Tòa soạn gửi thư mời viết "Tạp bút nơi xứ người", nhất thời không biết viết từ đâu. Như trong "Hồng Lâu Mộng" có nói, mình cũng đâu phải hạng người từng ra nước ngoài đánh quân phản loạn, bắt kẻ cầm đầu giặc cướp, mình chẳng qua chỉ là một cậu sinh viên nghèo ra nước ngoài vài năm thôi. Thế nên cứ bàn chuyện ăn mặc ở đi nơi xứ người vậy.
Lúc mới đến Mỹ, thấy nhà cao, xe cộ đông đúc, trên phố đủ loại người. Thế là một vấn đề cả đời chưa từng nghĩ tới nảy ra trong đầu: Ra ngoài đường, mặc gì cho phải đây? Tháng đầu tiên tới Mỹ, bất kể là lên lớp hay gặp giảng viên, đều ăn mặc chỉnh tề. Qua một thời gian, chính mình cũng thấy không tự nhiên. Lúc lên lớp, cả căn phòng ai nấy đều ăn mặc tùy tiện, có kẻ mặc quần đùi, có người mặc áo phông, lại có mấy đứa trẻ chê chưa đủ mát mẻ, còn lấy kéo cắt vài đường trên áo lót. Trong đó có một người mặc nghiêm túc hơn một chút, chắc chắn là giáo sư. Thỉnh thoảng cũng có một vài người ăn mặc bảnh bao hơn cả giáo sư, chắc chắn là người Nhật. Cái kiểu comple giày da đó của người Nhật cũng là một phong cách, nhưng bắt buộc phải phối với vóc dáng thấp lùn, kính cận thì mới thuận mắt. Chúng ta muốn bắt chước người Nhật, thứ nhất chiều cao một mét năm không làm được, thứ hai chúng ta hà cớ gì phải bắt chước họ. Cho nên về sau ăn mặc cũng tùy tiện hẳn.
Ở Mỹ, có một số dịp không thể ăn mặc tùy tiện, chẳng hạn như lễ kỷ niệm trường và tiệc Lễ Tạ ơn. Lúc này mặc trang phục dân tộc là chỉnh tề nhất. Nam sinh các nước Ả Rập và châu Phi khoác áo rộng tay dài, nhìn vào khiến người ta kính nể. Nữ sinh Ấn Độ và Bangladesh mặc đồ ngũ sắc rực rỡ, ai nấy đều xúng xính điệu đà. Nữ sinh Trung Quốc vóc dáng đẹp mặc sườn xám, quả thực rất đẹp. Nam giới thì chẳng biết mặc gì cho hay. Lúc này tôi nhớ tới bộ đồng phục vải xanh từng mặc trước kia, hối hận sao không mang vài bộ sang Mỹ.
Về sau có một người Ấn Độ từ Đại học Oxford chuyển tới, gặp vị sư huynh người Ấn này mới biết thế nào gọi là ăn mặc bảnh bao. Anh ta cao tầm hai mét, luôn quấn khăn trên đầu, mặc bộ đồng phục cổ đứng gần giống như Tôn Trung Sơn trang, bất kể đi đâu, lúc nào cũng cầm thứ gì đó, vừa đi vừa ăn, chốn không người. Nữ sinh người Mỹ trong khoa ai cũng bảo anh ta rất sexy (gợi cảm). Có lần đang học giữa chừng, chợt nghe phía sau một tiếng nổ lớn. Quay đầu nhìn lại, hóa ra là anh ta cắn đứt một nửa quả táo. Thấy mọi người đều nhìn mình, anh ta liền giơ nửa quả táo lên nói: "May I?" (Có được không?). Người xem ngược lại thấy ngại ngùng.
Về mặt ăn mặc, tôi cũng từng có kinh nghiệm thành công. Có năm mùa đông ngoài trời tuyết rơi, tôi sợ lạnh, đội chiếc mũ lông cừu, khoác chiếc áo khoác ngắn kiểu áo mưa quân đội, đi đôi ủng da to tướng chạy ra ngoài. Người đi đường đều nhìn tôi bằng ánh mắt kính sợ. Đi đến ngân hàng, thế mà có một quý bà mở cửa giúp tôi. Đến trường, một giáo sư người Hoa quen biết nói với tôi: "Ông Vương, oai phong lẫm liệt quá". Tôi vội vàng tìm gương soi, phát hiện ra mình một nửa giống Tướng quân Patton, một nửa giống kỵ binh Cossack. Nhưng sau đó không dám mặc như vậy nữa, vì trên đường có bãi đỗ xe, gã trông xe cứ hay dây dưa với tôi, muốn lấy chiếc mũ len nhăn nhúm của gã đổi lấy mũ của tôi.
Một gã đàn ông to xác như tôi thế mà lại bàn chuyện ăn mặc, tất nhiên là có nguyên do.
Ăn mặc liên quan đến một trải nghiệm đau lòng của tôi. Có năm mùa hè, trong tay có chút tiền, vợ chồng chúng tôi đi chơi châu Âu, từ Nam Âu vòng sang Bắc Âu, đến tận phố phường Heidelberg ở Đức, sáng sớm gặp một đoàn gì đó từ trong nước sang ngay bên cạnh đài phun nước. Gặp người quen nơi đất khách, trong lòng thấy rất khó chịu. Những đồng chí đó có hơn chục người, túm tụm lại một chỗ, tay phải nắm chặt lấy vali da, đang dáo dác nhìn quanh, trên người ai nấy đều là đồ mới toanh, nhìn là biết được cấp tiền may trang phục, nhưng rất khó coi. Trước tiên, cả đám người đông đúc thế kia mà ai cũng mặc bộ vest màu nâu sẫm giống hệt nhau, tình cảnh này thật hiếm thấy. Thứ hai, quần ai cũng quá rộng, đũng quần gần chạm đầu gối. Chỉ có một cô phiên dịch không mặc loại quần đó, nhưng tất trên chân lại nhăn nheo, trông như mắc bệnh ngoài da. Hơn nữa, Đức Quốc xã sớm đã bị Hồng quân Liên Xô tiêu diệt rồi, mọi người đừng căng thẳng quá chứ. Người Đức lại là kiểu người cười trong bụng, thấy chúng tôi, ai nấy đều để lộ nụ cười bí hiểm kiểu Mona Lisa. Tôi nhìn thấy mà tức đến mức đau cả trán.
Thật ra nếu chúng ta không phải ai cũng có công cán cực kỳ quan trọng, thì ai mà thèm đến chỗ các người để chịu cái tội này? Sau khi mắng chửi lũ quỷ Tây xong, chúng ta cũng phải thừa nhận, ngày nay ở các thành phố lớn trên thế giới đều có đủ loại người từ khắp nơi đổ về, trong đó người đi công tác từ trong nước sang là bắt mắt nhất, chẳng giống ai cả, mang một khí chất kỳ quặc, khó mà tả nổi. Đến nỗi giữa phố phường Hồng Kông đầy người Trung Quốc, ai cũng có thể nhận ra ngay ông chú từ Đại lục sang. Ở đây tất nhiên có vấn đề về ăn mặc, nghĩ ra cách gì thay đổi một chút thì tốt biết mấy.
Đến nước ngoài đã ăn qua đủ thứ, trong đó có vài món rất khó ăn. Người Trung Quốc nếu chú trọng chuyện ăn uống, thì trước khi ra nước ngoài phải chuẩn bị tinh thần chút ít. Chẳng hạn như, người Mỹ mời khách ăn thịt nướng, món thịt đó cơ bản là màu đỏ. Ăn xong tôi cứ muốn lè lưỡi ra, tưởng mình là chó sói xám. Còn món salad rau sống của họ, chẳng qua chỉ là mấy lá rau diếp xé nham nhở. Tiền bối lão làng trong giới văn học là Lương Thực Thu có cảm tưởng sau khi ăn như sau: "Đây chẳng phải là nuôi thỏ sao?". Tất nhiên, ở một nơi lâu ngày sẽ phát hiện ra món nào có thể ăn được. Ở Mỹ một hai năm thì biết thịt băm, gà nướng trong tiệm đồ ăn nhanh chúng ta đều ăn được. Nếu là bánh pizza bán ở Mỹ thì lại càng không thành vấn đề. Nhưng rời Mỹ là ngẩn ngơ ngay. Khi đi chơi châu Âu, tôi từng mua cơm trộn salad ở Pháp, phát hiện ra đó là gạo sống ngâm giấm, hoàn toàn không nuốt nổi. Ở Ý lại mua bánh pizza, thấy cái thì quá chua, cái thì quá tanh, tuy có thể ăn nhưng mùi vị hoàn toàn không đúng. Quan trọng nhất là lớp phô mai nóng chảy thơm ngon trên mặt pizza đều mất sạch, chỉ còn lại tương cà, lại còn thêm một loại cá muối nhỏ. Về sau chúng tôi đi ăn cơm Trung Quốc. Mua một phần cơm rang ở một quán cơm Trung Quốc ngoài thị trấn Cambridge, đống cơm đó thực sự là "ném xuống đất kêu cành cạch". Sau này tôi viết thư cho anh trai, nhắc đến những đống cơm đó, bảo rằng có thể nhồi vào súng săn để đi bắn vịt trời. Những quán cơm kiểu đó biển hiệu tuy là chữ Hán nhưng bên trong ngoài không tìm thấy một người Trung Quốc nào.
Chuyện này không có gì mới lạ, gần nơi tôi ở bên Mỹ có một quán cơm tên là Trúc Viên, cứ thay chủ mãi. Có dạo chủ là người Thái Lan, đầu bếp là người Myanmar, biển hiệu vẫn là Trúc Viên, nhưng xào rau không bỏ dầu, chỉ bỏ nước. Ở Mỹ tôi biết những nơi như vậy, tuyệt đối không bước chân vào. Tất nhiên, bảo rằng tôi sẽ chết đói ở châu Âu thì tất nhiên là sai rồi. Sau đó tôi mua một ít thịt nướng bán theo cân, lấy bia trôi xuống, suốt ngày say lướt khướt. Đợi đến khi từ châu Âu quay về Mỹ, đã gầy đi không ít, khóe miệng còn cứ nóng rát, xem ra là thiếu vitamin. Chúng ta người Trung Quốc đi bất cứ đâu, mấy gói mì ăn liền trong ba lô đều là thứ không thể thiếu. Một người bạn bảo tôi rằng, nếu không có mì ăn liền, cậu ấy đã chết đói trên chuyến tàu từ Bắc Kinh đi Moscow rồi.
Theo tôi được biết, Khổng Phu Tử nếu bây giờ ra nước ngoài thì chắc chắn sẽ chết đói, Ngài "cát bất chính bất thực" (cắt không ngay ngắn thì không ăn), nhưng người Mỹ khi nướng thịt thì không cắt, muốn cắt phải cắt trên bàn. Mà những con dao ăn đó nhẹ bẫng, muốn dùng chúng cắt cho ngay ngắn thì không khả thi cho lắm. Ngài ăn cơm phải có nước chấm ngon dùng kèm. Nơi tôi ở có một quán ăn Trung Quốc tên là Bắc Kinh Lâu, bán vịt quay Bắc Kinh. Bạn có biết họ dùng loại nước chấm gì để phết lên vịt quay không? Mứt dâu tây. Họ còn dùng chả giò chấm mứt táo để ăn. Chính cái kiểu ăn uống khó hiểu này mà người nước ngoài vẫn khen ngon chết đi được.
Khổng Phu Tử nếu muốn ra nước ngoài, nếu không mang theo đầu bếp thì nhất định phải học cách ăn ketchup, đây là loại nước chấm ngon nhất mà người Mỹ có thể làm ra. Loại tương cà này dùng để phết lên hamburger, đựng trong túi nhựa nhỏ. Trong tiệm McDonald's nhiều lắm, lại còn không mất tiền. Mỗi lần tôi đi ăn đều tiện tay chộp lấy một nắm lớn, mang về phết lên món khác ăn. Ngài còn phải học cách "cát bất chính tựu thực" (cắt không ngay ngắn thì cũng cứ ăn thôi), đó là vì dao làm bếp kiểu Mỹ không có độ sắc bén (có lẽ là sợ cắt vào người), cắt thịt lúc nào cũng vặn vẹo.
Giả sử chúng ta người Trung Quốc không yêu cầu nhất định phải cắt thức ăn thật vụn, nấu thật chín, và nêm nếm gia vị thật chuẩn, thì đi đâu cũng được cả. Ngoài ra còn có thể béo tốt, vạm vỡ. Tất nhiên, đến cái nơi mà cánh gà còn rẻ hơn rau cải thảo thì ai trên người cũng sẽ mọc thêm chút thịt. Tôi ở bên đó cũng nặng chín mươi cân, nhưng thế này vẫn còn kém xa. Trên đường phố luôn có mấy anh chàng da đen, bất kể xuân hạ thu đông, chỉ mặc áo ba lỗ, đứng đó biểu diễn cơ bắp. Gặp họ tốt nhất là tin đó là những người tốt đam mê thể thao, nếu không thì đành phải đi đường vòng thôi.
Nếu bạn cho rằng kiểu thịt sống rau sống này chỉ hợp với người trẻ tuổi, không phải đạo kính lão, thì bạn lầm rồi. Hàng xóm của tôi có một ông lão, làm nghề vẽ biển quảng cáo, râu ria đen sì sì, mặc quần ống bó chạy qua chạy lại, thấy cô gái đẹp còn thích tỏ vẻ ân cần. Sau đó ông bảo với tôi là ông bảy mươi tuổi rồi. Trong lớp tôi còn có một bà lão người Mỹ bảy mươi lăm tuổi, cực kỳ năng động, đi đâu cũng thấy bà ấy. Có lần đi xem dàn hợp xướng của trường tập luyện, bà ấy đứng giữa hàng đầu trên sân khấu. Nhưng hôm đó bà ấy lấy tay che miệng lùi khỏi sân khấu, hóa ra lúc cất tiếng hát vang đã làm rơi hàm răng giả ra ngoài, bị người hàng thứ ba dưới sân khấu nhặt được. Dù sao đi nữa, tinh thần người già ở Mỹ thực sự rất tốt, bố mẹ tôi không sánh bằng được.
Nếu bạn nói thuật nấu nướng không thể quyết định tất cả, ăn rốt cuộc là thứ gì cũng có mối liên hệ lớn, điều này thì tôi đồng ý. Ngoài ra, sự sống còn nằm ở vận động. Trước khi về nước nửa năm, tôi tập luyện rất gắt gao. Đội nắng đi chạy bộ, đến công viên chống đẩy. Thế nên lúc về nước, trộn lẫn giữa những vị "thủ trưởng" và thầy cô đi khảo sát, đào tạo ngắn hạn (dài hạn ít khi có người về), trông tôi vừa đen vừa khỏe. Kết quả là lúc qua cửa hải quan họ bắt tôi đợi, để người khác qua trước. Ngoài ra còn xô tôi một cái, bảo rằng đi lao động nước ngoài mà chút quy củ cũng không có. Lúc đó tôi xấu hổ lắm. Giờ đây tôi "thực bất yếm tinh,Khoái bất yếm tế" (ăn không chán đồ tinh, thái không chán đồ mảnh), tránh gió tránh nắng dưỡng thân hơn ba năm, mới xem như có dáng vẻ tri thức một chút.
Đều là ở trong nhà, đây là đạo lý không đổi. Là người thế nào thì sẽ ở nhà thế đó, e rằng có người cảm nhận không sâu sắc được như vậy, đây là vì nhà là do người tạo ra, cũng là do người ở. Ở Mỹ, có người ở trong apartment (căn hộ), có người ở trong house (nhà riêng), hai thứ này rất khác nhau. Apartment là tòa nhà căn hộ trong thành phố, hơi giống nhà tập thể của chúng ta. Khác ở chỗ hành lang trải thảm đỏ, sảnh vào có nhân viên quản lý ngồi. Tòa nhà chỉnh tề hơn một chút, chẳng hạn như tòa căn hộ trên đại lộ số 5 (Fifth Avenue) ở New York, trước cửa sẽ có một ông cụ bảnh bao mặc đồng phục đỏ mở cửa xe cho khách. Nơi như vậy tôi chưa từng tới, vì không quen người bên trong. Nhìn vào xe cộ thì chắc chắn là những tay nhà giàu rồi. Lại có chuyện trước cửa có sân tennis, trên nóc tòa nhà có bể bơi. Nhưng điều này cũng chẳng giải thích được gì, chỉ giải thích được là có tiền – người xây nhà tốn tiền, người ở nhà càng lắm tiền hơn. Tiền bạc thứ này, tương lai chúng ta sẽ có, tôi rất tin tưởng vào điều đó. Lại có chuyện trên ban công không chất đống những thứ rác rưởi đó – gỗ vụn, bìa các tông, ống khói hỏng v.v., điều này giải thích được gì thì tôi cũng không biết. Có lần một cô bạn người Pháp quen biết chỉ vào những thứ "chướng tai gai mắt" trên ban công ở Bắc Kinh mà rằng: "Bắc Kinh cũng là một thành phố lớn, mấy tòa nhà này xây cũng không tệ, người ở đây lẽ ra phải rất đàng hoàng. Sao mấy căn nhà này lại làm như khu ổ chuột vậy?". Tôi không tiếp lời cô ấy. Nhắc đến apartment, tôi lại nhớ tới những tòa nhà ở trung tâm Paris. Trong đó chưa hẳn là căn hộ, nhưng trông hơi giống tòa nhà căn hộ. Xây bằng đá xám trắng, mái lợp chì, lan can cửa sổ sắt chạm trổ, phía trước là con đường lát đá. Rốt cuộc hay ở chỗ nào thì không nói ra được, nhưng quả thực là đẹp. Dựa vào đó bạn có thể nói, Paris là một cổ thành, là kinh đô ánh sáng vô song. Bắc Kinh vốn cũng là một cổ đô vô song, sự quyến rũ của nó nằm ở tường thành. Ở Mỹ gặp một vị giáo sĩ già, ông ấy sống ở Trung Quốc nhiều năm, vừa thấy tôi đã hỏi về tường thành Bắc Kinh. Tôi bảo ông ấy đã phá rồi, ông ấy liền lộ ra dáng vẻ không muốn sống nữa. Còn về house, đó là một căn nhà ở ngoại ô hoặc thôn quê, hoặc là một tầng, hoặc là hai tầng, bên trong ở một gia đình, từ house này mang nghĩa là gia đình. Nhưng không có tường bao quanh. Tôi cam đoan với bạn, giả sử trước cửa cỏ xanh mướt, sau nhà lại có vài cây đại thụ, thì thứ như tường bao quanh lại vô cùng đáng ghét. Không những cản trở người khác ngắm hoa cỏ của bạn, cũng cản trở chính mình ngắm phong cảnh. Mấy vũng bùn lầy, mấy con heo con, tất nhiên không thành phong cảnh, vẫn là không thấy thì hơn. Nhưng tôi chưa từng thấy bùn lầy và heo con gần những căn house ở nước ngoài. Tất nhiên, những thứ này ở đâu cũng có, nhưng người Âu Mỹ không muốn nó xuất hiện gần nhà. Nếu tôi hiểu đúng về tình trạng này, từ house nên dịch là "gia viên" (vườn nhà), ngoài ngôi nhà ra còn có một không gian mở. Kẻ nào xây nhà cao cửa rộng, chẳng qua chỉ là mấy gã trọc phú nông thôn mà thôi. House ở Mỹ nhất định có một thảm cỏ, lớn thì có thể tới vài trăm mẫu, nhỏ thì có thể chỉ vài mét vuông. Nhưng lớn có cái hại của lớn, vì thảm cỏ bắt buộc phải cắt; hàng xóm có một gã thực sự lười làm, bèn dùng vỏ cây vụn phủ lên, trên đó trồng vài cây la hán tùng. Như vậy trông cũng không tệ, có chút không khí rừng rậm. Tuyệt đối không ai nhổ cỏ sạch trơn, để lộ mặt đất trọc lốc, gọi là để khi mưa xuống chảy ra nước bùn. Ai muốn động thổ xây nhà, đều phải vận chuyển đá cuội đến phủ kín mặt đất bị đào xới. Đó là vì bên cạnh có house của người khác. Có người có house có ao hồ, còn có người có cả hồ nước rộng lớn của riêng mình, nước hồ múc lên không cần khử trùng là có thể uống, nhưng những chuyện này thì càng nói càng xa. Ở Mỹ cũng có nơi đất chật, xây nhà trên núi, nhưng không động vào cây cối trên núi, cũng không động vào cỏ trên núi, trồng ngôi nhà vào núi. Sau đó núi vẫn là ngọn núi đó, cây vẫn là những cái cây đó, thuộc về người, chim, thú chung, không giống như chúng ta ở đây đào bới mọi thứ lộn xộn, như một bãi tha ma. Chuyện như vậy chẳng liên quan gì đến giàu nghèo, chủ yếu xem bạn thích sống ở đâu. Tiện thể nói một câu, ở hầu hết các nơi tại Mỹ, sóc nhỏ trèo lên bệ cửa sổ là chuyện thường tình. Nhưng về mặt yêu quý gia viên, thì đám người Mỹ có đáng là gì. Người châu Âu làm cho gia viên của họ trông giống dáng vẻ hơn. House tốt nhất thế giới là ở vùng núi gần Salzburg của Áo, Hendrik Willem van Loon đã nói như vậy. Tôi cho rằng ông ấy nói có lý. Tạo nên những ngôi nhà này không phải là người giàu có gì, chẳng qua chỉ là những người nông dân vùng núi mà thôi. Tôi đi xem, thấy ngôi nhà đó xây trong rừng phong. Nhưng chuyện liên quan đến những ngôi nhà này không thể kể chi tiết, vừa kể là tôi ngứa ngáy trong lòng, muốn sang Áo mang cả rừng cây lẫn nhà cửa về nước. Chỉ có thể kể chuyện này: Tôi thấy một con đường nhỏ dẫn đến nhà nông dân bên bìa rừng, trên đường rải một loại đá vụn xốp, sạch không tì vết. Con đường đó nếu lát đá phiến hay lát thứ khác thì lại không đẹp bằng. Nhưng tôi cho rằng đồng cỏ, cối xay gió, mương rãnh, kênh đào v.v. của Hà Lan cũng là một gia viên tươi đẹp, không kém cạnh gì Áo. Heidelberg của Đức nằm bên bờ sông Neckar, trên sông có cây cầu cực kỳ đẹp. Có một thi sĩ Tây viết rằng: "Cây cầu cổ ơi, ngươi đã bao lần gánh vác ta!". Tiếp đó lại nói ông ấy muốn chết trên cầu. Bên cạnh thị trấn Cambridge có một cái ao Byron, tuy chỉ là một cái ao nhỏ của "Mộ Gia Ba" (Mudgee?), nhưng không thiếu một cọng cỏ. Đâu đâu cũng cỏ xanh mơn mởn, đâu đâu cũng cổ thụ sum suê, người ta đến nơi như vậy, liền cảm nhận được tấm lòng của người ở đây đối với môi trường này, không dám vứt lon nước bừa bãi. Mà người sinh ra ở đây cũng sẽ yêu quý từng cái cây ngọn cỏ ở đây, đào một mảng đất, di chuyển một hòn đá đều vô cùng thận trọng. Người không yêu ngôi nhà của chính mình thì không thể làm người, mà nhà thì đâu chỉ là chút không gian trong cánh cửa đó.
Chúng tôi (tôi và vợ) khi còn là sinh viên ở Mỹ, có một năm đi du lịch châu Âu, việc này cần đặt vé khứ hồi Mỹ - Âu, còn cần đặt vé tàu ở châu Âu. Việc này nói ra thì phức tạp, làm thì lại vô cùng đơn giản. Hai chúng tôi đến công ty du lịch của trường, nói rõ yêu cầu của mình, có một cô cầm ống nghe điện thoại lên nói, "Các bạn muốn vé rẻ nhất, đúng không?". Sau đó liền gọi vài cuộc điện thoại, mọi thứ đều đã đặt xong. Lúc đi ngồi máy bay của Hãng hàng không Kuwait, lúc về đến Bỉ ngồi hãng "People Express" của Mỹ, ở châu Âu dùng thẻ Eurail Pass. Chúng tôi chỉ cần đến các cơ quan du lịch ở Mỹ và châu Âu vào thời gian đã hẹn, là có thể lấy được mọi vé giấy tờ cần thiết, hoàn thành chuyến du lịch kéo dài một tháng, đi qua hơn mười quốc gia. Cách đặt vé kiểu này vẫn là phiền phức nhất, nếu chúng ta có thẻ tín dụng, thì có thể không cần đến công ty du lịch của trường, ở nhà gọi vài cuộc điện thoại là đặt được hết vé. Đây là chuyện của sáu bảy năm trước, bây giờ chắc vẫn vậy thôi.
Vợ tôi gần đây sang châu Phi dự một hội nghị quốc tế – hội nghị cụ thể là gì, đi nước nào, ở đây tôi không nói. Chủ đề hội nghị rất quan trọng, tham gia hội nghị cũng là những học giả và nhà hoạt động trình độ cao, theo nghĩa này, chất lượng hội nghị rất cao. Nhưng nếu nói về khâu tổ chức hội nghị, e rằng không thể đánh giá như vậy. Cô ấy cho rằng mình đã thực hiện một chuyến đi gian nan, tôi cũng đồng ý với cách nhìn nhận này. Trước hết, việc đến địa điểm họp đã rất không dễ dàng. Đó là vì vé máy bay khứ hồi đều do ban tổ chức hội nghị đặt, phía đó gửi đến một bản điện báo (telex), thông báo ngày bay, địa điểm đổi máy bay v.v., lại không nói là hãng hàng không nào. Gọi điện cho ban tổ chức ở châu Phi thì thế nào cũng không gọi được. Thế là cô ấy chạy khắp các hãng hàng không ở Bắc Kinh để nghe ngóng xem có tấm vé đó không, tất nhiên đối tượng nghi ngờ trọng điểm là các hãng hàng không châu Phi, nhưng không nghe ngóng được gì. Sau đó cô ấy lại gọi điện và gửi điện báo cho ban tổ chức châu Phi, vẫn là gọi không được. Nhìn từ tình hình này, sau này cô ấy có thể tham dự hội nghị đó, thuần túy là ngẫu nhiên.
Đợi đến khi cô ấy từ châu Phi trở về, kể cho tôi nghe tình hình điện thoại ở đó là thế này: Ở địa phương có điện thoại, chẳng hạn như địa điểm tổ chức hội nghị của họ – một trường đại học, có duy nhất một chiếc điện thoại trong phòng bảo vệ. Nếu có người gọi điện cho đại biểu hội nghị, về lý thuyết sẽ có một người từ phòng bảo vệ đi ra, chạy đến ký túc xá, tìm phòng của đại biểu gọi cô ấy đến nghe điện thoại, quá trình này cần khoảng một giờ, cùng lúc đó, đối phương cầm ống nghe chờ đợi. Nếu là điện thoại đường dài quốc tế thì cước điện thoại lên tới con số thiên văn. Nhưng trong phòng bảo vệ căn bản chẳng có ai chuyên trách nghe điện thoại, nên chuyện này sẽ không xảy ra. Mà điện báo gửi từ châu Phi trông giống như hoa văn do một đàn muỗi tạo ra trên trời, rất khó nhìn ra manh mối, có thể tưởng tượng điện báo gửi đến đó cũng như vậy. Điều này khiến người ngoài gần như không thể liên lạc được với họ. Như vậy có cái lợi, cũng có cái hại. Lợi là bạn sẽ không bị gọi dậy vào lúc năm giờ sáng để nghe một cuộc điện thoại do bạn trả tiền, đây là do một cậu bạn đi nghỉ mát gọi tới, cậu ta quên nộp luận văn hoặc đóng học phí, tóm lại, bạn phải chạy thay cậu ta một chuyến; hại là người bên ngoài không cách nào làm ăn với họ. Vợ tôi nói, nơi đó tuy là thủ đô của một quốc gia, nhưng lại chẳng có công thương nghiệp gì, giống như một cái chợ lớn. Tôi nghĩ điều này chẳng có gì lạ.
Chuyện tấm vé máy bay đó là thế này: Ban tổ chức đã đặt vé cho vợ tôi, nhưng lại đặt chung với người khác, và dùng tên của người khác, nên tra thế nào cũng không ra.
Cân nhắc đến thực tế Trung Quốc có hơn một tỷ dân, vợ tôi cuối cùng tìm được tấm vé này và đi châu Phi, quả thực là kỳ tích. Nhưng vì vé đến quá muộn, vắc-xin đã tiêm chưa kịp phát huy tác dụng, nên là đánh cược với nguy cơ bị dịch tả và sốt vàng da mà đi. Đến địa phương, vừa họp, vừa bôn ba vì tấm vé máy bay lượt về. Nhân viên công tác của hội nghị là những bà thím châu Phi ôn hòa dễ mến, bất kể bạn hỏi ai, họ đều bảo bạn nên đi tìm một người khác nào đó.
Nhân viên sân bay thì vĩnh viễn nói, ngày mai anh quay lại đi, vấn đề chắc chắn sẽ được giải quyết. Tất cả những ông chú bà thím này, công việc đều rất vất vả, mồ hôi nhễ nhại. Những đại biểu đến từ Á - Phi - Mỹ Latinh đó, ai nấy cũng mồ hôi nhễ nhại. Tôi không biết cuối cùng cô ấy trở về bằng cách nào, chính cô ấy cũng không biết. Là một học giả và tác giả, những trải nghiệm đủ loại đều có ích cho cô ấy, nên nếu cần thiết, cô ấy vẫn sẽ đi quốc gia đó. Nhưng nếu là một thương nhân coi thời gian là tiền bạc, e rằng sẽ không rút ra kết luận như vậy.
Vợ tôi học được một câu tiếng châu Phi, không biết là của nước nào, dù sao người châu Phi đều nghe hiểu: "Wa ya wa ya wa ya!". Nghe nói là có nghĩa là tiến bộ. "Wa ya wa ya wa ya A-phi-lợi-gia" nghĩa là: Châu Phi, tiến bộ nha. Buổi tối mọi người nhảy múa thổ dân, liền hô hào như vậy. Xem ra "Wa ya wa ya wa ya" rất cần thiết. Điều kiện liên lạc, du lịch của quốc gia chúng ta, chắc là tốt hơn các nước Đông Phi, nhưng so với trình độ tiên tiến thế giới, vẫn còn kém xa. Hãy để chúng ta cũng hô vang: Wa ya wa ya wa ya.
Ra ngoài nơi đất khách, gặp phải bọn cướp là trải nghiệm không vui vẻ nhất. Pittsburgh tuy là một thành phố khá an toàn, nhưng cũng có một số cậu bé không học hành tử tế, nên thường thấy tin tức cướp bóc trên báo. Lạ là hai năm đầu chúng tôi du học ở đó, chưa bao giờ nghe nói người Trung Quốc bị cướp. Theo tin tức đáng tin cậy, chúng tôi đều dưới sự bảo hộ của Lý Tiểu Long. Vị nhân huynh này tuy đã qua đời mấy năm rồi, nhưng phim võ thuật của anh ấy vẫn đang chiếu.
Ai cũng có thể nhìn ra chỗ lợi hại của Lý Tiểu Long – trước khi ra tay trên màn ảnh, anh ấy luôn hét lên một tiếng kỳ quái, sau đó tung một cú đá mãnh liệt. Những kẻ xấu có ý định cướp bóc nhìn thấy, liền âm thầm cắn ngón tay bảo: "Ôi mẹ ơi!". Gặp phải cú đá thế này, trong tay có súng cũng chẳng tác dụng gì. Người nước ngoài nhìn chúng ta, giống như chúng ta nhìn họ vậy, chỉ có thể nhận ra là đen, là trắng hay là vàng, sự khác biệt nhỏ nhặt nhất thời không thể cảm nhận được. Cho nên trong mắt họ, chúng ta ai nấy đều giống Lý Tiểu Long.
Tình hình này rất nhanh đã thay đổi, nguyên nhân là buổi chiêu đãi Quốc khánh năm 1984. Ngày hôm đó toàn thể lưu học sinh Trung Quốc chúng tôi xuất động, chiếm lấy đại sảnh của trường, làm sủi cảo, chả giò v.v. để chiêu đãi người Mỹ. Ăn cơm xong, người ta lại nhiệt liệt hoan nghênh chúng tôi biểu diễn tiết mục. Một cậu thanh niên khoa Công trình liền tự nguyện, nhảy lên sân khấu biểu diễn một bài "Sơ cấp Trường quyền", bảo là võ công Trung Quốc. Theo tôi thấy quyền của cậu ta đánh cũng được, trong giờ thể dục ở trường có thể đạt điểm trên bốn, nhưng so với võ công của Lý Tiểu Long, vẫn còn khoảng cách rất xa. Ngay tại chỗ tôi đã thấy trong đám đông có mấy đứa trẻ da đen bĩu môi, dường như rất không phục. Dấu hiệu này cho thấy chuyện không may rất nhanh sẽ xảy ra, sau đó nó đã thực sự xảy ra.
Trong tòa nhà của chúng tôi sống bảy tám người Trung Quốc, người đầu tiên bị cướp là tiểu Tống ở tầng dưới. Người bạn học này khác với chúng tôi, kỳ thi đại học năm 77, cậu ấy thi đỗ một lúc hai trường, một là Thể viện Thành Đô, một là Học viện Công nghiệp Đông Bắc. Cuối cùng cậu ấy học Học viện Công nghiệp Đông Bắc, nhưng cậu ấy hoàn toàn có tư cách làm vận động viên. Do đó cậu ấy khá tự phụ.
Buổi tối đến khoa làm thí nghiệm, cậu ấy hoàn toàn có thể lái xe đi, nhưng cậu ấy cứ khăng khăng đi bộ, băng qua một bãi cỏ đen ngòm, bên cạnh bãi cỏ còn có rừng cây. Chúng tôi đều khuyên cậu ấy cẩn thận một chút, cậu ấy bảo không sợ, đánh không lại thì có thể chạy. Tốc độ chạy trăm mét của người bạn này là mười một giây mấy, người bình thường không đuổi kịp. Một hôm vào lúc hơn một giờ đêm, cậu ấy chạy về nhà bảo bị cướp rồi, bọn cướp là hai người, một cao một thấp, đều là lũ trẻ da đen. Địa điểm bị cướp ở rất gần nhà, hai tên này đoán chừng vẫn chưa đi xa. Trong tòa nhà chúng tôi cũng có bốn năm người đàn ông, nghe xong đều rất phẫn nộ, quyết tâm ra ngoài tìm hai tên đó tính sổ, thậm chí còn tìm ra cả một cây gậy đánh bóng chày, muốn cầm theo. Trước lúc ra cửa tôi hỏi tiểu Tống: "Cậu chạy nhanh thế, sao không chạy đi?".
Cậu ấy nói tên cao cao đó trong tay cầm một khẩu súng lục. Mặc dù cậu ấy còn bổ sung rằng, khẩu súng đó trông không giống thật, nhưng mọi người đều cho rằng không nên mạo hiểm đi ra ngoài. Ngoài ra, còn trách tiểu Tống sao không nói sớm đối phương có súng. Mọi người cách nhà mấy vạn cây số, người nhà lại đặt kỳ vọng lớn vào chúng tôi, tuyệt đối đừng để xảy ra chuyện gì.
Qua mấy ngày, tôi cũng bị cướp. Tên cướp chỉ có một, trong tay cũng không có súng. Hắn là một thanh niên da trắng, vóc người không cao bằng tôi, thân hình không vạm vỡ bằng tôi, còn có chút ốm yếu. Đáng lẽ phải là tôi cướp nó mới đúng, nhưng tôi quả thực đã bị nó cướp. Lời giải thích duy nhất cho chuyện này là: Tôi đã bị nó cướp lúc nào không hay. Lúc đó trời vẫn chưa sáng hẳn, tôi đến công viên tập thể dục. Công viên nằm trong một thung lũng, phải đi qua một cái thang tay vịn bằng gỗ, tôi đã gặp nó ở đó. Nó nói với tôi: "Này anh bạn, cho tôi chút tiền". Tôi bảo với nó: "Tôi không mang tiền". Nó nói: "Để tôi xem ví tiền của anh". (Khốn khiếp! Mày dựa vào cái gì mà xem ví tiền của tao?) Tôi nói: "Tôi không mang ví tiền". Nó nói: "Vậy cái thứ lùm lùm trong túi của anh là cái gì?" (Vô lý hết chỗ nói, mày quản được à?) Tôi nói, đó là một bao thuốc lá. Nó nói: "Tao chính là muốn xin mày một điếu thuốc". Tôi liền đưa thuốc cho nó, nhân cơ hội này nó cũng nhìn túi quần tôi, bên trong quả nhiên không có ví tiền. Chia tay xong chạy được hơn trăm mét, tôi mới nghĩ ra đây là bị cướp. Tiện thể nói một câu, những lời trong ngoặc đơn đều là tôi sau này mới nghĩ ra. Lúc đó tôi rất béo, tất cả thắt lưng đều không dùng được nữa, đang chạy bộ giảm béo, nên tâm trí không để chỗ khác. Tất nhiên, bạn cứ khăng khăng nói tôi nhát gan, không dám la hét, thì tôi cũng không còn gì để nói. Sau này mới biết, trong công viên đó có người bán ma túy. Cho nên tên tôi gặp mười phần tám chín là lên cơn nghiện, muốn tìm tôi xin tiền mua chút cần sa để thỏa mãn cơn nghiện. Lại có người nói, gặp loại tên nghiện đang lên cơn đó, tốt nhất là cho nó chút tiền, nếu không nó sẽ đâm bạn một dao, hoặc cắn bạn một cái. Tôi nghĩ chuyện này cũng không phải đùa, nên về sau tôi chạy bộ buổi sáng đều tránh xa cái công viên đó.
Sau đó có một dạo, những kẻ xấu ở Pittsburgh chuyên cướp người Trung Quốc, vì chúng nghe nói sinh viên Trung Quốc không có thẻ tín dụng, trên người lúc nào cũng có tiền mặt. Người bị cướp càng ngày càng nhiều, một người anh em ở khoa Công trình khi bị cướp, còn muốn giảng cho bọn cướp về lý tưởng, nhân sinh các kiểu, định làm công tác cảm hóa, kết quả bị người ta đấm cho một phát, mồm miệng méo xệch. Nhưng đám người đó chưa bao giờ cướp nữ sinh, điều này chứng tỏ "đạo tặc cũng có đạo". Nhưng sau đó xuất hiện ngoại lệ, người bị cướp là tiểu Hạ ở khoa Y, cô ấy là đóa hoa xinh đẹp nhất của Pittsburgh, niềm kiêu hãnh của người Trung Quốc, nghĩa là, cô ấy đẹp cực kỳ. Quá trình chuyện này theo lời cô ấy kể lại là thế này: Tối hôm đó khoảng mười một giờ, cô ấy và chồng xem phim xong từ rạp chiếu phim ra đứng đợi xe buýt, bỗng nhiên từ chỗ tối lóe ra ba gã đàn ông da đen cao to, tay cầm súng lục sáng loáng, quát lớn: "Đây là cướp đây!". Sau đó đòi xem ví tiền của họ. Xem cả hai cái ví tiền, sau khi lấy tiền đi, xe buýt đến. Ba tên cướp đó vung vẩy súng lục lên xe – trong tình huống này, chúng tất nhiên không có hứng thú lên cùng một chiếc xe để tiếp tục xem náo nhiệt, liền ngồi chuyến sau về nhà. Dựa theo cách nói này, họ bị cướp thực sự là bất đắc dĩ. Chồng cô ấy là một thư sinh mặt trắng, không phải đối thủ của ba gã đàn ông da đen cao to. Huống chi đối phương có súng, cho dù là Mục Thiết Trụ bị súng lục bắn cho một phát, e rằng cũng phải tổn hại sức khỏe.
Nhưng còn có một cách nói khác. Lúc đó có một người Trung Quốc đứng đợi xe ở một trạm xe khác không xa chỗ họ, theo người đó nói thì tình hình là thế này: Tối hơn mười một giờ, phim tan rồi, con phố đó không có mấy người. Tiểu Hạ và chồng cô ấy đợi xe ở đó, trên trạm có ba gã đàn ông da đen cao to, không hề trốn trong chỗ tối. Ba tên đó ăn mặc có hơi lưu manh, nhưng không hề cầm súng lục, trên vai ngược lại vác một vật hình dài, nhưng không phải súng máy, cũng không phải súng phóng lựu, chỉ là một chiếc máy ghi âm. Người ta đứng đó vừa hát vừa lắc lư, nhưng tiểu Hạ họ không dưng lại bắt đầu run rẩy, cách con đường đã nghe thấy tiếng răng đánh vào nhau. Tôi nghĩ chuyện này liên quan đến việc lúc đó có rất nhiều người bị cướp, cũng có thể liên quan đến việc xe buýt cứ mãi không đến. Tóm lại, lại đợi thêm một lát, đôi vợ chồng trẻ bắt đầu bàn bạc: "Hỏi nhé?", "Đợi lát nữa", "Vẫn là đi hỏi đi", "Được rồi". Thế là tiểu Hạ liền đi đến trước mặt mấy gã anh em da đen đó, hỏi rằng: "Xin hỏi các anh có phải muốn cướp không?". Mấy tên đó ngẩn ra một lát, liền cười một cách âm dương quái khí: "Đúng rồi, bọn tao muốn cướp đấy!". Tiểu Hạ lại nói: "Vậy các anh nhất định phải xem ví tiền của bọn tôi rồi?". Những tên đó cười càng dữ dội hơn: "Đúng đúng, mau lấy ví tiền của các người ra!!".
Tiểu Hạ nói: "Ví tiền ở đây này". Người ta lấy tiền đi, trả ví tiền lại cho cô ấy, nói một câu: "Thank you!" (Cảm ơn!) rồi lại vừa hát vừa lắc lư tìm chỗ uống rượu. Trong hai cách nói này tôi tin cách thứ hai, vì cái rạp chiếu phim đó ở rất gần đồn cảnh sát, xe cảnh sát không có chỗ đỗ thì đỗ ở bãi đỗ xe của rạp chiếu phim. Cảnh sát Mỹ trên mông lúc nào cũng đeo súng, nhìn thấy bọn cướp có thể bắn vào người chúng. Ai muốn cướp ở đó, chắc chắn là ngứa ngáy trong người, muốn bị súng lục mũi ngắn bắn cho một phát. Nhưng bạn cứ một lòng muốn tặng tiền cho người ta, người ta cũng không tiện từ chối. Tôi nghĩ từ khi xảy ra chuyện như vậy, chúng ta không những có danh tiếng luôn mang theo tiền mặt, còn có danh tiếng "rất dễ cướp", nên người bị cướp càng ngày càng nhiều, dường như toàn bộ bọn cướp ở Mỹ đều tới Pittsburgh. Nhưng tình hình bị cướp lại càng ngày càng ít người nhắc tới. Điều này khiến người ta rất tò mò. Trong số lưu học sinh Trung Quốc ở Pittsburgh có một lão Kim, vị nhân huynh này điểm khác biệt với chúng tôi là ông ấy là sinh viên đại học từ trước, lớn hơn chúng tôi rất nhiều. Nên ông ấy hễ nghe nói có người bị cướp, liền nói: "Các cậu người trẻ tuổi không được!". Ngoài ra, ông ấy là người dân tộc Triều Tiên, nên thỉnh thoảng còn nói: "Các cậu bạn học người Hán gan bé quá, toàn nuông chiều thói hư tật xấu của người ta. Nếu gặp phải tôi, tiền thì không có, mạng thì có một cái!". Những lời này nghe rất khó chịu, nhưng không ai có thể phản bác ông ấy. Lão Kim có một thành tích vinh quang, ông ấy khi đi du lịch châu Âu, có lần gặp phải bọn cướp cầm dao, ông ấy liền múa cái chân máy ảnh đánh nhau với đối phương, đánh bọn cướp chạy mất dép. Nhưng chỉ có thành tích này thì chưa đủ khiến người ta tâm phục khẩu phục. Tôi không thể nói mình mong lão Kim gặp bọn cướp cầm súng mạo hiểm tính mạng, nhưng tôi quả thực hy vọng, nếu gặp phải loại người đó, lão Kim có thể dưới họng súng của bọn cướp dựng lên cho chúng tôi "người trẻ tuổi" một tấm gương không sợ cường bạo. Sau đó quả nhiên có một hôm, có người nhìn thấy lão Kim trước cửa một siêu thị, chỉ thấy tay ông ấy run bần bật, trong cổ họng kêu khẹc khẹc, hoàn toàn không bình thường.
Người đó liền dìu ông ấy vào trong xe ngồi xuống, lấy lon Coca cho ông ấy uống. Sau đó hỏi thăm mới biết, lão Kim quả nhiên bị cướp. Nhưng tình hình không giống với chúng tôi mong đợi lắm. Lúc đó ông ấy đang dạo trong tiệm, khát nước, liền đến máy bán hàng tự động mua lon Coca. Nơi đó khá vắng vẻ. Bỗng nghe "pằng" một tiếng, sau máy bán hàng nhảy ra một tên cướp. Đó là một đứa trẻ da đen, chỉ tầm mười hai mười ba tuổi, tay cầm một cái tua vít nhỏ xíu, chĩa vào lão Kim, giọng trẻ con kêu lên: "Cướp đây! Móc tiền ra!!". Trong đầu lão Kim nổ bùm một cái, chỉ nghe thấy mình hét lên một tiếng kỳ quái: "Cút đi! Cút về nhà đi!". Làm đứa trẻ đó sợ "oa" một tiếng chạy mất. Hù lui tên cướp, lão Kim còn tức đến mức chết đi sống lại, suýt nữa phát bệnh động kinh.
Sau đó cảnh sát Pittsburgh bắt được hai tên cướp, tổ chức họp báo ở trường đại học, từ đó về sau không còn vụ cướp nào nữa. Hai tên cướp này chính là hai tên ban đầu cướp tiểu Tống. Người bị cướp đều nói là bị hai tên này cướp, nhưng tôi không tin lắm. Xét về cá nhân tôi, lần tôi bị cướp đó, không phải do hai tên này gây ra. Bây giờ tôi nghĩ, con người sống trên đời có hai nghĩa vụ lớn, một là làm người cho tử tế, không thẹn với đời người. Điểm này tôi vẫn còn kém xa. Một điểm nữa là không được nuông chiều thói hư tật xấu của người khác, điểm này tôi càng kém xa hơn. Điểm này chúng ta đều kém quá xa. Lấy một ví dụ nhé, nơi tôi ở (tôi đã sớm về nước rồi) trước cửa có con đường, tất cả nắp cống đều bị người ta lấy trộm mất. Thói xấu này hoàn toàn là do chúng ta nuông chiều mà thành.
Nơi nào chỉ cần có người Trung Quốc, sẽ có quán cơm Trung Quốc, đây là sinh kế của người Trung Quốc. Trước kia đại đa số người Trung Quốc gặp ở Mỹ đều có liên quan đến quán cơm. Bây giờ không giống rồi. Có người có thể là viết phần mềm, có người có thể là dạy học, nhưng chủng loại vẫn không nhiều. Vật lý học nói, thế gian chỉ có bốn loại lực: lực mạnh, lực yếu, lực điện từ và lực vạn vật hấp dẫn. Các loại sinh kế của người Trung Quốc ở nước ngoài cũng không nhiều hơn thế là bao. Những sinh kế này không bao gồm loại mà đại đa số người Trung Quốc làm: làm ruộng. Đây là vì theo tiêu chuẩn địa phương, người Trung Quốc đều không biết làm ruộng. Lúc mới đến Mỹ, gặp một bà lão người Mỹ, tên là Wolf, chính là nghĩa là chó sói xám. Bà ấy là một nông dân, nhưng không muốn làm nữa, bảo tôi dạy bà ấy tiếng Trung, bà ấy muốn đến Trung Quốc dạy học. Tôi dạy bà ấy tiếng Trung, bà ấy liền dạy tôi tiếng Anh, đây là vì bà ấy không lấy đâu ra tiền để làm học phí. Nhưng vụ làm ăn này tôi lỗ. Tôi dạy bà ấy không ít tiếng Bắc Kinh thuần gốc, bà ấy lại tìm mấy cuốn thơ của Milton bắt tôi đọc trầm bổng nhịp nhàng. Đọc mãi đọc mãi, tôi đến tiếng người cũng không biết nói nữa. Bà lão Wolf có bằng văn học Anh Mỹ, nhưng lời bà dạy tôi vừa thốt ra, người khác liền cười. Điều này không phải vì bằng cấp của bà ấy có "nước" (gian lận), mà vì thời đại đang tiến lên. Trên báo thấy Đại học Harvard khoa văn học Anh Mỹ cho đề luận văn: "Bàn về 'Giấc mộng đêm hè'". Sinh viên không đi xem kịch bản của Shakespeare, lại đi tìm băng video xem. Trong những băng video đó các cô gái đều mặc váy siêu ngắn, còn có súng laser. Bà lão Wolf bắt tôi đọc thơ Dương Vạn Lý cho bà ấy nghe, đọc xong, bà ấy lắc đầu quầy quậy, nói là nghe không giống thơ. Tôi thì biết thơ cổ nên ngâm vịnh, nhưng tôi lại không phải là di lão tiền Thanh, sao mà biết được. Tôi thấy sự hiểu biết về ngôn ngữ của bà lão này đến Trung Quốc dạy tiếng Anh chưa chắc đã phù hợp. Cuối cùng bà ấy cũng không đến được.
Bây giờ nên bàn về sinh kế của bà lão Wolf – không lâu sau khi quen bà ấy, bà ấy liền mời tôi đến nông trại của bà ấy chơi, là bà ấy lái xe đến đón. Ra khỏi thành phố đi hơn bốn tiếng mới tới, nhìn xa xa là một mảng xanh tươi um tùm. Bà ấy bảo tôi rằng, rừng cây và nhà ở không tính, chỉ tính đồng cỏ là hơn sáu trăm mẫu Anh, quy đổi ra mẫu Trung Quốc là ba bốn ngàn mẫu. Trên nông trang này, tổng cộng chỉ có một mình bà lão Wolf, còn có một con chó lớn, và hơn hai ngàn con cừu. Lúc chúng tôi vừa đến, con chó đó chạy tới vội vàng ló mặt, sau đó vội vàng chạy về trông cừu rồi. Bà lão Wolf nói, bà ấy có thể bán nông trang. Nghĩa là, bà ấy giao đất đai, cừu cộng con chó này cho người khác, tự mình rời đi, cái này là được. Nhưng con chó này không thể bán nông trang – nói cách khác, con chó này muốn giao đất đai, cừu cộng bà lão Wolf cho người khác, tự mình bỏ đi thì tuyệt đối không thể, vì bà lão trông không nổi cừu. Kết luận của câu chuyện cười này là nông trang không có bà ấy thì được, không có nó thì không xong. Tất nhiên, đây là lời khiêm tốn của bà lão. Xe đến nông trang, bà ấy liền nói: "Phải đổ đầy xăng cho xe, lát nữa đi ra quên mất là không tìm được trạm xăng đâu". Thế là bà ấy lái xe đến bên kho dầu ngầm, dùng tay bơm đổ xăng vào xe, lắc nhanh như gió. Tôi lắc thay bà ấy một lát, thì không nhanh bằng bà ấy, còn thấy khá mệt. Bà lão đó vừa lùn vừa gầy, chắc là khoảng sáu mươi mấy tuổi. Tôi là một gã to xác vạm vỡ, lúc đó là ba mươi lăm tuổi. Nhưng tôi phải thừa nhận, lực tay của tôi không mạnh bằng bà ấy. Bà ấy bảo với tôi, trước kia bà ấy đặt thùng xăng trên mặt đất, hàng xóm liền nói chướng tai gai mắt. Quan chức địa phương lại đến nói, không an toàn. Cuối cùng bà ấy đành tự tay xây một cái kho dầu ngầm, có thể chứa mấy tấn dầu. Tôi thấy trong lời này có "nước": cho dù công việc thợ nề là bà ấy làm, công việc đất đá không thể là bà ấy đào. Nhưng lời này cũng không dám nói chết, tay bà lão Wolf như cái cào sắt. Sau đó bà ấy dẫn tôi đi xem gia sản của bà ấy, máy kéo, máy cắt cỏ v.v. Một đống máy móc lớn như vậy, lúc tốt thì phải bảo dưỡng, hỏng thì phải sửa, cũng đủ phiền rồi. Tôi hỏi bà ấy máy móc hỏng có phải thuê người sửa không, bà ấy liền rống lên bằng giọng eo éo: "Thuê người? Có tiền không?".
Về sau tôi mới biết, bà lão Wolf kiểu nông phụ này mang tính chất chơi bời, tuy bà ấy có bằng nông học, lại rất biết chịu thương chịu khó, nhưng dù sao cũng là một bà lão. Người lao động cá thể thực thụ, máy móc mình dùng hỏng rồi, mang đi nhờ người khác sửa chính là sỉ nhục. Không chỉ vì tiền bị người ta kiếm mất, mà còn vì thừa nhận mình vô dụng. Về sau chúng tôi đến nhà một tài xế xe cẩu làm khách, thứ ông ấy lấy làm tự hào không phải là chiếc xe cẩu trị giá ba mươi vạn đô la của ông ấy, mà là bộ dụng cụ sửa chữa của ông ấy. Những thứ đó đều là loại mấy trăm món một bộ, tất nhiên chúng tôi xem cũng không hiểu gì. Ông ấy còn nói, biết lái máy móc không tính là một bản lĩnh, bản lĩnh thực sự là biết sửa. Nếu hàng xóm hoặc đồng nghiệp có đồ gì hỏng nhờ ông ấy sửa, thì rất vinh quang. Mà gia cụ của mình hỏng không xoay xở được phải nhờ người khác, thì rất xấu hổ. Tóm lại, đây chính là sinh kế của ông ấy. Ông ấy rất mạnh về phương diện này, cho nên đắc ý vô cùng. Ở Mỹ mấy năm, tôi cũng bị lây nhiễm. Tôi bây giờ dùng máy tính viết lách, phần mềm là tôi tự viết, máy móc hỏng cũng không cầu người, đều là tự mày mò. Làm như vậy quả thực có thể nuôi dưỡng lòng tự hào.
Bà lão Wolf có ba người con gái, con gái cả trộn rất thành công, là đại diện của một công ty lớn tại Nhật Bản. Người con gái này mời bà ấy sang ở, bà ấy không chịu, nói là không thú vị. Tôi nhìn thấy tất nam trong nhà bà ấy, lúc trò chuyện bà ấy có nói đến còn có đời sống tình dục, nhưng bà ấy không ở chung với người khác. Theo cách nói của bà ấy, một người một con chó ở trong một nông trang là một cách sống lý tưởng. Nhưng bà ấy cũng thừa nhận, mấy năm nay thực sự là hơi chịu không nổi. Trước hết, phải cạo lông cho hai ngàn con cừu, chuyện này quả thực là mệt chết người. Thứ hai, mùa thu còn phải cắt cỏ. Ngoài ra, bao quanh nông trang của bà ấy có hơn chục cây số lưới điện, chặn sói bên ngoài (chính xác hơn là chó hoang Bắc Mỹ) và cừu bên trong, hỏng là phải sửa ngay, nếu không thì rắc rối to. Đợi đến khi bận rộn xong mấy việc này thì mệt đến mức sống dở chết dở. Lúc đó chính là cuối thu, trên đất bà ấy có hơn mười cây táo khá tốt, nhưng táo đều rụng xuống đất. Bà ấy còn trồng một ít khoai tây, không biết tại sao, lại kết quả trên mặt đất. Bữa tối ăn vài củ, có vị hoa tiêu Tứ Xuyên – tê rần rần. Tôi rất nghi ngờ khoai tây của bà ấy trồng không đúng cách, vì khoai tây không nên có vị này. Nhìn từ xa, trên đồng cỏ xanh mực đó của bà ấy có vài đốm trắng. Đi lại gần xem, là cừu chết. Sừng vẫn còn, nhưng lông sớm đã bị mưa làm trôi khỏi cơ thể, chắc là chết được mấy ngày rồi. Đối mặt với loại cừu chết này, bà lão lộ vẻ xấu hổ, nói rằng: "Nên giết cừu già đi, lột da ra". Da cừu già còn có thể dùng vào việc, nhưng giết không kịp. Ngoài ra, bà ấy cũng không biết mình có bao nhiêu con cừu. Vì những con cừu đó không những tự chết đi, còn tự sinh ra. May mà còn có Candy (con chó đó của bà ấy) biết. Candy nghe tiếng gọi tên nó, liền gâu gâu sủa, lắc lắc cái đuôi. Cảnh tượng tôi nhìn thấy trên nông trang của bà lão Wolf chính là như vậy.
Ở Mỹ tôi quen biết không ít người giống như bà lão Wolf – tài xế xe cẩu cá thể, chủ quán cơm, nha sĩ ở thị trấn nhỏ v.v., mọi người đàng hoàng mưu cầu một sinh kế, có người thành công, có người không thành công. Người không thành công liền muốn đổi một sinh kế đàng hoàng khác, không đi chơi chứng khoán, hoặc biên một câu chuyện gì đó kinh thiên động địa. Những người này đại khái gọi là nhân dân đi. Chính khách Mỹ nhắc đến nguyên nhân giàu mạnh của Mỹ, luôn muốn quy phần lớn công lao cho nhân dân có tố chất cao của Mỹ, không ngại quy hết cho sự lãnh đạo đúng đắn của mình. Về Trung Quốc, tôi cũng chỉ toàn quen biết những người như vậy. Nếu có người biết chơi chứng khoán, hoặc biết viết bài lý luận trào lưu mới, tôi lại không vội vàng quen biết. Đây đại khái là thiên tính tự nhiên rồi.
Đến Mỹ năm thứ hai học một môn nhân chủng học, phải nộp một term paper (bài luận cuối kỳ). Giáo sư muốn chúng tôi đi điều tra một nhóm người hoặc một loại người, viết ra một câu chuyện. Tôi nói với giáo sư, muốn điều tra người Quảng Đông. Ông ấy nói không được, cậu đâu phải người Quảng Đông. Ông ấy còn nói có không ít người Trung Quốc làm thuê ở quán cơm, sao không viết về cái này. Ban đầu tôi không muốn đi lắm, sau này nghĩ lại, đi xem cũng được, liền đến một quán cơm làm việc hai tháng, ông chủ tên là Chu Ba Bì. Sau này tôi và ông chủ cãi nhau to liền giũ áo bỏ đi. Bài paper này đạt được mấy điểm A, giáo sư tên là Singleton, từng làm chủ tịch Hiệp hội Nhân chủng học toàn Mỹ. Tôi lôi thôi một đống này, là muốn chứng minh mình đi làm thuê ở quán cơm là đi làm nghiên cứu, không phải để kiếm tiền. Sau khi trình bày những điều này, liền đến lúc vào chuyện chính. Quán cơm tôi tới, tên là "× Bếp", tôi làm công việc rửa bát trong bếp. Tiệm đó lúc bấy giờ làm ăn tốt đến mức không thể tưởng tượng, thuê ba người đầu bếp, bếp trưởng xào rau, bếp phó vừa "vung mồm" vừa bắt nạt bếp ba, bếp ba suốt ngày dài than thở ngắn. Sau này tôi và bếp ba quen nhau khá thân, hai chúng tôi còn là đồng hương. Lão già này lúc đó năm mươi tuổi, thường xuyên uống rượu, bộ dạng lôi thôi lếch thếch, ở Mỹ cũng hơn hai mươi năm rồi, một câu tiếng Anh không nói được. Câu chuyện của lão là câu chuyện của một người đàn ông Trung Quốc ở Pittsburgh. Pittsburgh không phải Manhattan, đàn ông không phải đàn bà, nên câu chuyện này không lãng mạn chút nào. Không chỉ không lãng mạn, còn có chút bi thảm. Bếp ba này họ Lý, là người Sơn Đông, từ nhỏ đã bị Quốc dân đảng bắt lính, thẳng tuột kéo đến Đài Loan, trong quân đội cấp bậc lớn nhất từng làm là Sĩ vụ trưởng.
Nhà hàng của bếp X hơi kỳ quặc, bước vào cửa là phải rẽ, trước rẽ trái, sau rẽ phải, y hệt như cái ruột nằm trong bụng vậy. Nhưng tổng diện tích không hề nhỏ, có thể kê được ba bốn mươi cái bàn. Trang trí cũng khá ổn. Tôi bảo người thiết kế nhà hàng này có học thức cao thâm, cái này gọi là "khúc kính thông u". Ông đồng hương của tôi bảo, chỗ này trước kia là một nhà kho nát, chặn cửa lại làm tiệm bán chả giò, có mặt tiền mà không có bàn ghế. Làm mấy năm, kiếm được chút tiền mới sửa sang một góc nhỏ, bắt đầu bán cơm xào, bán thêm vài năm nữa mới có tiền sửa thêm một góc nhỏ nữa. Gấp khúc như vậy là để che đi đống đổ nát đằng sau. Nếu đống giấy vụn đầy tường bị người ta nhìn thấy thì ai còn tới ăn nữa? Tháng Chạp rét buốt mướt bán chả giò trên phố, thở ra khói; ban ngày xào nấu cả ngày, nửa đêm lại làm thợ mộc, thợ nề, cái mùi vị này không dễ chịu chút nào. Cho nên, "khúc kính thông u" gì chứ, gọi là "giun đục lỗ" thì chính xác hơn. Cái tiệm này là ông đồng hương của tôi đã dành gần mười năm tay trắng dựng nghiệp mà luyện thành. Ông ấy thực sự đã chịu không ít khổ sở. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, khởi nghiệp ở Mỹ, ai mà chẳng chịu khổ. Ông đồng hương của tôi lại bảo, chịu khổ thì ông không oán thán, chỉ là đời này chịu khổ hơi nhiều quá. Hóa ra ông ấy giải ngũ ở Đài Bắc mở tiệm, ngày tháng cũng không tệ lắm, bỗng nhiên có khách quen tới, bảo sang New York mà lăn lộn, có thể phát tài. "Thẻ xanh cứ để tôi lo". Thế là ông đồng hương của tôi cầm visa du lịch rồi đi. Đến New York, xuống máy bay, còn chưa kịp chỉnh lại múi giờ đã bị ấn vào bếp xào đồ ăn rồi. Người ta còn dặn ông: "Tuyệt đối không được ra ngoài đấy nhé! Sở di trú đang tóm những kẻ như ông đấy". Thế là ban ngày xào nấu, ban đêm trông tiệm, làm một mạch mười mấy năm, đừng nói là đi dạo phố, ngay cả ánh mặt trời cũng rất ít khi nhìn thấy.
Câu chuyện kể đến đây thì về cơ bản đã hiểu rồi. Hóa ra bếp X này từng là tiệm của ông. Còn việc ông từ New York đến đây bằng cách nào thì cũng không khó tưởng tượng. Sau khi ông làm ở New York mười mấy năm, người ta đưa cho ông một chiếc thẻ xanh rồi bảo: "Nhìn đi, tôi làm cho ông rồi đấy, chúng ta thanh toán xong rồi nhé". Người Sơn Đông chúng tôi tuy chất phác nhưng không ngốc, biết mười mấy năm máu đổ lệ rơi đổi lấy một mảnh giấy là không đáng. Cho nên không thể làm cho cái loại mặt người dạ thú đó nữa, nhất định phải tự mình xông pha thiên hạ. Tiệm cơm Trung Quốc ở New York nhiều quá, khó sống, bèn đến Pittsburgh. Ở đây làm bếp trưởng, nhưng là làm cho chính mình.
Về phần mình, tôi vẫn chưa giới thiệu với các bạn. Tôi từng xuống nông thôn, từng đi lính, từng làm công nhân, việc gì cũng đã làm qua. Theo tôi thấy, làm đầu bếp ở Mỹ là mệt nhất. Giả sử làm hai bữa cơm, thì hơn chín giờ sáng đã đến tiệm, dọn dẹp nhà bếp, chuẩn bị nguyên liệu, bận rộn tới hơn mười giờ là bắt đầu xào nấu, xào liên tục đến hơn một giờ, dọn dẹp nhà bếp, làm một bữa cơm cho nhân viên, cũng đã hơn hai giờ đêm, đó là một ngày suôn sẻ. Giả sử có vị khách nào đó lì lợm, ngồi trong tiệm không chịu đi, cũng không thể đuổi người ta, cùng lắm là chạy ra hỏi mấy lần: "Ông ơi, ông còn gọi thêm gì không?". Như vậy kiểu gì cũng đến bốn giờ sáng. Giả sử Sở Vệ sinh đến kiểm tra tiệm thì phải thức trắng đêm chiến đấu. Người của Sở Vệ sinh còn hay đến, ép bạn phải chổng mông chui xuống dưới bếp dùng bàn chải sắt cọ dầu mỡ. Theo thống kê của tôi, những đầu bếp này mỗi ngày tổng cộng phải làm mười lăm tiếng, bị lửa nướng, khói dầu hun, hơn nữa không có ngày Chủ Nhật. Nếu làm cho người khác thì mỗi tháng còn có thể xin ông chủ nghỉ hai ngày. Làm cho chính mình thì chẳng có gì cả. Tuy bên ngoài là thế giới phồn hoa, nhưng cũng chẳng có thời gian mà đi xem. Đồng thời, cái gọi là sự sống, thanh xuân, cứ thế như một làn khói xanh tan biến. Chịu khổ như vậy thì cũng phải mưu cầu điều gì đó chứ. Trong bếp X có ba đầu bếp, bếp trưởng gần bảy mươi rồi, giờ không phải dành dụm cho con trai nữa, mà là kiếm tiền học phí cho cháu nội. Nhắc đến chuyện nuôi một đàn con cháu, ông cũng khá tự hào. Bếp phó cố gắng đến cuối tháng, xin nghỉ là lái xe phóng thẳng tới sòng bạc New Jersey, thua sạch tiền rồi mới về. Dù sao đi nữa, sống như vậy cũng coi như có chút kích thích. Chỉ có vị đồng hương này, ông chủ Lý trước kia, chính ông cũng không biết tại sao mình phải cố sống cố chết như vậy.
Ông chủ Lý nói, khi ông đến Pittsburgh khởi nghiệp là ba mươi mấy tuổi, độc thân một bóng, trên không cha mẹ, dưới không vợ con, cả đời quen chịu khổ nên cũng không thấy làm việc là khổ. Lời này có chút không đúng, ông lấy đâu ra giác ngộ cao thế? Điều tôi vẫn chưa hiểu là ông mở nhà hàng, không biết tiếng Anh thì làm thế nào? Nhắc tới chuyện này, ông đồng hương của tôi có chút ngượng ngùng. Hóa ra khi ông mở nhà hàng là hợp tác với một người phụ nữ Ý. Có thời gian ông còn nói được đôi chút tiếng Ý, là học ở New York. Phố Tàu ở New York nằm sát Little Italy, đầu bếp Trung Quốc quen cô gái Ý cũng không có gì lạ. Chẳng hiểu thế nào, người ta lại bỏ trốn cùng ông. Chuyện này có chút màu sắc lãng mạn. Trốn đến Pittsburgh, ông đồng hương của tôi dốc hết tiền tiết kiệm cả đời và sức lực bú mẹ ra để mở tiệm, người đàn bà kia chỉ lo thu ngân. Hóa ra là sức mạnh tình yêu đã hỗ trợ ông khởi nghiệp. Ngoài ra, ông còn được "ăn vụng của lạ". Ông đồng hương bảo, đừng truy hỏi nữa, đàn bà đều là rắn độc, chữ "sắc" trên đầu là một con dao.
Về nước Ý, tôi cũng biết chút ít. Nước Ý phong cảnh tươi đẹp, con gái Ý xinh đẹp. Chúng tôi đến Ý chơi, bị người ta trộm mất ví và máy ảnh. Tìm cảnh sát báo án, họ bảo trộm rồi thì thôi, không trộm người nước ngoài như các anh thì trộm ai. Đồng bào Dương Truyền Quảng của chúng ta, đến Rome tham gia Thế vận hội, vốn dĩ phải lấy huy chương vàng, bị một cô gái Ý liếc mắt đưa tình, phá mất "đồng tử công", kết quả chỉ lấy được huy chương đồng, huy chương vàng bị Ý lấy mất. Điều này chứng tỏ người Ý quen dùng mỹ nhân kế. Dương Truyền Quảng là kỳ tài không đời nào có trong lịch sử điền kinh Trung Hoa, được mệnh danh là "thập hạng thiết nhân", thế mà cũng thất bại thảm hại, huống chi là ông chủ Lý tầm thường. Ông chủ Lý nói, lúc đầu người phụ nữ Ý kia là chân thành yêu ông, miệng toàn là "sweetheart". Chuyện này cũng có thể là thật. Ai cũng biết cơm Trung Quốc ngon, nhưng nhà bếp thì khó ngửi. Xào nấu cả ngày, trên người đầy mùi dầu mỡ, rửa thế nào cũng không hết. Hơn nữa, đầu bếp làm ở Mỹ lâu năm, sắc mặt đều tái vàng, giống như vỏ quýt chín nẫu. Tôi rất nghi ngờ khói dầu sẽ phản ứng hóa học với da mặt, sinh ra chất kết tủa màu vàng đậm. Thêm vào đó ông làm việc mười tám tiếng một ngày, lên giường chắc chắn không được tích sự gì. Nếu có tình yêu lãng mạn thì những điều này đều không tính là gì. Nhưng việc làm ăn ở tiệm dù tốt, lại thiếu tiền mặt. Thậm chí đến mức không có tiền mua rau, phải đi mua hàng rẻ tiền. Làm ngành ăn uống ở Mỹ, điều kiêng kỵ nhất chính là cái này, một lá rau nát cũng có thể hủy hoại cả một tiệm. Không giống như quán cơm nhỏ ở Bắc Kinh hiện nay, thấy bác nông dân đến ăn là cứ gân, cứ thịt mỡ béo ngậy mà cho vào xào. Đến mức độ này, ông ấy nên đi dò hỏi. Vừa hỏi ra mới biết, người đàn bà này ra ngoài mở một tiệm pizza, trong tiệm còn có một thằng nhãi trắng trẻo gốc Ý. Tôi bảo ông đồng hương, thằng nhãi này chưa biết chừng là theo từ New York đến đấy. Ông đồng hương vừa nghe liền lật mặt, suýt chút nữa lấy dao phay chém tôi.
Tôi làm ở bếp X hai tháng, mà cứ như đã mấy năm rồi. Vì cứ rửa bát rửa đĩa đổ rác không ngừng nghỉ. Ngoài ra còn có tên bếp phó thích ngược đãi, gã chủ Chu Bát Bì vô cùng keo kiệt, cứ nhịn không nổi muốn nhổ nước miếng vào họ. Mỗi tuần tôi chỉ làm hai tối mà như sống một ngày bằng một năm, huống hồ ông chủ Lý suốt ngày ở trong cái tiệm mà trước đây ông từng sở hữu. Ông già trước tuổi, tay chân đều chậm chạp; Chu Bát Bì bảo, giữ ông lại là làm việc thiện, nên không thể trả quá nhiều lương. Vì những lý do trên, ông đồng hương lại đến tìm tôi tán gẫu. Hai chúng tôi tan làm đi đợi xe buýt. Đêm hôm khuya khoắt, đợi một hai tiếng đồng hồ xe không đến. Ông thề thốt rằng, cô gái Ý kia lúc đầu đối với ông là chân thành, sau này mới thay đổi. Sau đó cô gái kia nói, muốn rời xa ông, nhưng không cần tiền của ông. Ngoài ra, cô ấy còn tìm cho ông một người vợ, là người Peru. Người đàn bà này cũng không nói được là người da trắng, da đen hay da đỏ, vì huyết thống người Nam Mỹ là tạp nhất. Ông không hiểu tiếng Tây Ban Nha, cô ta không hiểu tiếng Trung, còn tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông ở Mỹ thì cả hai đều mù tịt. Có một việc không cần nói chuyện cũng làm được, thế là họ làm với nhau, con cái lần lượt ra đời. Đứa thì đen không đen, vàng không vàng, trông thật kỳ dị. Còn một chuyện kỳ quặc nữa, đám trẻ đó toàn nói tiếng ***. Một câu tiếng Trung cũng không nói. Ông ấy hễ về nhà, là rơi vào vòng vây không lời. Bầu không khí này khiến người ta sởn gai ốc. Chỉ có đánh khóc vài đứa, trong lòng mới thấy dễ chịu hơn một chút. Ông kể với tôi, nhìn cả nhà lũ nhóc, thực sự không biết mình đã làm cái gì nữa.
Ông đồng hương kể với tôi, người đàn bà Ý kia giới thiệu vợ cho ông xong thì rời khỏi tiệm của ông, quả nhiên không lấy một xu. Chuyện phía sau cũng không khó tưởng tượng, một thời gian sau, đủ loại người cầm giấy tờ hợp lệ có chữ ký của chính ông xuất hiện, người đàn bà kia lấy danh nghĩa ông chủ Lý của bếp X vay rất nhiều tiền, bán tiệm cũng không trả hết. Những chữ này là ông ký, nhưng ông không biết ký là để làm gì. Đến nước này, ông vẫn còn yêu cô ta, cảm thấy vì tình yêu mà mất đi tiền tiết kiệm cả đời, cũng coi như là một chủ đề đi. Cho đến một ngày nọ bỗng nhiên linh cảm, tìm một người Trung Quốc biết tiếng Tây Ban Nha đến hỏi han vợ ông, kết quả không ngoài dự đoán, người Peru này vốn là một người tị nạn, không có thẻ xanh, kết hôn với ông chủ Lý mới lấy được. Để tác hợp cuộc hôn nhân này, người đàn bà Ý đáng yêu kia đã thu không ít phí môi giới. Biết chuyện này rồi, ông mới không còn yêu cô ta nữa.
Tôi rời khỏi bếp X không lâu, ông chủ Lý liền bị Chu Bát Bì sa thải. Sau đó ông ngồi lì ở nhà uống rượu giải sầu, vì ông thực sự đã già rồi, không tiệm cơm Trung Quốc nào chịu thuê ông nữa. Câu chuyện này cũng là chuyện cũ rích, tôi vẫn luôn lười không muốn viết ra. Giờ bỗng nhiên viết ra, là vì cảm khái trước những câu chuyện về nước Mỹ trong dân gian. Ngụ ý của câu chuyện này là nhắc nhở các vị: Nếu bạn muốn đến Mỹ phát tài, trước tiên tốt nhất là phụ nữ chứ không phải đàn ông; thứ hai nhất định phải đến Manhattan, tuyệt đối đừng đi nơi khác.
Trước đó đã nhắc đến ông chủ của bếp X tên là Chu Bát Bì. Vị huynh đài này có khuôn mặt hình con dao, nhìn là biết kẻ keo kiệt. Ông ta không nỡ cho nhân viên đồ tốt (tất nhiên cũng không nỡ đưa nhiều tiền), mọi người ghét ông ta chết đi được. Có người chạy vào bếp, chộp tôm sống cá sống ăn luôn, lý do là không thể để Chu Bát Bì hưởng lợi; nhưng kết quả thường là tự làm mình tiêu chảy đến mặt nhọn hoắt. Nghe nói còn có người trong bếp của bếp X ăn đùi gà sống, ngay cả xương cũng nhai thành vụn nuốt xuống bụng, nhưng tôi không nhìn thấy, không thể xác nhận. Có một lần ông ta đi New York vài ngày, không có ở nhà, cửa bị người ta dùng sơn vàng viết chữ to tướng "Chu Bát Bì". Nhà hàng đó sau này trở nên lộn xộn, chẳng ra dáng làm ăn gì. Tôi làm ở đó không lâu thì cãi nhau với Chu Bát Bì, đổi sang một tiệm khác để làm. Tiệm này coi như là một hiệu lâu đời, có lịch sử mười mấy năm rồi. Ông chủ trạc tuổi tôi, họ Y. Tiệm của anh ta nằm ở khu vực người Do Thái cư trú, chẳng phồn hoa chút nào. Anh ta cũng không quảng cáo, nên ngoài những người sống trong cộng đồng đó ra, người khác đều không biết mấy. Đó là một ngôi nhà kính màu đen, nếu trên cửa không viết mấy chữ Trung Quốc kia thì trông chẳng giống nhà hàng Trung Quốc chút nào. Người thuê làm trong tiệm cũng rất tạp, có người Trung Quốc, Hàn Quốc, còn có cả người Mỹ mũi cao. Hóa ra tiệm của anh ta là ai muốn làm cũng được. Có một lần một cô gái Hàn Quốc, bản thân là nghệ sĩ, không thiếu tiền, nhưng phát hiện ông chủ Y là một gã độc thân, bèn cắn răng đến tiệm anh ta rửa bát mấy tháng. Nhưng ông chủ Y giả ngơ không mắc câu, làm cô gái tức đến mức sau lưng nghiến răng nghiến lợi nói anh ta là pervert (biến thái tình dục). Lại thêm mấy ngày nữa, phát hiện anh ta vẫn không mắc câu, cô ta không đến nữa.
Trong sảnh tiệm của ông chủ có một bức Bát Nhã Tâm Kinh viết trên giấy xướng. Đoạn kinh văn này phổ thông nhất, Tây Du Ký chép toàn văn, tôi mười sáu tuổi đã có thể đọc vanh vách vài câu: "Yết đế! Yết đế! Ba la yết đế!" vân vân. Cho nên nhìn thấy kinh đó, cũng không có cảm giác gì đặc biệt, chỉ thấy ông chủ Y khá buồn cười, lại còn viết nó ra. Sau đó một ngày, có một ông già Do Thái mới chuyển đến đến tiệm ăn cơm, ông chủ Y xào xong món ăn, liền chạy ra tán gẫu với ông ta, nói về những điểm chung của mọi người — đều phải kiếm tiền, ăn cơm vân vân. Cuối cùng nói, mọi người đều tin giáo, chỉ là các ông tin Do Thái giáo, tôi tin Phật, kinh này chính là dùng máu của tôi viết ra. Ông Do Thái vừa nghe, lập tức đứng dậy, đứng nghiêm trước kinh văn, mời ông chủ Y đọc cho ông ta một lần. Lúc về còn bắt tay nói: "Ông chủ Y, tôi rất tôn trọng ông, vài ngày nữa giới thiệu mấy người bạn tới". Sau này mới biết, kinh này đúng là dùng máu của ông chủ Y viết, hơn nữa là máu cắt từ lưỡi ra. Viết xong kinh còn thừa nửa bát, lại viết mấy chữ to "Là người Trung Quốc nên tự hào", treo ở bên cạnh. Trong này không có chút thái độ cợt nhả nào. Anh ta cứ nghiêm túc như vậy mà nói với người nước ngoài: Là người Trung Quốc, tôi không giống các người; nhưng là một con người, thì giống các người, hoàn toàn có thể tin tưởng. Đây cũng là một cách mưu sinh.
Vị ông chủ Y này đồng thời cũng là bếp trưởng, xào món Tứ Xuyên và món Bắc Kinh. Tổ tiên tôi ở huyện Cừ, Tứ Xuyên, lớn lên ở Bắc Kinh, theo tôi thấy anh ta xào khá giống món Tứ Xuyên, lại có chút giống món Bắc Kinh. Chính vì vậy, vẫn thường có khách bảo món Cung Bảo ớt bị cháy. Cho nên cái nơi gọi là nước Mỹ đó làm món ăn đúng vị thì không thông. Mỗi ngày từ sáng đến tối, cũng phải làm mười lăm tiếng. Theo tôi được biết, tuy đã nhập quốc tịch Mỹ, anh ta ở Đài Loan cũng tính là con em cán bộ đấy. Huống chi anh ta ở Mỹ lấy được bằng thạc sĩ kiến trúc, hoàn toàn có thể tìm việc kiến trúc sư để làm. Nói thật, đưa anh ta số tiền đó thì tôi lấy, nhưng bắt tôi làm công việc của anh ta thì tôi không làm — nhân tiện nói về bản thân tôi ở đây, trước kia tôi cũng cực kỳ biết chịu khổ, mười sáu tuổi đã chạy đến Vân Nam khai hoang, ngày làm mười sáu mười bảy tiếng cũng có. Làm như vậy mấy năm, lúc đi nhìn lại, chẳng khai khẩn được ruộng nương gì, ngược lại làm hỏng hết cả núi. Mưa xuống là bùn với nước, cứ như đang chảy phân lỏng vậy. Từ đó về sau liền cực kỳ lười biếng. Từ chỗ không có tiền cũng bán mạng làm việc biến thành không thiếu tiền thì không làm — cho nên tôi mới hỏi anh ta. Anh ta bảo làm nhà hàng này là việc nên làm. Có cái tiệm này, liền giúp đỡ được nhiều người, tất nhiên cũng giúp được chính bản thân anh ta. Lúc đó những người làm việc trong tiệm đó quả thực không ít, còn có cả phó giáo sư ở trường đại học danh tiếng trong nước đến nữa. Nhưng từ "giúp" này nghe vẫn khá gượng gạo. Ông chủ Y cũng biết học thuyết giá trị thặng dư, nên anh ta muốn tôi nói về trải nghiệm ở bếp X, cứ nói thế này: "Tiểu Ba, nói chuyện cậu bị áp bức dưới tay Chu Bát Bì thế nào đi" — anh ta cứ không chịu nói là bị bóc lột. Nhưng nên dành cho anh ta đánh giá "biết nhục mà dũng cảm tiến lên", vì anh ta làm việc toàn làm gương, xào xong thức ăn, liền giúp bếp phó đổ rác, giúp tôi rửa bát, đồng thời cất tiếng hát vang. Lúc đó người dưới quyền anh ta từ trong nước đến khá đông, cậu đoán xem anh ta hát gì nào — "Đại hải hàng hành kháo đà thủ" (Biển lớn ra khơi nhờ người cầm lái). Hát xong còn bảo: "Bài này không tệ, có giai điệu". Đêm đóng cửa tiệm, xào một bữa cá lớn tôm lớn cho mọi người ăn, và tuyên bố: "Tôi là ông chủ Y, không phải ông chủ Chu". Anh ta chính là dùng cách đó để thu phục nhân viên.
Bất kể ông chủ Y tự nhìn nhận mình thế nào, tôi vẫn phải nói anh ta có đầy đủ những thói xấu của các ông chủ. Nếu không có khách đến, nữ bồi bàn ở sảnh trước (đều là du học sinh) tìm chỗ ngồi xuống, lôi sách vở ra đọc, anh ta liền sa sầm mặt mày. Những lúc này bạn phải đứng đó, hướng ra ngoài tiệm làm bộ dáng trông ngóng, anh ta nhìn mới thích. Đây là mặt nhỏ nhen của anh ta. Cũng có mặt rộng rãi: hàng năm cứ đến một ngày, anh ta đến công viên thuê một mảnh đất, mời tất cả những người từng làm việc trong tiệm anh ta và tất cả khách quen, hàng xóm đến ăn tiệc nướng. Anh ta còn có thể nhớ sinh nhật của rất nhiều khách quen, vào những ngày đó, dâng lên món quà tặng miễn phí. Anh ta làm công việc kinh doanh khách quen. Cho nên mỗi vị khách đều là một chuyện không thể quên trong cuộc đời anh ta — anh ta cũng hy vọng bản thân và tiệm của mình trở thành một chuyện không bị lãng quên trong cuộc đời người khác. Đây là cách mưu sinh của anh ta. Muốn làm được điểm này, phải lấy lễ đãi người, còn phải biết phận.
Phụ chú: Phần lớn nội dung trong bài viết này là do tôi tận tai nghe được, tôi xin đảm bảo tính chân thực sau khi đã vào tai tôi. Còn chuyện Dương Truyền Quảng ở Rome bị người ta phá mất "đồng tử công" dẫn đến đau đớn mất huy chương vàng, là đọc được trên báo tiếng Trung ở New York. Tôi về thể thao thì mù tịt, người ta nói sao, tôi tin vậy. Xin đặc biệt tuyên bố.