Xem ra, phim nội địa sắp bước vào thời kỳ coi trọng tuyên truyền giáo dục. Những người làm công tác điện ảnh nước ta phải chuẩn bị tư tưởng cho sự gian khổ đấu tranh – đây là truyền thống vẻ vang của chúng ta. Giữa thập niên bảy mươi, tôi làm công nhân ở một nhà máy trên phố Bắc Kinh, thường xuyên đi xem phim, chưa từng tốn tiền mua vé, toàn là vé trên phát xuống. Xét về lý thuyết, vé xem phim do công đoàn mua, nhưng tiền công đoàn lại từ đâu ra? Mỗi tháng chúng tôi chỉ đóng năm xu tiền hội phí. Số tiền đó suy cho cùng đều là nhà nước chi trả. Nói một cách khắt khe, phim ảnh thời đó không có giá trị phòng vé, nhà nước bỏ tiền nuôi điện ảnh. Tương lai có lẽ cũng vẫn vậy thôi. Như mọi người vẫn thường nói, nhà nước cũng chẳng dư dả gì, người làm điện ảnh không nên kỳ vọng quá cao. Đây đều là những lời nghiêm túc.
Nhà nước bỏ tiền cho mọi người xem phim chính là để tuyên truyền và giáo dục. Thẳng thắn mà nói, những bộ phim này tôi chẳng xem mấy. Năm 74, 75 tôi rảnh rỗi nên còn đi xem vài lần, đến năm 77, 78 thì tôi không xem lấy một bộ phim nào. Thời kỳ đó tôi đang ôn thi đại học, mỗi phút đều quý như vàng. Ngoài tôi ra, những thanh niên công nhân khác cũng chẳng buồn đi xem. Người thì bận đóng đồ đạc chuẩn bị cưới xin, người thì đang yêu đương; tóm lại, ai cũng bận. Người trẻ nhường lại cho các thợ già đi xem, nhưng thợ ở xưởng chúng tôi phần đông là nữ, họ bảo: trong rạp tối quá, không đan lát được – mặc dù mò mẫm trong tối vẫn có thể đan, nhưng các thợ bảo: chưa học được kỹ năng này. Kết quả là, vé xem phim xưởng phát buổi sáng, buổi chiều đều nằm trong sọt giấy vụn. Điều tôi muốn nói là, phim muốn đạt được kết quả tuyên truyền giáo dục thì phải có người xem mới được. Đây là một vấn đề nghiêm túc. Ngoài việc biên kịch, đạo diễn nghĩ cách, người khác cũng phải giúp nghĩ kế. Dựa trên trải nghiệm thực tế của bản thân, tôi có đề nghị thế này: Giả sử công đoàn bao rạp, trong rạp chiếu nên có ánh sáng thích hợp để nữ công nhân có thể vừa xem phim vừa đan lát, làm vậy mới giữ chân được người ở lại rạp.
Tất nhiên, chức năng tuyên truyền giáo dục của điện ảnh không chỉ thể hiện ở thành phố, mà còn ở vùng nông thôn rộng lớn, về phương diện này tôi lại có trải nghiệm thực tế. Đầu thập niên bảy mươi, tôi đi cắm đội ở Vân Nam. Ở nơi đó, phim ảnh không bao giờ thiếu khán giả. Phim nào cũng có người xem, kể cả "Bản tin thời sự". Nhưng bạn đừng nghĩ đến chuyện doanh thu phòng vé. Có khán giả nhưng không có doanh thu, đây không phải vì khán giả không chịu bỏ tiền mua vé, mà vì họ căn bản là không có tiền. Tôi cảm thấy chiếu phim ở nông thôn càng thể hiện rõ chức năng tuyên truyền, giáo dục của điện ảnh. Ví dụ như, chiếu phim ở rạp thành phố thì vì có bán vé nên giống như thể thao chuyên nghiệp; còn chiếu phim ở nông thôn thì giống như thể thao nghiệp dư. Thể thao nghiệp dư phù hợp với tinh thần Olympic hơn. Nhưng làm việc này đòi hỏi phải tận tụy, có tinh thần hiến dâng – vì thế, tôi nhắc nhở những người làm điện ảnh phải gian khổ đấu tranh; người chiếu phim càng phải có tinh thần này. Hồi cắm đội tôi hay giao du với người chiếu phim nên rất hiểu việc này. Lúc đó tôi đánh xe bò trong đội, vào mùa hạn, cứ mười ngày nửa tháng lại phải đi đón người chiếu phim một lần, thành ra rất thân thiết với họ... Có một bác thợ tốt bụng, đẫy đà phụ trách đội của chúng tôi, bác ấy rất hay nói, đáng tiếc là tôi đã quên tên rồi. Tôi không chỉ đón bác ấy mà còn phải đón cả thiết bị nữa. Những thiết bị này không chỉ có máy chiếu, mà còn có cả máy phát điện chạy xăng đựng trong một chiếc thùng sắt. Nhờ vậy mà bác ấy không phải dùng máy đạp chân để phát điện. Khi đánh xe bò quay về, tôi bày tỏ sự ngưỡng mộ với công việc của bác ấy: thử nghĩ mà xem, bác ấy không phải xuống đồng, tránh được gió táp nắng thiêu, lại có máy móc để dùng, đỡ được đôi chân, chẳng phải là nhàn nhã lắm sao. Thế nhưng bác ấy nói, tôi nói nghe thì nhẹ nhàng thế thôi chứ không biết người chiếu phim gánh vác trách nhiệm lớn thế nào đâu. Chưa nói gì khác, phim đang chiếu trên màn bạc, vạn nhất mà chiếu ngược đầu xuống dưới thì có thể làm người ta toát mồ hôi hột. Giả sử trên màn hình có lãnh tụ vĩ đại, thì chỉ còn nước quỳ xuống trước mặt công chúng, tự vả miệng mình lia lịa, xin toàn thể quần chúng cách mạng tha thứ. Được tha thứ thì còn may, nếu không được tha thứ, bị tố cáo lên trên thì phải vào "nhà đá" – chuyện thế này là có, mà còn xảy ra thường xuyên nữa. Cũng không hiểu sao, người chiếu phim càng sợ thì càng dễ xảy ra chuyện. Bác ấy bảo chiếu phim còn khổ hơn cả xuống đồng làm ruộng. Đây là sự kiện đặc biệt trong thời đại đặc biệt, chẳng có ý nghĩa phổ quát gì. Nhưng bác ấy còn nói: công tác tuyên truyền không dễ làm – điều này thì lại có ý nghĩa phổ quát. Lấy việc chiếu phim làm ví dụ nhé, nếu bạn chiếu phim thương mại mà chiếu hỏng thì là do bạn không tận tụy; nếu bộ phim này có ý nghĩa chính trị mà chiếu hỏng thì ngoài việc không tận tụy còn phải cộng thêm một vấn đề chính trị nữa. Người chiếu phim là thế, người quay phim lại càng như vậy. Vấn đề này quá rõ ràng, tôi không nói thêm nữa.
Công việc càng khó làm thì càng phải làm, nên có tinh thần đó. Bác thợ mà tôi đón chính là người như vậy. Bác ấy chiếu phim cho chúng tôi, không hề có thù lao, càng không nói đến chuyện phong bì. Chúng tôi chỉ lo cơm nước cho bác ấy, ăn ngay tại nhà ăn của chúng tôi. Chuyện này nói ra thì thật cao cả, thực tế thì chẳng cao cả đến thế. Nơi tôi ở là một nông trường quốc doanh, bác ấy là người của đội điện ảnh nông trường, mọi người cùng trong một hệ thống, chẳng có gì khách sáo. Vừa đi bác ấy vừa hỏi thăm cơm nước của đội chúng tôi thế nào. Đây không phải hỏi bâng quơ đâu: chúng tôi tuy là nông trường nhưng chẳng có tài sản gì, lấy hai bàn tay mà cày cấy, tự trồng tự ăn, không khác gì nông dân. Hồi đó đất đai canh tác rất kém, tôi đành thú thật là cơm canh rất tệ. Trồng ít lạc thì bị bệnh hại, chết sạch cả, đã một năm không có dầu ăn. Bác ấy hỏi tôi có rau ăn không, tôi bảo có. Bác ấy bảo, thế còn đỡ. Có đội rau cỏ bị thiên tai, đến rau cũng không có, chỉ đành lấy nước đậu làm canh. Bác ấy đã ăn mấy bữa nước đậu rồi, không muốn ăn nữa. Ở chỗ chúng tôi có một thói hư tật xấu, gọi là "nhìn người mà dọn cỗ". Thủ trưởng xuống thị sát thì không nói làm gì, ngay cả thú y đến thiến bò cũng đãi món trứng ốp la. Thế mà người chiếu phim đến thì chẳng có chiêu đãi gì. Tôi cũng không hiểu tại sao.
Tôi kể câu chuyện này là muốn nói rằng, làm công tác điện ảnh phải gian khổ đấu tranh. Không thù lao không gọi là gian khổ đấu tranh, không dầu ăn không gọi là gian khổ đấu tranh, cái sự gian khổ thực sự sắp sửa kể tới đây. Quay lại đội, giúp bác ấy dỡ đồ đạc xuống, tôi liền đi xuống bếp – ngoài việc đánh xe bò, tôi còn phải phụ bếp. Hôm đó cũng như mọi khi, ăn hẹ trộn. Vì không có dầu nên chỉ có cách ăn này. Khi tôi đến bếp, món này đã được chuẩn bị xong, tôi bèn phụ giúp chia cơm chia thức ăn. Khi người chiếu phim quen thuộc kia đến, tôi còn mạnh tay gắp cho bác ấy hai thìa hẹ, cho bác ấy ăn nhiều một chút. Sau đó tôi cũng thu dọn đồ đạc, chuẩn bị đóng hàng; đúng lúc này, bác chiếu phim hớt hải lao vào từ bên ngoài, tay phải bóp chặt cổ mình, lưỡi thè ra một nửa, trông chẳng khác gì con quỷ treo cổ. Tất nhiên, bác ấy còn tay trái: bàn tay này giơ cái bát cơm lên cho tôi xem – trong hẹ có một mẩu báo cũ. Theo tôi thấy thì việc này cũng chẳng có gì. Bác ấy hỏi tôi: hẹ đã rửa chưa, tôi bảo rửa thì chắc là đã rửa rồi, nhưng không đảm bảo là rửa kỹ. Nhưng bác ấy lại hỏi tiếp: hẹ của đội các cậu có phải dùng phân người để tưới không? Tôi bảo: chắc cũng chẳng dùng thứ gì khác để tưới đâu... Lúc này tôi mới sực nhớ ra, đây có lẽ là báo cũ của văn phòng đội. Báo cũ chỉ cần không có ảnh lãnh đạo là có người xé đi để tiện đi vệ sinh, báo chí liền lẫn với phân – nghĩ tới đây, tôi cũng thấy buồn nôn, bữa hẹ đó tôi cũng không ăn nữa. Điều đáng khâm phục là, người anh em này nôn khan một hồi rồi lại đi chiếu phim tiếp. Sau này lại đến đội chúng tôi chiếu phim, bác ấy đều tự mang cơm theo, có khi không kịp mang cơm thì đứng ở chỗ lộng gió, há to miệng nói: tôi uống chút gió tây bắc là no rồi – bác ấy còn có chút khiếu hài hước. Cần phải nói rõ là, người rửa hẹ không phải là tôi; nếu là tôi rửa thì cầu cho tôi chết không toàn thây. Những chuyện này đều là do tôi tận mắt chứng kiến, đồng chí chiếu phim nơm nớp lo sợ, ăn phải mẩu giấy trong hẹ, uống gió tây bắc qua ngày, đây chính là câu chuyện về gian khổ đấu tranh. So sánh mà xem, giám đốc rạp chiếu phim ngày nay, chỉ chăm chăm muốn chiếu phim thương mại, theo đuổi hiệu ích kinh tế, không để hiệu ích xã hội, công tác tuyên truyền vào trong lòng, chẳng phải đáng xấu hổ sao! Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chỉ uống gió tây bắc làm sao no bụng được, việc này còn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng.
Phim thương mại và phim nghệ thuật. Năm ngoái, mười bộ phim bom tấn của Hollywood được công chiếu tại Trung Quốc, tạo nên một cơn sốt không nhỏ. Những thể loại phim này khi ở Mỹ tôi đã xem không ít, nhưng tôi hoàn toàn không phải là một kẻ mê điện ảnh. Hồi mới đến Mỹ tiếng Anh chưa tốt, tôi xem phim để học tiếng Anh – ngoài xem ở rạp còn thuê băng, xem trên truyền hình cáp, trước sau cũng xem chừng cả ngàn bộ. Xem nhiều phim rồi thì sẽ phân biệt được hay dở; nhưng tôi là một trí thức Trung Quốc, không mua cái kiểu sáo rỗng của phim Hollywood, cũng không hùa theo văn hóa Mỹ, đánh giá phim tôi có một tiêu chuẩn khác. Thực tế, tất cả những người có văn hóa trên thế giới khi đánh giá phim Mỹ, tiêu chuẩn đều gần giống tôi. Dùng tiêu chuẩn này để nhìn mười bộ bom tấn kia, thì chỉ là vài bộ phim thương mại không tồi, chứ chưa bàn đến chuyện hay. Trong phim Mỹ có một số phim nghệ thuật thực sự hay, chứ không phải như thế này.
Là một người có văn hóa, tôi cho rằng điểm đáng ngán nhất của phim thương mại Hollywood là rơi vào lối mòn. Phim thập niên năm sáu mươi cứ hở ra là há mồm ca hát, nhấc chân nhảy nhót, hát là những bài không giai điệu, nhảy là điệu nhảy vòi rồng kiểu chó đái. Tôi xem phim Hollywood cứ thấy nam nữ chính há mồm hay nhấc chân là người nổi gai ốc, run cầm cập; có thể bạn không có phản ứng tương tự, đó là vì bạn không xem nhiều như tôi. Đến thập niên bảy mươi, phim miền Tây thịnh hành, chẳng qua chỉ là tay cao bồi rút súng ra bắn, toàn bộ tình tiết như một người bạn Mỹ của tôi đã đúc kết: "Kill everybody" – giết sạch tất cả mọi người. Đến khi khán giả thấy cao bồi, súng lục là phát chán, thì mới đổi sang lối mòn lớn nhất hiện nay, tức là thứ chúng ta đang xem: nổ nhà, đâm xe; cứ diễn mãi đến khi bạn thấy nổ tung là nổi gai ốc, mới chịu đổi sang thứ khác. Ngoài cháy nổ ra còn rất nhiều lối mòn khác. Nói thật, tôi thực sự hơi khâm phục cái sự trơ trẽn của các nhà làm phim Mỹ khi chế tạo ra những lối mòn này. Lấy ví dụ, có bộ phim Mỹ tên là "Rocky", ban đầu là một bộ phim nghệ thuật, kể về một người nhập cư nghèo, cuộc sống như đầm nước tù đọng – phong cách tự sự của nó giống như thứ nhạc blues quái đản, rất chất. Có tay quyền vương chọn đối thủ, chọn trúng cậu ta, đó là vì tên cậu ta là "Rocky", trong tiếng Anh nghĩa là "kẻ chịu đòn"... Bộ phim này có lẽ bạn đã xem rồi, quái gở, khá thú vị. Tôi đánh giá nó không thấp. Nếu chỉ quay một tập, nó sẽ để lại ấn tượng rất tốt, người khác cũng thích xem. Khốn nỗi mấy gã ngốc thích xem cảnh đấm đá trong phim, thế là có mấy tên thương gia khốn kiếp quay tiếp tập này qua tập khác, ngoài đấm và bị đấm ra, chẳng còn gì khác nữa. Lúc tôi rời Mỹ hình như đã quay đến "Rocky 7" hoặc "Rocky 8", tới mức độ này thì không phải là phim nữa, căn bản chính là phân.
Xem phim thương mại Hollywood nhiều rồi sẽ liên tưởng đến "nước Trực Tràng" trong "Kính Hoa Duyên". Người ở đó chức năng tiêu hóa kém, một bữa cơm ăn vào, từ dưới đi ra vẫn là một bữa cơm. Để tránh lãng phí, đành phải ăn lại một lần nữa (trước khi ăn lại lần nữa, có thể sẽ quay lại chảo, thêm chút dầu thơm, mì chính). Cho đến ba lần năm lượt, cơm không ra cơm mà giống như phân, mới đổi cơm mới. Ví dụ này có phần hơi kinh tởm, nhưng tôi không nghĩ ra ví dụ nào hay hơn. Các nhà làm phim Hollywood chính là đầu bếp của nước Trực Tràng, khán giả Mỹ chính là thực khách của nước Trực Tràng. Nhân tiện nói một câu, phim nội địa cũng có lối mòn, hơn nữa chúng ta đã sớm xem đến phát ngán... Chủ đề này đến đây là dừng, kẻo mọi người lại buồn nôn. Nói một lời công đạo, mười bộ bom tấn này có không ít ưu điểm, kỹ xảo rất xuất sắc, diễn viên cũng đóng đạt, mặc dù nói cho cùng, cũng chỉ là vài lối mòn thương mại, nhưng khán giả Trung Quốc mới ăn lần đầu, cảm giác vẫn còn rất ngon; cứ phải xem thêm vài lần nữa mới thấy vị không đúng.
Tôi đã nói, Mỹ cũng có phim nghệ thuật hay. Ví dụ như, bộ phim do Warren Beatty tự sản xuất, tự đóng chính khi còn trẻ rất hay. Trong đó có một bộ là "Reds", khán giả Trung Quốc dù chưa xem thì chắc cũng có nghe qua. Ví dụ khác như phim của Woody Allen, từ "Bananas" hồi đầu, đến "Hannah and Her Sisters" sau này, đều rất hay. Sự khác biệt giữa phim nghệ thuật và phim thương mại nằm ở chỗ không phải là lối mòn. Ai dám nói "The Last Emperor" là lối mòn? Ai dám nói "Once Upon a Time in America" là lối mòn? Mỹ sản xuất không ít phim nghệ thuật thực thụ, chỉ là so với lượng phim thương mại sản xuất ồ ạt thì có vẻ ít hơn một chút mà thôi. Tuy nhiên, chính số lượng phim ít ỏi này mới là sức sống thực sự của điện ảnh Mỹ. Người làm điện ảnh Mỹ đều tự nói rằng, ngoài một số ít tinh phẩm nghệ thuật, Hollywood sản xuất rác. Lý do sản xuất rác là: rác có thể bán ra tiền, tinh phẩm không bán được tiền. "Once Upon a Time in America", "The Last Emperor" từ lúc lên kế hoạch đến khi quay xong đều mất mấy năm. Cứ quay phim như thế mãi thì nhà làm phim chỉ có nước nhảy lầu... Đã vậy sao người Mỹ vẫn quay phim nghệ thuật? Đây là câu hỏi thú vị nhất. Tôi cho rằng, không có phim nghệ thuật hay thì không có phim thương mại hay. Đồ tốt phải xào đi xào lại vài lần mới thành lối mòn, rác rưởi văn hóa chính là những mảnh vụn của tinh phẩm. Nếu không có ai đầu tư làm phim nghệ thuật thực thụ, thì Hollywood bây giờ chắc vẫn đang nhảy điệu nhảy vòi rồng kiểu chó đái; khiến cho những khán giả ít học nhất, kém thẩm mỹ nhất xem xong cũng phát sốt rét. Dù sao đi nữa, nghệ thuật chân chính mới là thứ tốt nhất trên đời. Tôi rất tán thành việc nhập mười bộ bom tấn năm ngoái, vì năm trước đó đến mười bộ bom tấn như vậy cũng không có. Nhưng tôi cảm thấy từ năm nay trở đi, nên có chút phim nghệ thuật. Ngoài ra, mắt cũng đừng chỉ nhìn chằm chằm vào Hollywood. Theo tôi biết, phim của một số nhà sản xuất độc lập ở Mỹ khá tốt, phim của châu Âu thì càng tốt hơn. Chỉ xem phim thương mại Hollywood sẽ làm người ta trở nên ngu ngốc.
Quan điểm của tôi về phim nội địa. Tôi rất ít khi ra ngoài xem phim, phim nội địa gần đây từng xem ở rạp có lẽ chỉ có "Hồng Phấn". Trong bộ phim "Hồng Phấn" này, một gã khách làng chơi, hai cô kỹ nữ, ly biệt tử biệt, diễn xuất bao nhiêu câu chuyện bi tráng; xem xong khiến người ta nổi gai ốc. Từ đó nhớ lại một bộ phim nội địa từng xem mười mấy năm trước là "Lư Sơn Luyến", nam nữ chính yêu nhau trên núi Lư Sơn, gào thét loạn xạ: "I love my motherland..." như thể Đổng Tồn Thụy giật bộc phá. Không biết người khác thấy thế nào, cảm giác của tôi là không thỏa đáng lắm. Những bộ phim không thỏa đáng kiểu này nhiều không kể xiết, xin phép không liệt kê từng cái một.
Nhà văn Nabokov từng nói, độc giả hạng nhất không phải thiên bẩm mà có, họ là được đào tạo ra. "Lư Sơn Luyến" còn được trao giải, điều này có lẽ là nhờ công lao đào tạo khán giả của biên đạo, nhưng khán giả như vậy e rằng không thể coi là hạng nhất. Cho nên chúng ta có thể sửa lời Nabokov một chút: khán giả phim ảnh hạng ba không phải thiên bẩm mà có. Họ cũng là được đào tạo ra, với tư cách là người thưởng thức, ban đầu chúng ta đều ở mức hạng hai, chỉ sau khi được đào tạo mới trở nên cực tốt hoặc cực tệ. Về mặt tệ, tôi có thể lấy một ví dụ, mấy năm gần đây, đài Trung ương thường chiếu vài bộ phim truyền hình đề tài lịch sử, phim vừa lên tivi, biên đạo liền thông qua các phương tiện truyền thông nói: nhân vật, tình tiết, đạo cụ, ca múa của bộ phim này, chúng tôi đều đã khảo cứu rồi. Tôi cảm thấy điều này thật vô nghĩa. Quái lạ là, mỗi khi chiếu phim truyền hình kiểu này, báo chí lại đầy rẫy thư của khán giả, làm những khảo cứu vụn vặt về niên đại nhân vật, tôi cũng cảm thấy thật nhạt nhẽo. Hình như biên đạo phim truyền hình đã đào tạo khán giả thành những kẻ mê khảo cứu cả rồi. Tất nhiên, cũng có một vài con cá lọt lưới, người viết chính là một trong số đó. Nhưng nhìn chung mà nói, biên đạo phim ảnh chính là Mussolini, luôn luôn có lý. Nói lương tâm mà nói, tình hình hiện tại chưa đến nỗi tệ. Trong cách mạng văn hóa mọi người chỉ xem tám vở kịch mẫu, cũng không ai nói là không tốt. Trong những năm tháng đó, cũng đào tạo ra một thế hệ khán giả chỉ biết thưởng thức kịch mẫu. Trong những năm tháng hiện tại, cũng đào tạo ra một thế hệ khán giả chỉ biết khảo cứu. Nói đến hiện trạng phim nội địa, nên cân nhắc đến sự đào tạo của biên đạo đối với khán giả.
Là một con cá lọt lưới, tôi có những cái nhìn hơi khác về phim ảnh truyền hình: Tôi muốn thưởng thức một thứ gì đó gọi là nghệ thuật trên đó. Theo nghĩa này, một số biên đạo phim nội địa đã phạm phải tội lỗi kép: một là, bản thân không thỏa đáng, hai là, đào tạo khán giả cũng trở nên không thỏa đáng. Tuy nhiên tình hình này đã thay đổi: những năm gần đây, điện ảnh Trung Quốc cũng đạt được một số thành tựu, có những bộ phim còn đạt giải quốc tế. Tôi cho rằng những bộ phim này là tốt, nhưng cũng có một chút nghi vấn: sao cứ phải thảm thiết, khổ sở thế nhỉ? Trong "Bá Vương Biệt Cơ" chặt đứt một ngón tay, trong "Cao Lương Đỏ" lột một tấm da người. Đạo diễn giỏi nhất nước ta đều đầy rẫy lòng căm thù với cơ thể con người. Nghệ sĩ cá nhân có phong cách gì cũng được, nhưng nói đến tập thể thì nên có một tiêu chuẩn khác. Lấy ví dụ, tôi cho rằng văn học Anh là tốt, từ sau Shakespeare, danh gia bối xuất; trong đó có ngài Hardy, viết ra những cuốn tiểu thuyết thảm khốc tột cùng – nhưng tiểu thuyết của ông ấy cũng là tốt. Nếu như nhà văn Anh từ sau Shakespeare toàn bộ đều là phong cách của Hardy, thì nên có một đánh giá khác: văn học Anh có vấn đề. Gần đây "Schindler's List" đại thắng, tôi nghe nói có vị đạo diễn lớn bảo: đây chính là lối diễn của chúng ta! Chúng ta cũng có thể quay những bộ phim thể hiện nỗi khổ của dân tộc này. Theo thiển ý của tôi, theo lối diễn của chúng ta thì không quay nổi bộ phim kiểu này đâu. Trừ khi làm việc bên ngoài màn bạc, thuê nhân viên rạp chiếu đóng giả lính Nhật, tay cầm kiếm lê giả nhuốm máu, theo sự tiến triển của cốt truyện mà đến đâm vào bụng chúng ta. Tất nhiên, giả sử công chiếu bộ phim như vậy, bên ngoài rạp nên treo một tấm biển: vì thế hệ sau, phụ nữ mang thai miễn vào. Dù nói vậy, tôi vẫn cho rằng Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca không tầm thường. Chứng minh cho sự không tầm thường đó là: họ đã chinh phục được khán giả nước ngoài, mà khán giả nước ngoài thì chưa hề qua sự đào tạo của biên đạo Trung Quốc. Giả sử phim truyện Trung Quốc thực sự bước ra thế giới, tình hình còn không biết sẽ thế nào.
Maupassant từng nói, cầm bút viết văn là nghĩ đến độc giả. Có độc giả nói: Hãy làm tôi cảm động đi... Ở Trung Quốc, có độc giả sẽ nói, xin hãy để chúng tôi được giáo dục. Tôi lấy ví dụ này, tất nhiên là muốn dùng Maupassant và độc giả để ví với biên đạo phim ảnh và khán giả. Độc giả nhạy cảm chắc chắn sẽ phát hiện ra điểm nực cười trong đó: tác phẩm đào tạo khẩu vị của khán giả, khẩu vị của khán giả lại quay lại ảnh hưởng đến tác giả, cứ đảo ngược, đảo xuôi thế này chắc chắn là rất vô vị. Đặc biệt là, nếu biên đạo không thỏa đáng sẽ khiến khán giả không thỏa đáng; khán giả lại yêu cầu biên đạo không thỏa đáng, cứ tiếp tục như vậy thì ai nấy đều càng lúc càng không thỏa đáng. Là bậc tiền bối đại sư, Maupassant tất nhiên biết đây là cái bẫy, nên ông không nhảy vào. Ông nói: Chỉ có thiểu số độc giả xuất chúng mới yêu cầu, xin hãy dựa vào tấm lòng mình mà viết ra những thứ thực sự tốt. Ông viết cho những độc giả đó. Tôi cũng muốn làm một khán giả xuất chúng, nên cũng yêu cầu như vậy: xin hãy dựa vào tấm lòng mình mà quay phim – nhưng, đừng lột da người nữa, cứ như thế này thì hơi không thỏa đáng. Đối với những biên đạo đã không thỏa đáng rồi thì không biết nói gì – có lẽ, nên nói đôi chút chuyện ngoài lề. Tôi trong giới phim ảnh cũng có một vài người bạn, biết quay phim khó: bên trên phải duyệt kịch bản, duyệt phim, đây là một; tìm tiền khó, đây là hai. Còn ba và bốn, không cần thiết liệt kê từng cái một, trong đó chắc chắn có một điều: trình độ khán giả thấp, tuy nhiên, tôi không biết nên trách ai. Đây chỉ là khốn cảnh nhất thời nhất địa, còn nghệ thuật là vĩnh hằng. Lúc này tại đây, nói những lời này cứ như lời người điên vậy. Nhưng tôi cứ cảm thấy mình đang rất nghiêm túc.
Tại sao Trung Quốc không có phim khoa học viễn tưởng. Vương Đồng bảo tôi trả lời một câu hỏi: tại sao Trung Quốc không có phim khoa học viễn tưởng. Thực ra, câu hỏi này nên đi hỏi đạo diễn điện ảnh mới đúng. Tôi quen một hai vị đạo diễn điện ảnh, khi gặp trực tiếp thỉnh giáo, vị đó liền lộ ra nụ cười kiểu Mona Lisa, cười đến mức tôi nổi hết da gà. Cười xong, vị đó hét lớn với tôi một tiếng: Thứ thiếu thì nhiều lắm! Đừng có giở trò này với tôi... Hét đến mức tôi ngơ ngác, không hiểu mình đã giở trò gì. Bạn bè làm điện ảnh gần đây tính tình đều không tốt, tôi cũng không hiểu tại sao.
Đã không hỏi ra được, tôi đành tự mình thử trả lời câu hỏi này. Hồi ở Mỹ, cuối tuần tôi đến cửa hàng băng đĩa thuê phim, trong ngăn "Khoa học viễn tưởng" phim khá nhiều, tên gọi là khoa học viễn tưởng, thực tế chẳng liên quan gì mấy đến khoa học. Ví dụ như, "Star Wars", đó là một bộ phim cổ tích hiện đại. Khán giả tinh ý từ trong đó có thể nhìn thấy bóng dáng của Bạch Tuyết và Robin Hood cùng hàng loạt nhân vật quen thuộc khác. Lại ví dụ như, "Jurassic Park". Đó căn bản chính là phim kinh dị. Cái gọi là khoa học viễn tưởng, chẳng qua chỉ là một đề tài đặt thời gian vào tương lai mà thôi. Tất nhiên, muốn làm thể loại phim này, một chút kiến thức khoa học luôn là không thể thiếu, vì trong các sự nghiệp của nhân loại, có một thứ luôn phát triển nhảy vọt, đó là khoa học kỹ thuật, nếu không có kiến thức khoa học thì biên kịch ra cũng không giống lắm.
Có một bộ phim Mỹ tên là "The Fly", khán giả trong nước có lẽ cũng từng xem qua, kể về một nhà khoa học nghiên cứu cách gửi con người đi qua dây cáp. Không may là, trong lúc thử gửi chính mình, trong thiết bị bị lẫn một con ruồi, sau khi gửi qua, gene của ông ta và gene của con ruồi liền trộn lẫn vào nhau, thế là chính ông ta từng chút từng chút biến thành một con ruồi lớn đầy máu me – bộ phim này xem xong rất buồn nôn, vì nó giành giải hiệu ứng xuất sắc nhất Oscar năm đó. Tôi tin người biên kịch câu chuyện này chắc chắn đã nhận được gợi ý từ câu nói này của ông Wiener: về mặt lý thuyết, con người có thể truyền qua một sợi dây điện, nhưng sự khó khăn của việc làm thế này đã vượt quá khả năng của chúng ta. Muốn có được gợi ý này, thì phải biết Wiener là ai: ông là người sáng lập thuyết điều khiển học, từng đạt giải Nobel, thời thiếu niên là một thần đồng – cứ kể lể như vậy thì chẳng bao giờ dứt. Tóm lại, muốn làm loại phim này, biên đạo không được học trường điện ảnh, mà nên học đại học tổng hợp. Cũng không cần phải học lớp khoa học tự nhiên, chỉ cần ở cùng ký túc xá với sinh viên khoa tự nhiên, nghe họ chém gió vài câu là đủ dùng rồi. Theo tôi biết, sinh viên đại học tổng hợp cũng rất hy vọng nhìn thấy sinh viên học điện ảnh trong trường. Đặc biệt là nam sinh viên khoa tự nhiên, chắc chắn hy vọng trong trường xuất hiện vài nữ sinh khoa diễn xuất... Việc này rất cần thiết. Trên màn bạc Trung Quốc cũng từng xuất hiện hình tượng nhà khoa học, nhưng đều rất không ra dáng, đó là vì người làm điện ảnh chưa từng thấy nhà khoa học bao giờ. Người đóng phim cứ cảm thấy người nếu đạt được học vị tiến sĩ thì không điên cũng khùng. Thực tế thì hoàn toàn không phải như vậy. Vợ tôi là tiến sĩ. Nếu cô ấy giống như trên phim diễn, tôi đã ly hôn với cô ấy từ lâu rồi.
Ngoài phải có chút kiến thức khoa học, làm phim khoa học viễn tưởng còn phải có chút trí tưởng tượng. Đối với nhân viên sáng tạo mà nói, đây là chỉ tiêu cứng. Thể loại phim này đặt thời gian vào tương lai, thoát ly khỏi sự ràng buộc của thực tế, điều này tạo cho biên đạo không gian phát huy tự do rất lớn – thực ra là một thử thách rất nghiêm trọng. Thật sự đi vào không gian tự do này rồi mà bạn không làm ra được thứ gì, e là hơi khó coi. Quay vài bộ phim lịch sử, phim phong tục, dù không quay tốt cũng không đến nỗi xấu hổ. Thiếu kiến thức khoa học, không có trí tưởng tượng, đây đều là những lý do khiến Trung Quốc không thể ra phim khoa học viễn tưởng – còn một lý do nữa, phim khoa học viễn tưởng muốn làm tốt thì phải làm vài cảnh quay hoành tráng, việc này cần tiền – hiện nay là giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, không có nhiều tiền đến thế. Được rồi, bây giờ tôi đã có đáp án rất đầy đủ. Nhưng nếu trả lời Vương Đồng như vậy, tôi lại cảm thấy thiếu thiếu gì đó... Tôi hỏi một người bạn đạo diễn tại sao Trung Quốc không có phim khoa học viễn tưởng, người ta liền nổi cáu. Bây giờ tôi đặt mình vào hoàn cảnh của anh ấy mà suy nghĩ: giả sử tôi muốn làm một bộ phim khoa học viễn tưởng, không có kiến thức khoa học, tôi có thể đến đại học nghe giảng. Không có trí tưởng tượng, tôi có thể uống vài ly, rồi ngồi im nhìn vách tường. Tục ngữ nói rất đúng, phân bò rơi xuống ruộng, nắng to phơi ba ngày cũng sẽ lên men, sủi bọt thôi. Mỗi ngày tôi uống hai ly, ngồi ba tiếng, năm này qua năm khác, tôi không tin là chẳng nghĩ ra được gì – kịch bản khoa học viễn tưởng hay nhất chẳng phải cũng do con người nghĩ ra sao? Làm đến cuối cùng, tôi có kịch bản tốt, lại có nhà đầu tư chịu chi tiền, còn diễn viên ư, để họ đến đại học và đơn vị nghiên cứu khoa học trải nghiệm cuộc sống, cũng rất dễ thực hiện – làm đến bước này, vấn đề lại nảy sinh: giả sử bộ phim tôi muốn làm là kiểu như "Jurassic Park". Tôi làm sao nói với cấp trên đây? Bộ phim này của tôi, ý nghĩa thực tế ở đâu? Ý nghĩa tích cực ở đâu? Tại sao tôi phải làm một bộ phim quái gở thế này? Vấn đề chủ yếu nhất là: bộ phim này của tôi phối hợp với tình hình hiện tại như thế nào? Những vấn đề này tôi một cái cũng không trả lời được, mà không trả lời được lại không xong. Nghĩ đến đây, kết luận liền ra đời: lúc đầu tôi không nên chuốc lấy cái rắc rối này cho bản thân.