Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 70

❊ ❊ ❊

Chúng tôi dừng lại một lát tại một đồn điền để nghỉ ngơi và tiếp nước cho bầy ngựa. Chúng tôi có một cuộc trò chuyện rôm rả với mấy quý ông có mặt ở đó; nhưng có một kẻ, một người đàn ông trung niên với gương mặt ngẩn ngơ, chỉ ngước nhìn lên, chào chúng tôi một câu rồi lại chìm đắm vào những dòng suy tưởng mà sự xuất hiện của chúng tôi vừa cắt đứt. Các chủ đồn điền thì thầm bảo chúng tôi đừng bận tâm — hắn ta bị điên. Họ bảo hắn đến các hòn đảo này để dưỡng bệnh; từng là một mục sư; quê ở Michigan. Họ bảo rằng nếu chẳng mấy chốc hắn tỉnh dậy và bắt đầu huyên thuyên về một bức thư từ nào đó mà hắn từng trao đổi với ông Greeley về một chuyện vặt vãnh nào đấy, chúng tôi phải chiều theo và lắng nghe với vẻ đầy hứng thú; và chúng tôi phải hùa theo cái tưởng tượng của hắn rằng cuộc trao đổi thư từ đó là tâm điểm bàn tán của cả thế giới.

Thật dễ nhận thấy hắn là một sinh linh hiền lành và sự điên rổ của hắn chẳng có chút ác ý nào. Trông hắn nhợt nhạt và có vẻ mệt mỏi, như thể bị vắt kiệt bởi những suy nghĩ rối rắm và nỗi lo âu trong tâm trí. Hắn ngồi thừ người ra một lúc lâu, nhìn chằm chằm xuống sàn nhà, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm một mình và gật đầu tán thành hoặc lắc đầu phản đối nhẹ nhàng. Hắn đã lạc vào thế giới nội tâm của mình, hay vào những hoài niệm. Chúng tôi tiếp tục trò chuyện với những chủ đồn điền, câu chuyện cứ lan man từ chủ đề này sang chủ đề khác. Nhưng cuối cùng, từ “hoàn cảnh” được thốt ra một cách ngẫu nhiên trong lúc trò chuyện đã thu hút sự chú ý của hắn và thắp lên một vẻ háo hức trên khuôn mặt. Hắn quay phắt người lại trên ghế và nói:

“Hoàn cảnh ư? Hoàn cảnh nào? À, tôi biết — tôi biết rõ lắm chứ. Thế ra các anh cũng nghe nói về nó rồi ư.” [Thở dài.] “Thôi, không sao đâu — cả thế giới đã nghe về nó rồi. Cả thế giới. Toàn bộ thế giới luôn. Mà thế giới này cũng rộng lớn lắm chứ bộ, để một chuyện có thể bay đi xa đến thế — phải không nào? Đúng vậy, đúng vậy — vụ trao đổi thư từ giữa Greeley và Erickson đã gây ra cuộc tranh cãi buồn thảm và cay đắng nhất ở cả hai bờ đại dương — vậy mà họ vẫn tiếp tục! Nó mang lại cho chúng tôi sự nổi tiếng, nhưng đổi lại là một sự hy sinh bi thương làm sao! Tôi đã vô cùng đau buồn khi nghe tin nó châm ngòi cho cuộc chiến đẫm ³c và đau thương ở mãi tận bên Ý đó. Chẳng lấy gì làm an ủi cho lắm đối với tôi, sau từng ấy máu đổ thịt rơi, khi biết rằng phe chiến thắng đứng về phía tôi, còn phe thất bại đứng về phía Greeley. — Thật chẳng lấy gì làm an ủi khi biết rằng Horace Greeley phải chịu trách nhiệm cho trận chiến Sadowa, chứ không phải tôi.”

“Nữ hoàng Victoria đã viết thư cho tôi rằng bà ấy cảm thấy y hệt như tôi về chuyện đó — bà ấy nói rằng dù bà có phản đối Greeley và cái tinh thần mà ông ta thể hiện trong những bức thư trao đổi với tôi đến nhường nào đi nữa, bà cũng chẳng đời nào muốn trận Sadowa xảy ra vì dăm ba trăm đô-la. Tôi có thể cho các anh xem bức thư của bà ấy, nếu các anh muốn xem. Nhưng thưa các quý ông, dù các anh có nghĩ là mình biết rõ đến đâu về vụ thư từ khốn khổ đó, các anh cũng không thể hiểu được ngọn nguồn cho đến khi nghe chính đôi môi này kể lại. Nó luôn bị bóp méo trên các mặt báo, và thậm chí là trong cả sử sách. Vâng, ngay cả trong sử sách — hãy nghĩ mà xem! Hãy để tôi — xin hãy để tôi, kể lại mọi chuyện cho các anh nghe, y hệt như những gì đã xảy ra. Tôi thề sẽ không lạm dụng lòng tin của các anh đâu.”

Rồi hắn chồm người về phía trước, tràn ngập sự hứng khởi, đầy vẻ tha thiết, và kể lại câu chuyện của mình — kể một cách đầy khẩn khoản, thế nhưng lại vô cùng giản dị và khiêm nhường; quả thực, cách kể ấy cứ gợi lên trong lòng người nghe suốt buổi rằng đây là một nhân chứng trung thực, đáng kính, đang đưa ra lời khai vì lợi ích thiêng liêng của công lý, và đang tuyên thệ hẳn hoi. Hắn nói:

“Bà Beazeley — bà Jackson Beazeley, một góa phụ ở làng Campbellton, bang Kansas, — đã viết thư cho tôi về một vấn đề vô cùng quan trọng đối với trái tim bà — một vấn đề mà nhiều kẻ có thể cho là tầm thường, nhưng đối với bà lại là nỗi bận tâm sâu sắc. Lúc đó tôi đang sống ở Michigan — phục vụ trong giáo hội. Bà ấy đã và đang là một người phụ nữ đáng kính — một người mà sự nghèo khó và gian khổ đã trở thành động lực thúc đẩy tinh thần chăm chỉ, thay vì là sự nản lòng. Gia tài duy nhất của bà là đứa con trai William, một thiếu niên đang bước vào tuổi trưởng thành; ngoan đạo, hòa nhã, và có một tình yêu tha thiết với nghề nông. Nó là niềm an ủi và là niềm tự hào của người góa phụ. Và thế là, thôi thúc bởi tình mẫu tử dành cho con, bà đã viết thư cho tôi về một vấn đề, như tôi đã nói trước đó, rất gần gũi với trái tim bà — bởi vì nó gần gũi với trái tim đứa con trai. Bà mong muốn tôi bàn bạc với ông Greeley về củ cải trắng. Củ cải trắng chính là giấc mơ thời trẻ đầy hoài bão của đứa con trai bà. Trong khi những thiếu niên khác đang phung phí những năm tháng tuổi trẻ đầy nhựa sống mà Thượng đế ban cho vào những trò tiêu khiển phù phiếm để chuẩn bị cho tương lai hữu ích, thì cậu bé này lại kiên nhẫn bồi đắp tâm hồn bằng những thông tin liên quan đến củ cải trắng. Tình cảm mà cậu dành cho củ cải giống như sự sùng bái vậy. Cậu không thể nghĩ về củ cải mà không xúc động; không thể nói về nó một cách bình thản; không thể ngắm nhìn nó mà không trào dâng niềm hoan hỉ. Cậu không thể ăn nó mà không rơi nước mắt. Tất cả chất thơ trong tâm hồn nhạy cảm của loại rau củ duyên dáng ấy đều đồng điệu với cậu. Ngay từ tiếng chim hót chào bình minh đầu tiên, cậu đã ra thăm luống rau của mình, và khi màn đêm buông xuống lùa cậu rời khỏi đó, cậu lại giam mình trong phòng với những cuốn sách để thu lượm các số liệu cho đến khi giấc ngủ ập đến. Vào những ngày mưa, cậu ngồi trò chuyện hàng giờ liền với mẹ về củ cải trắng. Khi có khách đến nhà, cậu coi đó là bổn phận đầy yêu thương là gạt bỏ mọi thứ khác sang một bên và trò chuyện với họ suốt cả ngày dài về niềm hạnh phúc lớn lao của mình đối với củ cải.”

“Thế nhưng, niềm vui ấy đã thực sự tròn đầy và vẹn toàn chưa? Liệu có mầm mống bất hạnh nào len lỏi ẩn giấu trong đó không? Hỡi ôi, có chứ. Có một con sâu mọt đang gặm nhấm trái tim cậu; nguồn cảm hứng cao cả nhất trong tâm hồn cứ trốn tránh nỗ lực của cậu — đó là: cậu không tài nào biến củ cải trắng thành một loài cây thân leo quấn quýt. Tháng ngày trôi qua; sắc hồng phai dần trên đôi má, ngọn lửa tany biến trong ánh mắt; những tiếng thở dài và sự thẫn thờ đã soán ngôi những nụ cười và câu chuyện vui vẻ. Nhưng một ánh mắt dõi theo đã nhận ra những điều đó và cuối cùng sự đồng cảm của người mẹ đã phá vỡ bức mật mã. Đó là lý do xuất hiện bức thư gửi cho tôi. Bà đã tha thiết cầu cứu — bà nói rằng con trai bà đang héo mòn từng ngày.”

“Tôi vốn xa lạ với ông Greeley, nhưng thì sao chứ? Sự việc đang vô cùng cấp bách. Tôi đã viết thư và khẩn khoản xin ông ấy hãy giải quyết bài toán khó khăn này nếu có thể và cứu lấy mạng sống của cậu học trò. Sự quan tâm của tôi lớn dần, cho đến khi nó hòa quyện vào nỗi lo âu của người mẹ. Tôi đã chờ đợi trong tâm trạng đầy hồi hộp. — Cuối cùng thì câu trả lời cũng đến.”

“Tôi nhận thấy mình không thể đọc nó một cách dễ dàng, vì nét chữ quá xa lạ và cảm xúc của tôi lúc đó cũng đang dâng trào. Có vẻ như nó đề cập một phần đến trường hợp của cậu bé, nhưng chủ yếu lại là những vấn đề khác chẳng mấy liên quan — chẳng hạn như đá lát đường, điện, hàu, và thứ gì đó mà tôi đoán là ‘sự ân xá’ hoặc ‘chủ nghĩa nông nghiệp’, tôi không thể chắc chắn lắm; dẫu vậy, những điều này dường như chỉ được nhắc đến phảng phất, không hơn không kém; chắc chắn là mang tinh thần thân thiện, nhưng lại thiếu đi sự kết nối hoặc mạch lạc cần thiết để có thể hữu dụng. — Tôi tự đánh giá rằng khả năng nhận thức của mình đã bị chi phối bởi cảm xúc, thế nên tôi đành cất bức thư đi và để đến sáng hôm sau.”

“Sáng hôm sau, tôi đọc lại nó một lần nữa, nhưng vẫn trong sự khó khăn và mơ hồ, bởi vì tôi đã mất ngủ đôi chút và tầm nhìn tinh thần hình như bị che mờ. Bức thư lúc này đã có vẻ mạch lạc hơn một chút, nhưng vẫn không đáp ứng được tình huống khẩn cấp mà người ta kỳ vọng. Nó quá lan man. Trông nó có vẻ như thế này, dẫu tôi không chắc chắn lắm về một vài từ:

‘Đa thê ngụy trang uy quyền; chiết xuất cứu chuộc sự phân cực; nguyên nhân từ trước đến nay vẫn tồn tại. Những lời tung hô theo đuổi sự trí tuệ, hoặc mụn cóc thừa kế và lên án. Boston, thực vật học, bánh ngọt, trọng tội gánh vác, nhưng ai sẽ là kẻ xoa dịu? Chúng ta chẳng sợ gì. Kính thư, HEVACE EVEELOJ.’ ”

“Nhưng chẳng có lấy một từ nào nói về củ cải trắng cả. Dường như chẳng có bất kỳ gợi ý nào về cách làm thế nào để khiến chúng mọc lên như cây dây leo. Thậm chí chẳng có lấy một lời nhắc đến gia đình nhà Beazeley. Tôi đã ngủ một giấc để suy ngẫm về sự việc; tôi chẳng ăn tối, cũng chẳng ăn sáng vào ngày hôm sau. Thế là tôi tiếp tục công việc của mình với một bộ não sảng khoái hơn và vô cùng tràn trề hy vọng. Giờ thì bức thư đã mang một diện mạo khác — ngoại trừ phần chữ ký, mà tôi đoán chỉ là một kiểu cách vô hại mang âm hưởng Do Thái. Bức thư chắc chắn là của ông Greeley, vì nó mang tiêu đề in nổi của tờ The Tribune, và tôi chẳng viết cho ai khác ở đó cả. Bức thư, tôi phải nhắc lại, đã mang một diện mạo khác, nhưng ngôn từ của nó vẫn kỳ dị và cứ né tránh vấn đề chính. Lần này nó có vẻ như đang nói rằng:

‘Bolivia ứng biến cá thu; hàn the tôn vinh đa thê; xúc xích héo mòn ở phương Đông. Sáng thế đã mất tích, đã hoàn thành; vì những nỗi thống khổ vốn có, người ta có thể nguyền rủa. Cúc áo, cúc áo, nút chai, địa chất học đánh giá thấp nhưng chúng ta sẽ xoa dịu. Bia của tôi hết rồi. Kính thư, HEVACE EVEELOJ.’ ”

“Rõ ràng là tôi đã làm việc quá sức. Khả năng lĩnh hội của tôi đã bị suy giảm. Vì vậy, tôi dành ra hai ngày để giải trí, rồi quay trở lại với công việc trong trạng thái vô cùng sảng khoái. Bức thư lúc này lại chuyển sang hình thái này:

‘Thuốc đắp đôi khi làm heo nghẹt thở; hoa tuy-líp làm giảm sút hậu duệ; khiến da thuộc phải kháng cự. Những quan niệm của chúng ta trao quyền cho trí tuệ, hãy để ta ban phát nó khi còn có thể. Bơ thì được chứ bánh ngọt nào cũng mặc kệ, nhét đầy bất kỳ kẻ mai táng nào, chúng ta sẽ cai sữa cho hắn khỏi con ngựa cái của hắn. Chúng ta cảm thấy nóng nực. Kính thư, HEVACE EVEELOJ.’ ”

“Tôi vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn. Những điều chung chung này không giải quyết được câu hỏi đặt ra. Chúng thật sắc sảo, đầy sức sống, và được truyền tải với một sự tự tin gần như buộc người ta phải tin theo; nhưng vào một thời điểm thế này, khi một sinh mạng con người đang ngàn cân treo sợi tóc, chúng có vẻ thật không đúng mực, mang tính trần tục và kém tinh tế. Vào bất kỳ thời điểm nào khác, tôi sẽ không chỉ vui mừng mà còn tự hào khi nhận được từ một người như ông Greeley một bức thư thế này, và tôi sẽ nghiền ngẫm nó một cách nghiêm túc để tự hoàn thiện bản thân hết mức có thể; nhưng giờ đây, với cậu bé tội nghiệp ở quê nhà xa xôi đang héo mòn mong ngóng sự cứu rỗi, tôi chẳng còn tâm trí đâu mà học hỏi nữa.”

“Ba ngày trôi qua, và tôi đọc lại bức thư đó. Lại một lần nữa, ý nghĩa của nó đã thay đổi. Lần này nó có vẻ như muốn nói:

‘Những ngụm rượu đôi khi đánh thức rượu vang; củ cải trắng kìm hãm đam mê; những nguyên nhân cần thiết phải nêu rõ. Quấy rối người đàn bà góa tội nghiệp; tài sản của người chồng quá cố của bà ta sẽ bị vô hiệu. Nhưng bụi bẩn, tắm táp, vân vân và mây mây, nếu làm theo một cách không công bằng, sẽ giũ sạch sự dại dột ấy khỏi người hắn — thế nên đừng thề thốt gì cả. Kính thư, HEVACE EVEELOJ.’ ”

“Cái này thì nghe còn có vẻ giống vấn đề hơn. Nhưng tôi đã lực bất tòng tâm. Tôi đã quá kiệt sức. Từ ‘củ cải trắng’ mang lại niềm vui và sự khích lệ tạm thời, nhưng sức lực của tôi đã suy giảm quá nhiều, và sự chậm trễ này có thể mang lại hiểm họa khôn lường cho cậu bé, nên tôi đành từ bỏ ý định tiếp tục giải mã thêm nữa, và quyết định làm điều lẽ ra tôi phải làm từ ngay ban đầu. Tôi ngồi xuống và viết cho ông Greeley thế này:

‘THƯA ÔNG: Tôi e rằng mình không thể hiểu hết bức thư tử tế của ông. Thưa ông, không thể nào có chuyện ‘củ cải trắng kìm hãm đam mê’ được — ít nhất là việc nghiên cứu hay ngắm nhìn củ cải thì không thể — bởi vì chính cái công việc này đã thiêu đốt tâm trí và rút cạn sức lực thể xác của người bạn tội nghiệp chúng tôi rồi. — Nhưng nếu quả thực chúng có kìm hãm được, xin ông hãy chịu khó kiên nhẫn thêm một chút nữa và giải thích xem chúng nên được chuẩn bị thế nào? Tôi thấy ông nói rằng ‘những nguyên nhân cần thiết phải nêu rõ’, nhưng ông lại quên béng mất việc nêu ra chúng rồi.’

‘Do một sự hiểu lầm nào đó, có vẻ như ông đang quy chụp cho tôi những động cơ vụ lợi trong chuyện này — nếu không muốn dùng từ nào nặng nề hơn. Nhưng tôi xin cam đoan với ông, thưa ông kính mến, rằng nếu tôi có vẻ như đang ‘quấy rối người đàn bà góa’, thì tất cả chỉ là bề ngoài và hoàn toàn không có thực. Chẳng phải do tôi mưu cầu gì mà tôi mới vướng vào cái vị trí này đâu. Chính bà ấy đã ngỏ lời nhờ tôi viết thư cho ông. Tôi chưa bao giờ quấy rối bà ấy cả — thực ra tôi còn hầu như chẳng biết gì về bà ta cơ. Tôi chẳng quấy rối ai bao giờ. Tôi chỉ cố gắng bước đi theo cách khiêm nhường của mình, làm những điều đúng đắn nhất có thể, không bao giờ làm hại ai, và không bao giờ tung ra những lời bóng gió. Còn về phần ‘người chồng quá cố của bà ta và khối tài sản’, chúng chẳng có chút sức hút nào với tôi cả. Tôi tin rằng bản thân mình đã có đủ tài sản rồi — dù sao đi nữa tôi cũng sẽ cố gắng xoay sở với chúng, chứ không đời nào đi lủi thủi khắp nơi để tóm lấy tài sản của ai đó bị ‘vô hiệu’ đâu. Nhưng ông không thấy sao? — người phụ nữ này là một quả phụ — bà ấy chẳng có ‘người chồng’ nào cả. Ông ấy đã chết — hoặc giả vờ là đã chết, khi người ta đem chôn ông ấy. Do đó, dù có bao nhiêu ‘bụi bẩn, tắm táp’, vân vân và mây mây đi nữa, cho dù có ‘được làm theo cách không công bằng’ thế nào đi chăng nữa, thì cũng đời nào có chuyện ‘giũ sạch được sự dại dột ấy khỏi người hắn’ — nếu như việc đã chết và biến thành một hồn ma lại được coi là ‘dại dột’. Lời nhận xét kết luận của ông vừa kém tinh tế lại vừa vô duyên chẳng đúng lúc đúng chỗ chút nào; và nếu lời đồn đại là sự thật, thì thưa ông, lẽ ra ông có thể tự áp dụng nó cho chính mình với nhiều ngụm nhọn cay đắng hơn và ít sự bất lịch sự hơn đấy. Trân trọng kính chào, SIMON ERICKSON.’ ”

“Trong vòng vài ngày sau, ông Greeley đã làm cái việc mà lẽ ra ông ấy nên làm sớm hơn để cứu vãn cả một trời rắc rối, cùng biết bao nỗi đau đớn cả về tinh thần lẫn thể xác cùng sự hiểu lầm. Cụ thể là, ông ấy đã gửi một bản sao chép hoặc bản dịch rõ ràng hơn về bức thư gốc của mình, được viết bằng một nét chữ dễ đọc của người thư ký. Thế là màn sương mù bí ẩn đã được xóa sạch, và tôi nhận ra rằng tấm lòng của ông ấy vẫn luôn đúng đắn suốt bấy giờ. Tôi xin đọc lại bức thư ở dạng đã được làm sáng tỏ này:

[Bản dịch.] ‘Khoai tây đôi khi tạo ra dây leo; củ cải trắng vẫn nằm im bất động; nguyên nhân không cần phải nêu rõ. Hãy thông báo cho người đàn bà góa tội nghiệp rằng những nỗ lực của đứa con trai bà ta sẽ chỉ là công cốc. Nhưng chế độ ăn uống, tắm táp, vân vân và mây mây, nếu được tuân thủ đồng đều, sẽ cai sữa cho hắn khỏi chứng dại dột đó — thế nên đừng sợ hãi gì cả. Kính thư, HORACE GREELEY.’ ”

“Nhưng hỡi ôi, đã quá muộn rồi hỡi các quý ông — quá muộn rồi. Sự chậm trễ đầy tội ác ấy đã hoàn thành sứ mệnh của nó — cậu thanh niên nhà Beazeley không còn nữa. Linh hồn của cậu đã bay về một miền đất nơi mọi nỗi lo âu sẽ được xoa dịu, mọi khao khát được thỏa mãn, mọi hoài bão trở thành hiện thực. Cậu thiếu niên tội nghiệp, người ta đã đưa cậu về nơi an nghỉ cuối cùng với một củ cải trắng nằm gọn trong mỗi bàn tay.”

Thế là Erickson kết thúc câu chuyện, rồi lại chìm đắm vào trạng thái gật gù, lẩm bẩm và thẫn thờ. Cội hội giải tán và bỏ mặc hắn ở đó.... Nhưng họ chẳng nói điều gì đã khiến hắn hóa điên. Trong phút chốc bối rối, tôi đã quên béng mất không hỏi.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.