Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Sau hai ngày dừng chân, chúng tôi rời Thành phố Great Salt Lake với bụng no nê, cơ thể khỏe khoắn và tâm trạng phơi phới — cường tráng về mặt thể chất nhưng có lẽ chẳng khôn ngoan hơn được bao nhiêu về cái gọi là “vấn đề Mặc Môn” so với lúc mới đặt chân đến. Đương nhiên, chúng tôi thu thập được khối “thông tin”, ngặt một nỗi chẳng biết đâu mà lần, đoạn nào đáng tin, đoạn nào bịp bợm — bởi tất cả đều tuôn ra từ những kẻ mới quen qua đường, nói cho đúng phép là những người xa lạ. Chẳng hạn, người ta bảo rằng vụ “Thảm sát Thung lũng Mountain” rùng rợn hoàn toàn là do da đỏ gây ra, còn dân ngoại đạo thì tiểu nhân tìm cách đổ oan cho phái Mặc Môn; rồi người ta lại bảo, da đỏ có một phần lỗi, mà Mặc Môn cũng dính chàm một nửa; và người ta còn quả quyết chắc nịch rằng ph Mặc Môn mới chính là thủ phạm nhúng tay sâu vào hoặc thậm chí chịu hoàn toàn trách nhiệm cho cuộc tàn sát gian ác và máu lạnh ấy. Chúng tôi nghe đủ mọi phiên bản ly kỳ như vậy, nhưng phải đến tận vài năm sau, khi cuốn sách “Nhà tiên tri Mặc Môn” của bà Waite xuất hiện, kèm theo hồ sơ xét xử những kẻ bị buộc tội của Thẩm phán Cradlebaugh, thì sự thật mới phơi bày: phiên bản sau cùng mới là chính xác và bọn Mặc Môn chính là lũ sát nhân. Mọi nguồn “thông tin” của chúng tôi đều lật lọng đủ ba bề bốn bên, thế là tôi đành dẹp ngay cái ý tưởng hão huyền rằng mình có thể giải quyết “vấn đề Mặc Môn” chỉ trong vỏn vẹn hai ngày. Mặc dù vậy, tôi từng thấy mấy tay phóng viên báo chí làm được điều đó chỉ trong một ngày.

Tôi rời Great Salt Lake với cái đầu mụ mẫm chẳng rõ thực hư nơi ấy ra sao — thậm chí đôi lúc còn tự hỏi quái quỷ gì đang diễn ra ở cái xó xỉnh đó hay thực ra chẳng có cái vẹo gì ở đấy cả. Nhưng rồi tôi sực nhớ ra với một chút nhẹ nhõm trong lòng rằng chúng tôi cũng kịp lượm lặt được dăm ba điều cỏn con mà mình có thể chắc chắn; thế nên hai ngày ở đó xem như không uổng phí. Tỷ như, chúng tôi đã biết chắc rằng cuối cùng mình cũng đặt chân lên miền đất của những kẻ khai hoang, một thực tế phũ phàng và sờ sờ trước mắt.

Giá cả cắt cổ cho những món đồn vặt vãnh là minh chứng hùng hồn cho cước phí đắt đỏ và những khoảng cách vận chuyển làm người ta lú lẫn. Ở miền Đông vào những ngày tháng ấy, đồng tiền có mệnh giá nhỏ nhất là một xu, đại diện cho lượng hàng hóa rẻ mủn có thể mua được. Đi về phía tây Cincinnati, đồng xu nhỏ nhất được lưu hành là đồng năm xu bạc, và chẳng thể mua được thứ gì với số lượng nhỏ hơn “trị giá năm xu”. Đến Thành phố Overland, đồng tiền thấp nhất dường như là đồng hào mười xu; thế nhưng ở Salt Lake, dường như chẳng có cắc bạc nào nhỏ hơn một cắc tư (hai lăm xu) được đem ra tiêu xài, hay nói cách khác, chẳng thể mua nổi bất cứ thứ gì có giá trị dưới hai mươi lăm xu. Chúng tôi vốn đã quen với những đồng xu năm xu lẻ tẻ và hạn mức tối thiểu cho mọi giao dịch tài chính là “trị giá năm xu”; nhưng ở Salt Lake, hễ ai muốn mua một điếu xì-gà: hai mươi lăm xu; muốn mua một cái tẩu đất sét: hai mươi lăm xu; muốn mua một quả đào, một ngọn nến, một tờ báo, một lần cạo râu, hay một ít rượu whiskey của dân ngoại đạo để xoa vào chỗ chai chân nhằm chữa chứng khó tiêu và ngăn ngừa nhức răng: cứ đúng hai mươi lăm xu một nhát, không trật đi đâu được. Lâu lâu nhìn lại cái túi đựng đạn đầy bạc cắc của mình, chúng tôi có cảm giác như đang phung phí tiền của vào những cuộc ăn chơi trác táng, nhưng giở sổ thu chi ra xem thì hóa ra chẳng có chuyện đó.

Thế mà con người ta lại rất dễ thích nghi với những đồng tiền lớn và giá cả đắt đỏ, thậm chí còn đâm ra mê mẩn và tự hào về chúng — quay trở lại với những đồng xu lẻ và giá rẻ mạt mới là điều khó chịu đựng nhất và cần nhiều thời gian nhất để tập quen. Chỉ sau một tháng làm quen với mức giá sàn hai mươi lăm xu, một con người bình thường sẽ sẵn sàng đỏ mặt tía tai mỗi khi nhớ lại cái thời năm xu khốn đốn của mình. Tôi từng bị cái nắng táp và sự ngượng ngùng nung đỏ mặt mũi ở vùng Nevada hào nhoáng biết bao lần, mỗi khi hoài niệm về trải nghiệm tài chính đầu đời ở Salt Lake. Sự tình là thế này (đây là cách nói ưa thích của các nhà văn lớn, nghe rất gọn gàng thanh thoát, ngặt nỗi chẳng bao giờ tôi nghe thấy ai mở mồm ra nói “sự tình là thế này” cả ngoài đời). Một tên con lai trẻ tuổi có làn da vàng khè như con ong vò vẽ hỏi tôi có muốn đánh bóng đôi ủng của nó... à nhầm, đánh bóng đôi ủng của tôi không. Chuyện xảy ra tại Khách sạn Salt Lake vào cái buổi sáng ngay sau khi chúng tôi tới nơi. Tôi bảo có, và thế là hắn đánh bóng chúng. Đoạn tôi chìa ra một đồng năm xu bạc, với cái vẻ mặt nhân từ của một kẻ đang ban phát sự giàu sang và phước lộc cho một kẻ nghèo hèn khốn khổ. Tên mặt vàng đón lấy đồng bạc với cái vẻ mà tôi đoán là sự xúc động đang kìm nén, rồi cung kính đặt nó nằm chễm chệ ngay giữa lòng bàn tay rộng bản của hắn. Sau đó, hắn đăm đăm ngắm nghía nó, tựa như một nhà hiền triết đang săm soi cái tai của một con muỗi qua thấu kính rộng của chiếc kính hiển vi. Mấy gã thợ săn miền núi, nài xe, đánh xe ngựa, v.v., bèn xúm lại, lọtỏm vào bức tranh sinh động ấy và lăn ra săm soi đồng tiền với cái sự dửng dưng đầy chất phác đối với mọi phép xã giao vốn là đặc điểm dễ nhận thấy ở những kẻ khai hoang gan dạ. Lát sau, tên mặt vàng trả lại đồng năm xu cho tôi và bảo rằng tốt nhất tôi nên nhét tiền vào ví thay vì giấu sâu trong tâm hồn, bằng không nó sẽ bị co quắp và teo tóp lại mất!

Chao ôi, một tràng cười thô tục vang lên rền trời! Tôi quất cho tên lai giống quái đản ấy một trận tơi bời ngay tại chỗ, nhưng miệng vẫn cứ toe toét cười suốt trong lúc tôi lột da đầu hắn, bởi câu nói của hắn quả thực rất đáng khen đối với một thằng “Da đỏ”.

Phải rồi, chúng tôi đã học được cách cắn răng chịu đựng những mức giá cắt cổ ở Salt Lake mà không để lộ một chút run rẩy nào ở vẻ bề ngoài — bởi thậm chí từ trước đó, chúng tôi đã vô tình nghe ngóng và nắm bắt được giọng điệu của mấy tên đánh xe, lơ xe, gác chuồng ngựa, và rộng hơn là của cả những cư dân Salt Lake, cho đến khi chúng tôi hiểu rõ mười mươi rằng những sinh linh bề trên ấy vô cùng khinh bỉ đám “dân di cư”. Chúng tôi tuyệt đối không để lộ bất kỳ cái rùng run hay nhăn nhó tố cáo nào trên nét mặt, bởi chúng tôi muốn ra dáng những kẻ khai hoang, hoặc bọn Mặc Môn, mấy tên con lai, nài xe, xà ích, lũ sát nhân Thung lũng Mountain — bất cứ thứ gì trên đời này mà vùng đồng bằng và xứ Utah kính trọng và ngưỡng mộ — chứ chúng tôi vô cùng xấu hổ khi bị coi là “dân di cư”, và lấy làm tiếc đứt ruột vì mình lại mặc áo sơ mi trắng và chẳng thể văng tục trước mặt phụ nữ mà không phải quay mặt đi chỗ khác.

Và sau này, không biết bao nhiêu lần ở Nevada, chúng tôi lại có dịp cay đắng nhớ lại rằng mình vốn chỉ là “dân di cư”, và hệ quả là một giống loài thấp kém, hạ đẳng. Có lẽ độc giả đã từng ghé thăm Utah, Nevada, hay California, dẫu là vào tận những ngày tháng gần đây, và trong lúc thầm thì với bản thân về sự lưu đày đáng thương của những vùng đất này khỏi cái gọi là “thế giới”, đã bị bẻ gãy cái tôi kiêu hãnh khi nhận ra rằng chính mình mới là kẻ đáng thương hại, và xung quanh ông ta có cả một cộng đồng sẵn sàng và vui lòng làm ơn làm phước điều đó cho ông — vâng, những kẻ đang thản nhiên giáng điều đó lên đầu ông bất cứ nơi nào ông đặt chân tới.

Khốn khổ thay, họ đang chế giễu cái mũ của hắn; cả kiểu cắt của chiếc áo khoác New York; sự câu nệ thái quá về ngữ pháp; những lời thề thốt yếu ớt; cùng sự dốt nát ngớ ngẩn đến mức cháy túi về các mỏ quặng, giếng mỏ, đường hầm, và đủ thứ món khác mà hắn chưa từng thấy bao giờ, cũng chẳng mảy may hứng thú để đọc đến. Và trong suốt khoảng thời gian hắn cứ mải bận tâm suy nghĩ về cái số phận bi đát khi bị đày ải đến chốn phương xa heo hút, vùng đất cô quạnh ấy, thì những cư dân xung quanh lại đang nhìn hắn với một niềm thương hại sát thương tận gốc chỉ vì hắn chỉ là một tên “dân di cư” chứ không phải là sinh vật kiêu hãnh và diễm phúc nhất tồn tại trên cõi đời này: một tay “ĐÀO VÀNG NĂM 49”.

Cuộc sống quen thuộc trên xe ngựa lại bắt đầu, và đến nửa đêm thì suýt chút nữa chúng tôi có cảm giác như mình chưa từng rời khỏi cái ổ ấm cúng giữa những bao thư tín bao giờ. Tuy nhiên, chúng tôi đã thực hiện một thay đổi nhỏ. Chúng tôi đã chuẩn bị đủ bánh mì, thịt giăm bông luộc và trứng luộc chín để có thể nhét đầy bụng suốt gấp đôi quãng đường sáu trăm dặm hành trình bằng xe ngựa vẫn còn đang chờ phía trước.

Và thật là một cảm giác dễ chịu biết bao trong những ngày tháng tiếp theo khi được ngồi thẳng người ngắm nhìn bức tranh toàn cảnh hùng vĩ của núi non và thung lũng trải dài bên dưới, vừa nhấm nháp giăm bông và trứng luộc trong khi tâm hồn bay bổng thả mình theo những dải cầu vồng, những trận dông bão và những buổi hoàng hôn tuyệt mỹ. Chẳng có gì tôn lên cảnh sắc tuyệt vời hơn là trứng và giăm bông. Giăm bông với trứng, rồi sau đó châm một cái tẩu thuốc — thứ tẩu thuốc cũ kỹ, nặng đô, thơm phức — giăm bông, trứng và phong cảnh thiên nhiên, một con dốc thoải đổ xuống, chiếc xe ngựa phóng như bay, một làn khói tẩu ngào ngạt và một trái tim mãn nguyện — chừng đó thôi là đủ tạo nên hạnh phúc. Đó là cái đích mà bao đời nay nhân loại vẫn luôn oằn mình tranh đấu để đạt cho bằng được.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.