Một Chú Heo Đi Ngược Đám Đông

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự trung thực và thói phù phiếm

❊ ❊ ❊

Khi tôi còn học đại học, anh trai tôi đang học cao học. Tôi học khoa học tự nhiên, anh tôi học logic học. Có lần tôi hỏi anh ấy: Theo anh, trong những tác phẩm khoa học do người Trung Quốc viết, cuốn nào đáng đọc nhất? Anh ấy không chút do dự trả lời: "Giang thôn kinh tế" của Phí Hiếu Thông. Bây giờ nếu có một người trẻ tuổi hỏi tôi câu này, dù cậu ta học ngành gì, câu trả lời của tôi vẫn là "Giang thôn kinh tế" - nhưng tôi nghĩ tên cuốn sách này đặt là "Đời sống nông dân Trung Quốc" thì tốt hơn. Ưu điểm của nó nằm ở việc miêu tả hết sức chân thực cảnh tượng đời sống nông thôn vùng Giang Nam, sự chân thực như vậy ở những cuốn sách do người Trung Quốc viết trước nay chưa từng có. Cũng là bậc tiền bối trong giới xã hội học, tiên sinh Lý Cảnh Hán từng làm "Định huyện điều tra", làm rõ tình hình của một huyện một cách tường tận. Người học xã hội học nhất định phải đọc "Định huyện điều tra" - nhưng nếu không học xã hội học, tôi nghĩ có thể không cần đọc "Định huyện điều tra", nhưng không đọc "Giang thôn kinh tế" thì không được. Người đọc sách Trung Quốc có một thói xấu, luôn muốn làm ngơ trước một số sự thật, trong những sự thật này bao gồm cả đời sống của nông dân Trung Quốc. Người đọc sách thích việc vùi đầu vào đống giấy cũ, như thể trong giấy cũ có đủ mọi thứ. Điển tịch Trung Quốc đúng là nhiều như biển khơi, nhưng nếu không có ai viết sự thật lên giấy, thì trên giấy vẫn chẳng có gì cả. Giá trị của "Giang thôn kinh tế" nằm ở chỗ nó đã viết sự thật lên giấy, ở cái nơi gọi là Trung Quốc này, rất ít người làm việc như vậy. Malinowski viết lời tựa cho "Giang thôn kinh tế" cũng khen ngợi sự chân thực của tiên sinh Phí. Cho nên mức độ chân thực trong công trình nghiên cứu này của tiên sinh Phí đã đạt tới trình độ tiên tiến quốc tế.

Chủ đề chính của bài viết này không phải là bàn về "Giang thôn kinh tế", mà là bàn về sự trung thực. Theo thiển ý của tôi, sự trung thực giống như vàng vậy, có sự khác biệt về độ tinh khiết. Lấy sách của tiên sinh Phí làm ví dụ, khi xuất bản ở nước ngoài, nó được gọi là "Đời sống nông dân Trung Quốc"; đây là sự trung thực như vàng ròng mười tuổi. Khi xuất bản trong nước lại gọi là "Giang thôn kinh tế", độ tinh khiết đã kém đi một chút, mặc dù nó vẫn trung thực, và còn hợp khẩu vị của văn nhân Trung Quốc hơn. Chúng ta ở đây có một truyền thống, vô cùng bất lợi cho sự trung thực tuyệt đối. Có người nói, lão phu tử Chu Hy làm học vấn cả đời, thế nào gọi là "là" (be), thế nào gọi là "nên là" (should be), chưa bao giờ làm rõ được. Chúng ta biết rằng, cái trước chỉ sự thật, cái sau chỉ ý nguyện, hai cái này có sự khác biệt. Con người không thể cả đời gặp toàn chuyện vừa ý, nếu Chu phu tử cứ đem ý nguyện và sự thật nhập nhằng làm một, thì ông ấy sống thế nào đây. Cho nên, khi Chu phu tử bắt đầu tư duy học thuật, ông đã coi ý nguyện và sự thật là một thứ - tư duy học thuật quả thực có cái đặc điểm này; khi không làm học vấn, ý nguyện và hiện thực lại có thể tách rời ra. Không chỉ riêng Chu phu tử, người Trung Quốc khi làm học vấn đều như thế, từ thời Khổng Tử đến nay, khi viết văn đều phải lên gân, thảo luận những đề tài lớn như quốc kế dân sinh cho đến tiền đồ nhân loại, rồi đưa ra những kết luận đầy ánh sáng, dưới cái ánh sáng này, sự trung thực tuyệt đối lại trở nên đáng xấu hổ. Trên tất cả các đề tài trọng đại mà đưa ra được những kết luận tươi sáng thì đương nhiên rất tốt, nhưng nếu không đánh tráo ý nguyện và sự thật vào nhau thì điều này lại rất khó làm được.

Con người trung thành với sự thật đã biết gọi là trung thực; không trung thành với sự thật thì gọi là hư ngụy. Còn có những người chỉ trung thành với những sự thật đã qua chọn lọc, đây không gọi là trung thực, cũng chẳng gọi là hư ngụy, tôi gọi nó là sự phù phiếm. Đây là một cách nói hàm súc, nhìn thoáng qua thì không đủ xác đáng, nhưng thực tế lại rất hợp đạo lý: Con người chọn lựa sự thật, luôn xuất phát từ tâm cảnh phù phiếm. Có lần, tôi đọc tuyển tập văn chương của một học giả Tân Nho giáo hải ngoại (tôi không hề có định kiến với Tân Nho giáo hải ngoại, chỉ là nêu một ví dụ), tác giả chốc lát dẫn Đông, chốc lát dẫn Tây, từ Max Weber đến "văn học tìm cội nguồn" của người da đen Mỹ hiện đại đều dẫn cả lượt, các ví dụ đưa ra đều không mấy xác đáng, những sự việc thực sự cần dẫn thì ông ta lại không dẫn. Tôi càng đọc càng không hiểu, bèn nổi cáu, quyết phải đọc cho hiểu mới thôi. Cuối cùng thấy một bài trả lời phỏng vấn của ông ta tại Đài Bắc, tự gắn cái học vấn mình nghiên cứu với "xây dựng văn hóa" của chính quyền Đài Loan - nhìn tới đây, tôi mới hiểu ra vấn đề. Tôi còn biết chính quyền Đài Loan lôi kéo học giả hải ngoại là không kể vốn liếng, đây chính là nguyên nhân của sự phù phiếm - tất nhiên, nguyên nhân xa hơn còn có thể truy ngược về khoa cử, bát cổ văn, người ta nếu coi học vấn là vốn liếng để tiến thân, thì lòng dạ ắt sẽ nổi trôi, phù phiếm. Trung thực không phải là thế mạnh của giới học thuật, vì quá trung thực thì sẽ trở nên "phi học thuật"; sự trung thực mà tiên sinh Phí thể hiện trong "Giang thôn kinh tế", quả thực là phượng mao lân giác. Có một phóng viên nước ngoài hỏi tiên sinh Phí: Ông nghĩ Trung Quốc bao lâu nữa mới xuất hiện thêm một Phí Hiếu Thông nữa? Ông đáp: Năm mươi năm. Câu này tôi thực sự không tin, nhưng e rằng cuối cùng vẫn đành phải tin.

Xã hội học tra khảo: Lý Ngân Hà gần đây đã hoàn thành một nghiên cứu về tình cảm và tình dục của phụ nữ, báo cáo đã được đăng trên "Trung Quốc xã hội khoa học quý san", chuyên khảo đang trong quá trình xuất bản. Nghiên cứu này không áp dụng phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi, phân tích thống kê, mà áp dụng phương pháp điều tra phỏng vấn nhân học văn hóa - mặc dù đây không phải là đặc điểm duy nhất của nghiên cứu này, nhưng cũng đáng để bàn qua một chút.

Nhìn từ bên ngoài, phương pháp điều tra của Lý Ngân Hà thiếu đi màu sắc thần bí - tìm được một người vui vẻ nhận lời phỏng vấn, việc đầu tiên cần quyết định là mọi người gặp nhau thế nào: là cô ấy đến, hay là người ta đến. Sau khi hẹn qua điện thoại rồi, là có thể tiến hành bước tiếp theo.

Nếu là cô ấy đi, cô ấy sẽ xách một chiếc túi cầm tay lên đường, trong túi đựng sổ tay và vài chiếc bút bi, thường là chen chúc lên xe buýt mà đi - vì phải gặp người lạ, nên còn trang điểm một chút, đây đối với cô ấy là một hành động rất trịnh trọng, nhưng người khác e rằng căn bản không nhìn ra. Ở kinh thành, những quý cô ăn mặc lỗi thời nhất, mặc xuề xòa nhất, đại khái chính là các nữ giáo sư, nữ tiến sĩ. Nữ tiến sĩ trang điểm rồi vẫn là nữ tiến sĩ, sẽ không vì thế mà biến thành cô gái quan hệ công chúng... Cứ như vậy, cô ấy đã phỏng vấn rất nhiều người. Điều này khiến mọi người cảm thấy cái gọi là tiến sĩ, giáo sư, cũng chỉ là những người bình thường mà thôi.

Nếu là người ta đến, đối phương phải bước vào tòa nhà ký túc xá nơi cô ấy ở, đi qua hành lang đầy bụi bặm. Nhà cô ấy cũng giống như nhà của những người làm văn hóa bình thường khác, chất đầy sách vở và giấy tờ lộn xộn. Cô ấy mời khách một chén trà thanh, rồi bắt đầu phỏng vấn. Sau khi trò chuyện xong, nếu đã đến giờ ăn cơm, thì mời khách dùng bữa cơm đạm bạc. Mọi thứ đều giống như cách những người làm công ăn lương tiếp đãi bạn bè. Cô ấy chưa bao giờ thanh toán tiền "vé taxi" cho khách, khách cũng không có yêu cầu như vậy, vì nhìn dáng vẻ cô ấy thì không giống người có thể thanh toán tiền "vé taxi". Cùng với việc nghiên cứu tiến hành, càng ngày càng nhiều người từng đến nhà cô ấy, cô ấy không hề cảm thấy điều này có gì không đúng. Có một hôm, một đối tượng điều tra (người bạn này là nam giới, thuộc một nghiên cứu khác) rất kích động nói: Giáo sư Lý, làm như cô thế này không được! Không nên hẹn người lạ đến nhà. Sau đó cô ấy nghĩ một lát, cảm thấy chẳng có gì không ổn, hơn nữa, cũng chẳng còn địa điểm nào khác để hẹn.

Ngoài phương pháp nghiên cứu nhân học mang "đặc sắc Trung Quốc" này ra, còn có những phương pháp khác có thể sử dụng - ví dụ như, áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng, triển khai điều tra bằng bảng câu hỏi. Việc này bắt buộc phải hợp tác với một cơ quan chính phủ nào đó, lại còn phải do khoa xã hội học của một trường đại học thực hiện. Nếu mục tiêu nghiên cứu là một thành phố cỡ trung bình, bạn trước hết phải rút ra một số lượng văn phòng nhất định trong thành phố đó, sau đó lại rút ra số lượng ủy ban cư dân nhất định dưới mỗi văn phòng. Sau đó nữa, từ danh sách cư dân rút ra từng cá nhân. Có một việc tuyệt đối không được bỏ qua, đó là phải căn cứ vào nhu cầu nghiên cứu, đặc biệt đảm bảo người của một nghề nghiệp hoặc nhóm tuổi nào đó phải có một số lượng nhất định. Nói theo thuật ngữ, các mẫu con quy định trong giả thuyết nghiên cứu đều phải có quy mô mẫu đầy đủ. Điều tra xong còn phải đem so sánh với một số kết quả thống kê cơ bản và tổng điều tra dân số, xem lần điều tra này có tính đại diện hay không. Làm được những điều này, việc lấy mẫu mới coi là có tính khoa học. Tất cả sách giáo khoa xã hội học đều viết bộ phương pháp này, nhưng sách giáo khoa nước ngoài không viết về văn phòng, ủy ban cư dân, danh sách cư dân, chỉ đơn giản nhắc đến việc có thể sử dụng danh bạ điện thoại và hồ sơ nhân khẩu của nhà thờ. Còn một số việc, sách xã hội học trong và ngoài nước đều không đề cập, đó là làm thế nào để tìm được một khoản kinh phí nghiên cứu lớn, làm thế nào để cầu cạnh sự hợp tác của các cơ quan chính phủ, nhưng các nhà xã hội học trưởng thành ắt sẽ nghĩ ra cách, cho nên việc điều tra vẫn có thể tiến hành. Một đội ngũ lớn các điều tra viên (sinh viên đại học) được cán bộ ủy ban cư dân dẫn đường, đi đến từng nhà từng hộ. Nếu bảng câu hỏi liên quan đến quyền riêng tư cá nhân, cán bộ ủy ban cư dân là tuyệt đối cần thiết. Bởi vì người được chọn có thể sẽ từ chối trả lời. Trong tình huống này, những sinh viên khí huyết phương cương sẽ cãi nhau với đối tượng điều tra đang lộ vẻ bực dọc, đối tượng sau sẽ đưa ra một câu hỏi sắc bén: Anh dựa vào đâu mà hỏi tôi? Tại sao tôi phải nói cho anh biết? Người trước không đáp được, tất khó tránh khỏi buông lời khiếm nhã. Còn cán bộ ủy ban cư dân có thể kịp thời xuất hiện, đưa đối tượng sau sang một bên, tiến hành giáo dục và thuyết phục anh ta (hoặc cô ta). Sau đó anh ta (hoặc cô ta) đành nhẫn nhịn quay lại, trả lời những câu hỏi nhạy cảm này. Phải nhấn mạnh chỉ ra rằng, cảnh tượng điều tra này không phải là tưởng tượng của người viết, tôi từng làm việc ở đơn vị nghiên cứu xã hội học, những chuyện này tôi đều biết. Tôi luôn cảm thấy, nếu có tình trạng đối tượng điều tra không tự nguyện, thì bảng câu hỏi điền ra cũng không còn tính khoa học nữa.

Theo kinh nghiệm của tôi, điều tra bằng bảng câu hỏi có hai cửa ải lớn, một là làm sao tìm tiền và nhận được sự hợp tác của cơ quan chính phủ, hai là làm thế nào để đối tượng điều tra trả lời câu hỏi của mình. Đối với điều tra xã hội thông thường, vấn đề thứ nhất lớn hơn; đối với vấn đề nhạy cảm, vấn đề thứ hai lớn hơn. Tóm lại mà nói, vấn đề thứ nhất là: làm thế nào để có được một mẫu khoa học. Vấn đề thứ hai là: làm thế nào để người trong mẫu hợp tác. Ở đề tài như tình dục, vấn đề thứ hai cơ bản không thể khắc phục. Lấy ví dụ nước ngoài để minh họa điểm này, nước Mỹ cách đây không lâu đã tiến hành một cuộc điều tra về hành vi tình dục, vấn đề thứ nhất giải quyết cực tốt, Quốc hội cấp cho các nhà xã hội học một khoản tiền lớn để làm nghiên cứu này, chính phủ cũng mở hồ sơ nhân khẩu bảo mật (số an sinh xã hội) cho các nhà xã hội học, vì vậy họ có thể có được mẫu cực tốt, có thể khiến các nhà xã hội học khác ghen tị một trăm năm. Nhưng sự việc xảy ra sau đó lại không khiến người ta ghen tị, trong số những người được rút trúng, có rất nhiều người không hài lòng với việc mình bị lọt vào mẫu này - họ không chịu nói. Như đã nói ở trên, nước Mỹ không có cán bộ ủy ban cư dân, cảnh sát đối với chuyện này cũng không tiện can thiệp. Cho nên họ áp dụng một phương pháp khác: bám riết. Tôi rút trúng anh, anh không nói, tôi cứ liên tục tìm anh. Có người bị tìm nhiều nhất tới mười bốn lần, khiến bạn phiền đến chết. Làm như vậy xong, các nhà xã hội học về tình dục của Mỹ cuối cùng có thể dùng giọng điệu của Gestapo đắc ý tuyên bố rằng: Đa số mọi người đều đã nói. Còn sót lại một vài người không nói, nhưng ngay cả trong phòng tra khảo của Gestapo, cũng sẽ có vài "xương cứng" thực sự thà chết không nói, nhà xã hội học không cần vì vậy mà xấu hổ. Điều thực sự đáng xấu hổ là báo cáo nghiên cứu của họ: kết quả thống kê tự mâu thuẫn nhau rất nhiều. Thử nêu một ví dụ, nam giới Mỹ nói, bản thân một tháng có bốn năm lần hành vi tình dục; nữ giới thì nói, một tháng là hai ba lần. Số lần chênh lệch ra giải thích thế nào? - Đàn ông Mỹ chắc chắn không có nhiều người đồng tính và thú tính đến vậy. Lại nêu một ví dụ khác, trong số những người Công giáo thì ít người đồng tính, trong số những người vô thần thì người đồng tính lại nhiều. Nghiên cứu chứng minh, không tin giáo thì sẽ trở thành đồng tính. Tôi e là chính Giáo hoàng La Mã cũng không dám nói đây là sự thật, bởi vì có một cách giải thích trông có vẻ là sự thật hơn, áp lực của tôn giáo khiến người ta không dám nói thật. Cuối cùng người chủ trì nghiên cứu cũng ngượng ngùng thừa nhận, một số người được điều tra đã không nói thật. Phải chỉ ra một cách khách quan rằng, so với các nhà xã hội học khác, nhà xã hội học tình dục có ít cơ hội làm điều tra quy mô lớn, gặp được cơ hội nghìn năm có một này, nên có chút nhiệt tình quá độ, bỏ qua một việc, đó là: tôi muốn nói cho anh cái gì, tôi tự khắc sẽ nói; tôi không muốn nói cho anh, anh có treo tôi lên đánh, tôi cũng không nói cho anh sự thật - huống hồ anh còn không dám treo tôi lên đánh.

Thừa nhận rằng, ngoài việc treo đánh ra, còn có phương pháp khác, ví dụ như, theo dõi người đã chọn, đợi đến chỗ không người, dùng gậy đánh cho ngất xỉu, đặt thiết bị nghe lén trên người họ, như vậy là có thể thu được thông tin đáng tin cậy về hành vi tình dục của họ trong một khoảng thời gian. Ngoài kết quả đáng tin cậy, còn sử dụng công nghệ cao, điều này sẽ khiến những kẻ chạy theo thời thượng hài lòng. Nhưng phương pháp này không dùng được, ngoài việc lỡ tay quá nặng đánh chết người thì khó ăn nói ra, nhà xã hội học cũng phải là công dân tuân thủ pháp luật, không thể tùy tiện đánh gậy người khác. Từ đó có thể rút ra một kết luận: đối tượng nghiên cứu của nhà xã hội học là con người, không phải chuột trong phòng thí nghiệm, đối với họ bắt buộc phải tôn trọng; mọi nghiên cứu bắt buộc phải tiến hành trên cơ sở người được nghiên cứu tự nguyện. Theo ý nghĩa này, phương pháp điều tra mà Lý Ngân Hà sử dụng rất đáng khen ngợi. Cô ấy chủ yếu mời người khác kể lại câu chuyện của bản thân - tất nhiên, bản thân cô ấy cũng có vài câu hỏi cần hỏi, nhưng đều là nhân lúc đối phương kể chuyện nghỉ giữa chừng thì tiện thể hỏi một câu. Nếu câu hỏi nào đó khiến đối phương khó xử, cô ấy chắc chắn sẽ không hỏi. Đó là vì, câu hỏi làm cho đối phương ngượng ngùng, thì trước tiên sẽ làm cho chính bản thân cô ấy ngượng ngùng. Tôi luôn cảm thấy tư liệu cô ấy thu được sẽ rất đáng tin, bởi vì cô ấy đang ở trong văn hóa của chính mình, dùng một trái tim bình thường để điều tra. Cách thức nghiên cứu này có giá trị hơn sự làm bộ làm tịch kiểu học viện - Malinowski khi viết lời tựa cho "Giang thôn kinh tế" của Phí Hiếu Thông cũng từng nói ý này.

Nhớ năm đó, Phí Hiếu Thông làm điều tra ở Giang Thôn. Nơi này ông rất quen, gần như chính là quê hương ông; trò chuyện với dân làng rất thuận tiện, không cần tìm phiên dịch; ông có thể đi lại khắp nơi trong làng, không cần trưởng thôn đi kèm. Cứ như vậy, gần như trong trạng thái tùy ý, ông thu thập được một số tư liệu, viết thành luận văn của mình. Luận văn này nhận được sự đánh giá cực kỳ cao của Malinowski. Malinowski cho rằng, điểm đáng quý của luận văn này nằm ở chỗ nó không bày ra cái vẻ học thuật - cách rất nhiều năm sau, các học giả Trung Quốc đặt cho phương pháp nghiên cứu này một cái tên đậm vẻ học thuật, gọi là xã hội học bản địa. Tôi cảm thấy nghiên cứu gần đây của Lý Ngân Hà có di phong của xã hội học bản địa. Đối lập với nó, đại khái cũng không thể gọi là xã hội học nước ngoài. Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi, phương pháp phân tích thống kê, tuy là phát minh của người nước ngoài, nhưng quả thực là phương pháp khoa học. Khi sử dụng các phương pháp này, bắt buộc phải có sự phê chuẩn và hợp tác của chính phủ, cho nên có thể gọi là xã hội học chính thống. Dẫu đây là điều bất đắc dĩ, nhưng mượn sức mạnh của chính phủ để cưỡng cầu người dân hợp tác thì luôn không hay, bất kỳ nhà xã hội học nghiêm túc nào cũng sẽ cảm thấy trong lòng hổ thẹn. Kết quả nghiên cứu mà các nhà xã hội học Trung Quốc thu được luôn trùng khớp với những gì "cấp trên" muốn nhìn thấy - điều này có lẽ thuần túy là trùng hợp, nhưng những bài văn vẻ quan liêu đọc lên thật sự nhạt nhẽo. Khi điều tra những vấn đề cá nhân nhạy cảm, xã hội học chính thống sẽ gặp khó khăn, trước những khó khăn này, xã hội học lại có sự phát triển, bắt buộc phải có tên gọi mới để biểu thị sự phát triển này. Ví dụ như, phương pháp truy vấn khổ sở mà các nhà xã hội học tình dục Mỹ áp dụng, có thể gọi là xã hội học tra khảo. Lại ví dụ như, phương pháp đánh ngất người rồi gắn thiết bị nghe lén mà chúng ta đã thảo luận, lại có thể gọi là xã hội học hình sự. Cứ phát triển như thế này, xã hội học sẽ mang mùi vị của Đức Quốc xã, phương pháp điều tra của nó mang mùi vị của Himmler; kết quả nghiên cứu của nó mang mùi vị của Goebbels. Tôi cho rằng những mùi vị này không tốt chút nào. So với những điều đó, phương pháp Lý Ngân Hà sử dụng tuy có hơi "thổ" (quê mùa), nhưng lại không có những tác hại này.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 14 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.