễn ra. Em phát ốm và quá mệt mỏi với thái độ xảo trá và vô trách nhiệm của ông ta rồi, và em biết rằng hầu hết những người trong Phòng Tình huống tối nay sẽ xác nhận mọi điều em nói với anh.”
“Việc đó vừa nông cạn, vừa thiếu trách nhiệm,” Edward nói, trong lúc nhìn chăm chú vào ngọn lửa trước mặt.
“Tại sao?” Florentyna ngạc nhiên hỏi.
“Bởi nước Mỹ sẽ bị nhìn nhận với một vị Tổng thống như con vịt què. Em có thể sẽ là anh hùng trong thời khắc này, nhưng chẳng mấy chốc, sẽ bị ghét bỏ.”
“Nhưng…” Florentyna định bắt đầu nói.
“Không nhưng gì hết. Lần này em sẽ phải nuốt sự kiêu hãnh của mình lại, và hài lòng với việc sẽ dùng những sự kiện diễn ra tối nay làm vũ khí để nhắc nhở Parkin về thỏa thuận của ông ta liên quan tới Tổng thống một-nhiệm-kỳ.”
“Và để cho ông ta thoát khỏi chuyện hôm nay sao?” “Và để nước Mỹ thoát khỏi chuyện này,” Edward trả lời một cách kiên định.
Florentyna tiếp tục đi lại và không nói gì trong vài phút. “Anh nói đúng,” cuối cùng cô lên tiếng. “Em được thông suốt rồi. Cảm ơn anh.”
“Cứ như chính anh là người đã trải qua những chuyện của em vậy.”
Florentyna cười. “Thôi đi,” cô nói và dừng bước lần đầu tiên. “Hãy kiếm cái gì đó để ăn nhỉ. Chắc anh sắp chết đói rồi.”
“Không, không,” Edward trả lời và nhìn vào đồng hồ của mình. “Mặc dù anh phải thú nhận là, bà phó Tổng thống ạ, em là cô gái đầu tiên bắt anh đợi tận ba tiếng rưỡi cho một cuộc hẹn ăn tối đấy.”
❀ ❀ ❀
[1] 173* Ngày 30/3/1981, Tổng thống Reagan bị ám sát chỉ sau 70 ngày lên nắm quyền. Phó Tổng thống George H. Bush đang ở trên máy bay đến Texas, không có đường dây liên lạc an toàn. Ngoại trưởng Mỹ Alexander Haig đã đứng ra nắm quyền kiểm soát tình hình. Việc này đã gây ra mâu thuẫn lớn giữa Bush và Haig vì theo Tu chính án thứ 25, khi Tổng thống không có khả năng gánh vác quyền hạn và trọng trách của nhiệm sở, phó Tổng thống sẽ ngay lập tức nắm quyền với tư cách Quyền Tổng thống.
[2] 174* Eastern Standard Time: UTC-5.
[3] 175* Court of St James: tòa án hoàng gia Anh Quốc dành riêng để xét xử vua chúa cùng các nhân vật cao cấp.
[4] 176*KGB: bao gồm 2 bộ phận: Cơ quan an ninh Liên bang Nga, và cơ quan tình báo hải ngoại thuộc Liên bang Nga.
[5] 177* Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont, thường được biết đến với cái tên Trại David, nằm ở quận Frederick, tiểu bang Maryland. Trại được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi miền quê của Tổng thống Hoa Kỳ và các khách mời của mình.