Những số liệu thống kê về án mạng và hội đồng xét xử ấy lại làm tôi nhớ đến một phiên tòa vô cùng kỳ lạ cùng vụ án tử hình diễn ra cách đây hai mươi năm. Đó là một mẩu chuyện lịch sử quen thuộc với tất cả những người California kỳ cựu, và rất đáng để những vùng đất khác trên trái đất—những nơi ưa chuộng công lý đơn giản, thẳng thắn mà không bị vướng bận bởi đám giấy tờ lôi thôi—cùng biết tới. Tôi xin lỗi vì sự lan man này, nhưng thông tin mà tôi sắp sửa mang lại đã là lời xin lỗi đủ sức thuyết phục rồi. Và vả lại, từ trước đến nay tôi vẫn luôn luyên thuyên ngoài lề, có lẽ tốt nhất là cứ dẹp luôn mấy lời xin lỗi quái quỷ ấy đi để tránh làm người đọc phải phát bực.
Thuyền trưởng Ned Blakely—cái tên ấy dùng tạm thế cho bất kỳ cái tên bịp bợm nào khác cũng được (vì vị thuyền trưởng vẫn còn sống nhăn vào thời điểm ghi nhận gần nhất, và có khi chẳng thèm màng đến chuyện nổi danh)—đã chỉ huy những con tàu ra khơi từ bến cảng San Francisco ròng rã suốt nhiều năm trời. Ông là một lão bói cá kỳ cựu, vạm vỡ, tốt bụng và có đôi mắt tinh anh như chim ưng, kẻ đã gắn bó với nghề biển gần nửa thế kỷ—lênh đênh sóng nước từ thuở còn là một chú nhóc tì. Ông là một gã thô lỗ, bộc trực, gan góc đến cùng mình, nhưng cũng ngây ngô và cứng đầu y hệt như thế. Ông căm ghét cay đắng những lề thói xã giao rườm rà—đối với ông, “công việc ra công việc” là trên hết. Ông mang trọn vẹn cái máu báo thù của một hải hồ đối với những mánh khóe lắt léo của luật pháp, và đinh ninh rằng mục đích cùng tột lẫn tôn chỉ trước sau như một của luật pháp lẫn lũ luật sư chẳng qua chỉ là bóp nghẹt công lý mà thôi.
Ông từng nhận lệnh chỉ huy một con tàu chở phân chim guano để giương buồm đến quần đảo Chincha. Đoàn thủy thủ của ông toàn là những tay hảo hán, nhưng người bạn đồng hành da đen mới là cục cưng của ông—suốt bao nhiêu năm trời, ông đã trút hết lòng mến mộ và kính trọng lên đầu gã. Đó là chuyến hải trình đầu tiên của thuyền trưởng Ned đến quần đảo Chincha, nhưng tiếng tăm của ông thì đã bay xa từ trước—tiếng tăm của một kẻ sẵn sàng lao vào chiến trận chỉ vì một tiếng rơi khăn nếu dám bị chèn ép, và tuyệt nhiên không chịu dung thứ cho bất kỳ thói hách dịch nào. Ấy là một danh tiếng hoàn toàn xứng đáng. Vừa đặt chân đến các hòn đảo, ông đã nhận ra đề tài bàn tán rôm rả nhất chính là những chiến tích của một tên côn đồ bặm trợn tên là Bill Noakes, kẻ đang làm phó tàu trên một thương thuyền. Tên này đã tạo ra cả một triều đại khủng bố nho nhỏ tại đây. Vào lúc chín giờ đêm, thuyền trưởng Ned thui thủi một mình bước đi trên boong tàu dưới bầu trời đầy sao. Bỗng một bóng người leo qua mạn tàu và tiến lại gần ông. Thuyền trưởng Ned cất tiếng:
– Ai đấy?

– Ta đây, Bill Noakes, kẻ cộm cán nhất mấy hòn đảo này.
– Mày muốn gì khi bước lên con tàu này?
– Tao nghe danh thuyền trưởng Ned Blakely đã lâu, và một trong hai đứa chúng ta phải có kẻ giỏi giang hơn—tao muốn biết chắc đó là ai trước khi đặt chân lên bờ.
– Mày tìm đúng chỗ rồi đấy—tao chính là thứ mày đang kiếm. Tao sẽ dạy cho mày biết thế nào là bén mảng lên tàu người khác mà không có thiếp mời.
Ông chộp lấy Noakes, đẩy giật gã vào cây cột buồm chính, nện cho khuôn mặt gã nhừ tử như bột rồi tống cổ thẳng xuống biển.
Noakes vẫn chưa chịu khuất phục. Tối hôm sau, gã lại mò lên, để cho mặt mũi được bồi thêm một trận tơi bời hoa lá nữa, rồi lại cắm đầu lao xuống nước y như cũ.
Lần này thì gã đã thỏa mãn.
Đúng một tuần sau, khi Noakes đang chè chén say sưa cùng đám thủy thủ trên bờ vào lúc giữa trưa, người bạn đồng hành da đen của thuyền trưởng Ned đi ngang qua, và Noakes liền giở trò kiếm chuyện gây gổ. Người da đen khôn khéo né tránh cái bẫy ấy rồi tìm cách chuồn lẹ. Noakes đuổi theo sát gót; người da đen đành cắm cổ chạy; Noakes liền rút súng lục bắn hạ anh ta ngay tại chỗ. Nửa tá thuyền trưởng tàu biển đã mục sở thị toàn bộ sự việc. Noakes cùng hai tên côn đồ khác lủi thủi rút lui về căn cabin nhỏ phía đuôi tàu của mình, lớn giọng tuyên bố rằng bất kỳ kẻ nào bén mảng bén mỏi bước vào đây sẽ phải nhận lấy cái chết. Chẳng một ai dám ho hoe bám theo bọn ác ôn ấy; chẳng mống nào có ý định làm thế, và thực tế là cũng chẳng ai thèm bận tâm đến một phi vụ rách việc như vậy. Nơi đây chẳng có lấy một tòa án hay bóng dáng quan chức nào; chẳng có luật pháp ra hồn; quần đảo vốn thuộc về Peru, nhưng Peru thì ở tận đẩu tận đâu; họ chẳng hề cử một vị đại diện chính quyền nào túc trực tại chỗ, và các quốc gia khác cũng vậy.
Thế nhưng, thuyền trưởng Ned chẳng buồn bận tâm nhức đầu vì mấy chuyện đó. Chúng chẳng dính dáng gì đến ông. Ông đang sôi sục căm phờ và điên cuồng đòi công lý. Đúng chín giờ tối, ông nạp đầy đạn ghém vào khẩu súng hai nòng, lôi ra một cặp còng số tám, vớ lấy chiếc đèn lồng trên tàu, gọi giật người quản giáp dậy rồi hùng hục kéo nhau lên bờ. Ông gằn giọng:
– Mày thấy con tàu đậu ở cầu tàu kia chứ?
– Rõ, thưa ngài.
– Đó là chiếc Venus.
– Rõ, thưa ngài.
– Mày... mày biết tao chứ.
– Rõ, thưa ngài.
– Rất tốt. Giờ thì cầm lấy cái đèn lồng. Giữ nó sát dưới cằm ấy. Tao sẽ đi đằng sau, tì nòng súng này lên vai mày, chĩa thẳng về phía trước—như thế này này. Cầm cái đèn cho cao lên để tao còn thấy đường xá phía trước mặt cho rõ. Tao chuẩn bị đột nhập vào sào huyệt của thằng Noakes đây—để bắt cổ nó—và tống giam luôn cả bọn kia. Nếu mày mà dám chùn bước—ừm, mày thừa biết tính tao rồi đấy.
– Rõ, thưa ngài.
Cứ theo đội hình ấy, họ lững thững bước lên tàu một cách lặng lẽ cho đến khi tới cửa hang ổ của Noakes. Người quản giáp đẩy tung cánh cửa ra, và ánh đèn lồng lập lòe đã rọi rõ mặt ba tên côn đồ đang ngồi bệt dưới sàn. Thuyền trưởng Ned dõng dạc:

– Tao là Ned Blakely đây. Tụi mày đang nằm trong tầm ngắm của tao rồi đấy. Đứa nào đứa nấy cấm nhúc nhích nếu tao chưa cho phép. Hai đứa bay, quỳ xuống góc tường kia mau; úp mặt vào tường cho tao. Còn mày, Bill Noakes, đeo còng vào; tiến lại đây mau. Quản giáp, khóa chặt chúng nó lại. Được rồi. Cấm đứa nào nhúc nhích, nghe chưa. Quản giáp, cắm chìa khóa ra phía ngoài cửa cho tao. Giờ thì thế này, tao sẽ khóa nhốt hai đứa tụi mày ở trong này; và nếu tụi mày dám đập cửa định tẩu thoát—ừm, chắc tụi mày cũng từng nghe danh tiếng của tao rồi đấy. Bill Noakes, bước ra phía trước, xóc hàng lên và hành quân mau. Chuẩn bị xong xuôi. Quản giáp, khóa cửa lại.
Noakes đã trải qua một đêm nằm trên tàu của Blakely với tư cách là tù nhân bị canh gác cẩn mật. Sáng tinh mơ, thuyền trưởng Ned cho người đi mời tất cả các vị thuyền trưởng đang neo đậu trong vũng tàu đến tham dự buổi lễ trên tàu của ông lúc chín giờ đúng—với đầy đủ nghi thức hàng hải—để chứng kiến cảnh treo cổ Noakes ngay tại xà ngang cột buồm!
– Cái gì cơ! Gã đó đã được đem ra xét xử quái đâu.
– Đương nhiên là chưa rồi. Nhưng chẳng phải nó đã giết chết thằng da đen đấy sao?
– Thì đúng là vậy; nhưng anh không định treo cổ hắn mà không cần qua xét xử đấy chứ?
– Xét xử! Tao cần mẹ gì phải đem nó ra xét xử, khi mà chính mắt tao thấy nó giết thằng da đen?
– Ồ, thuyền trưởng Ned, làm thế đời nào được. Anh hãy nghĩ xem thiên hạ người ta xì xào thế nào đi chứ.
– Xì xào thì cứ mặc xác thiên hạ! Chẳng lẽ nó không giết thằng da đen à?
– Thì đúng, đúng là thế rồi, th thuyền trưởng Ned,—chẳng ai chối cãi chuyện đó cả,—nhưng mà—
– Thế thì tao cứ treo cổ nó lên, thế thôi. Mọi người tao gặp đều nói y hệt như mấy cậu. Ai nấy đều bảo nó giết thằng da đen, ai cũng biết tỏng là nó giết thằng da đen, vậy mà hết thảy lũ ngốc chúng mày lại cứ khăng khăng đòi đem nó ra tòa xử phét. Tao chẳng tài nào hiểu nổi cái thứ ngu ngốc đẫm máu ấy. Xử phét ư! Này nhé, tao không phản đối việc đem nó ra tòa đâu, nếu làm thế mới vừa lòng đại gia đình nhà các cậu; và tao cũng sẽ có mặt, đóng góp sức lực nhiệt tình luôn; nhưng mà hoãn vụ ấy đến chiều đi—hoãn lại đến chiều cho tao nhờ, vì tay chân tao đang bận rộn bù đầu với cái đám tang đây này—
– Ô hay, ý anh là sao chứ? Anh định cứ thế đem hắn ra treo cổ—rồi mới đem xét xử sau á?
– Chẳng phải tao vừa nói là tao sẽ treo cổ nó còn gì. Tao chưa từng thấy cái giống người nào dở hơi như tụi bay. Cần quái gì trước với sau? Các cậu đòi xin ơn huệ, rồi đến lúc nhận được lại tru tréo không vừa ý. Trước hay sau thì cũng thế cả thôi—tụi bay thừa biết kết cục phiên tòa sẽ ra sao rồi đấy. Nó đã giết thằng da đen. Này—tao phải đi đây. Nếu người phó tàu của cậu có nhã ý muốn đi xem treo cổ, cứ dắt theo luôn nhé. Tao khoái hắn đấy.
Cả đám chấn động mạnh. Các vị thuyền trưởng kéo nhau đến một bầy để nài nỉ thuyền trưởng Ned đừng làm cái điều liều lĩnh ấy. Họ hứa hẹn sẽ tự lập một hội đồng xét xử gồm toàn những thuyền trưởng có phẩm giá cao quý nhất; họ sẽ lập bồi thẩm đoàn; họ sẽ tiến hành mọi thứ theo đúng cung cách nghiêm túc của một đại sự, đảm bảo mang lại một phiên tòa công tâm và một sự phán xử công bằng cho bị cáo. Họ còn dọa rằng hành vi đó sẽ bị khép tội mưu sát, và thế nào cũng bị các tòa án Mỹ trừng trị nếu ông cứ khăng khăng tự ý treo cổ bị cáo ngay trên tàu của mình. Họ nài nỉ đến rát cả cổ. Thuyền trưởng Ned đáp:
– Các quý ông ạ, tao không phải là kẻ đầu đất hay vô lý. Tao lúc nào cũng sẵn sàng làm những gì đúng đắn nhất có thể. Sẽ mất bao lâu hả?
– Chắc chỉ một lát thôi.
– Thế tao có được dẫn nó lên bờ và treo cổ ngay sau khi các cậu xong việc không?
– Nếu hắn ta thực sự phạm tội, hắn sẽ bị treo cổ mà không phải chần chừ thêm chút nào.
– Nếu hắn thực sự phạm tội. Lạy thần Neptune vĩ đại, chẳng lẽ nó chưa phạm tội chắc? Rõ là nực cười hết chỗ nói. Sao tụi mày ai cũng biết tỏng là nó có tội cơ mà.
Nhưng cuối cùng họ cũng thuyết phục được ông rằng họ không hề giở trò mờ ám gì đằng sau. Lúc bấy giờ ông mới phán:
– Thôi được rồi. Cứ tiến hành xử phét đi, còn tao sẽ lững thững đi xuống dò xét lại tâm can thằng đó và chuẩn bị cho nó hành trình về cõi vĩnh hằng—chắc nó đang cần lắm đấy, và tao thì không muốn tống cổ nó đi mà không cho nó một cơ hội chuẩn bị trước ở thế giới bên kia.
Đây lại là một khúc mắc nữa. Cuối cùng họ phải vất vả lắm mới nhồi nhét vào đầu ông được rằng việc áp giải bị cáo đến tòa là điều bắt buộc. Thế là họ bảo sẽ cử một toán lính canh đi lôi cổ gã tới.
– Không, các ngài ạ, tao thích tự tay đi bắt nó hơn—để nó khỏi sổng mất khỏi tay tao. Hơn nữa, thế nào tao cũng phải tạt về tàu để lấy một sợi dây thừng đã.
Tòa án được triệu tập với đầy đủ nghi thức trang trọng, bồi thẩm đoàn được lập ra, và chẳng mấy chốc thuyền trưởng Ned đã bước vào, một tay dắt tù nhân, tay kia kẹp một cuốn Kinh Thánh và một sợi dây thừng. Ông ngồiệ xuống cạnh tên tù nhân của mình rồi ra lệnh cho tòa án “nhổ neo và kéo buồm lên”. Sau đó, ông đảo cặp mắt sắc như dao cạo quét qua bồi thẩm đoàn, và lập tức tóm ngay được hai chiến hữu của Noakes—chính là hai tên côn đồ kia.
Ông sải bước đến gần và thì thầm với chúng:
– Tụi bay mò tới đây để phá rối chứ gì, thấy ngay mặt rồi nhé. Giờ thì bảo đảm phải bỏ phiếu cho đúng vào, nghe chưa?—bằng không thì sẽ có một phiên điều trần hai nòng được mở ngay tại đây sau khi cái phiên tòa này tàn cuộc, và phần xác còn lại của tụi bay sẽ được gói ghém cẩn thận gửi về nhà trong dăm cái giỏ đấy.
Lời cảnh cáo ấy đã mang lại quả ngọt. Bồi thẩm đoàn hoàn toàn đồng thuận—với một bản án duy nhất: “Có tội.”
Thuyền trưởng Ned chồm phắt dậy dõng dạc:
– Lại đây nào—dù sao thì mày cũng là con mồi của tao rồi, chàng trai trẻ ạ. Các ngài đã làm rạng danh bản thân lắm rồi đấy. Tao xin trân trọng mời tất cả các ngài đến mục sở thị tao thi hành án cho thật chu đáo gọn gàng. Đi theo tao ra hẻm núi cách đây một dặm nhé.
Hội đồng xét xử liền thông báo rằng một vị cảnh sát trưởng đã được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ treo cổ, và—
Sự kiên nhẫn của thuyền trưởng Ned đã cạn sạch. Cơn thịnh nộ của ông bùng lên vô bờ bến. Về phần cái gã cảnh sát trưởng, chủ đề ấy đã được khéo léo lờ đi cho êm chuyện.
Khi đám đông kéo đến hẻm núi, thuyền trưởng Ned liền thoăn thoắt trèo lên cây dựng sẵn tròng lọng, rồi tuột xuống để tròng vào cổ nạn nhân. Ông lật giở cuốn Kinh Thánh, cởi chiếc mũ và đặt sang một bên. Lựa chọn ngẫu nhiên một chương, ông cất vang giọng trầm đục đọc vanh vách từ đầu đến cuối với vẻ vô cùng cung kính và nghiêm cẩn. Xong xuôi, ông phán:
– Này chàng trai, mày chuẩn bị dắt tay lên trời để mà giải trình về cuộc đời mình rồi đấy; và cái bản kê khai của một thằng càng ít tội lỗi bao nhiêu, thì lại càng tốt cho nó bấy nhiêu. Hãy mau khai sạch sẽ ra, và mang theo một củ cho thật sạch sẽ để mà còn qua màn kiểm duyệt nhé. Mày đã giết thằng da đen phải không?

Không một lời đáp. Một khoảng lặng kéo dài dằng dặc.
Viên thuyền trưởng lại tiếp tục đọc một chương khác, thỉnh thoảng lại dừng lại một nhịp để khoét sâu sức ảnh hưởng của lời kinh. Đoạn, ông bắt đầu thuyết giảng một bài giáo lý thật chân thành và đầy sức thuyết phục, rồi kết thúc bằng cách lặp lại câu hỏi cũ:
– Thế mày có giết thằng da đen không?
Chẳng có câu trả lời nào ngoài một cái lườm nguýt đầy sát khí. Lần này, viên thuyền trưởng nghiêm trang đọc chương một và chương hai của sách Sáng thế ký với tất cả sự xúc động sâu sắc—dừng lại một thoáng, cung kính khép lại cuốn sách và cất lời với một chút thỏa mãn rõ mười mươi:
– Xong. Bốn chương liền nhé. Trên đời này hiếm có ai lại chịu khó nhọc vì mày như tao đâu đấy.
Thế rồi, ông kéo thòng lọng giật thốc kẻ tử tội lên cao và thắt chặt nút dây; đứng đực ra đó chăm chú bấm đồng hồ đúng nửa tiếng đồng hồ rồi mới trao lại cái xác cho tòa án. Chút xíu sau, khi đứng ngắm nghía cái hình hài bất động ấy, một nỗi ngờ vực thoáng hiện trên khuôn mặt ông; rõ ràng là ông đang cảm thấy nhói đau trong lương tâm—một nỗi hoang mang bất định—và ông thở dài lẩm bẩm:
– Chà, có lẽ... lẽ ra tao phải thiêu xác nó luôn mới phải. Nhưng mà tao vẫn luôn cố gắng làm những điều tốt nhất cho hắn mà thôi.
Khi câu chuyện này lan truyền đến tận California (hồi ấy còn đang trong “những ngày hồng hoang”), nó đã dấy lên biết bao lời bàn tán rôm rả, nhưng tuyệt nhiên chẳng làm suy suyển chút danh tiếng nào của vị thuyền trưởng. Trái lại, nó còn làm cho ông nổi như cồn là đằng khác. Dân tình California thời bấy giờ mang trong mình một lối “thi hành” công lý đậm chất mộc mạc và hoang sơ nguyên thủy, thế nên họ hoàn toàn có thể trầm trồ thán phục khi bắt gặp cái phong cách y hệt như thế được áp dụng ở một chốn nào khác.
