Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHAPTER LXIX.

❊ ❊ ❊

Hướng tới Hawaii (cách đó một trăm năm mươi dặm) để thăm ngọn núi lửa vĩ đại và chiêm ngưỡng những kỳ quan khác làm nên tên tuổi của hòn đảo ấy so với phần còn lại trong quần đảo, chúng tôi nhổ neo rời Honolulu vào một buổi chiều thứ Bảy nọ trên chiếc tuốc-sê cừ khôi mang tên Boomerang.

Con tàu Boomerang dài xấp xỉ hai chiếc xe điện nối đuôi nhau, và bề ngang thì vỏn vẹn bằng một chiếc. Nó nhỏ đến mức (dù vẫn bự con hơn đa phần tàu bè chạy tuyến giữa các đảo) khi đứng trên boong tàu, tôi cảm thấy mình chẳng nhỏ bé hơn bức tượng Colossus ở Rhodes là bao khi vị thần này dang chân đứng chống lên một chiến thuyền. Tôi hoàn toàn có thể với tay chạm tới mặt nước mỗi khi con tàu nghiêng hẳn sang một bên trước những cơn gió lộng. Lúc thuyền trưởng, người bạn đồng hành của tôi (ông Billings), bản thân tôi cùng bốn vị khách khác cùng tụ tập trên góc boong phía sau vốn được dành riêng cho hành khách khoang trên, thì chỗ ngồi đã chật ních — chẳng còn khoẻ cho bất cứ bậc thượng khách nào chen chân vào nổi. Một khu vực khác trên boong, rộng gấp đôi khoang chúng tôi, lại đông nghịt dân bản xứ gồm đủ mọi giới tính, kèm theo nào chó cưng, chiếu có cói, chăn màn, tẩu thuốc, bình bầu đựng poi, rận rỗi, cùng đủ thứ hành lý và xa xỉ phẩm lặt vặt khác. Ngay khi chúng tôi vừa nhổ neo, đám đông bản xứ liền lăn ra nằm la liệt trên boong đông như nêm cối trong trại nhốt nô lệ, họ vừa hút thuốc, tán gẫu, vừa khạc nhổ vào nhau mới thân mật làm sao.

Cái khoang tàu thấp lè tè nằm phía dưới chật chội hơn một cỗ quan tài một chút, và tối như hũ nút. Hai bên vách kê hai cỗ quan tài — ý tôi là hai chiếc giường tầng. Một chiếc bàn nhỏ, vừa khéo chỗ cho ba người ăn tối, áp sát vào vách ngăn phía mũi tàu, và ngay phía trên nó treo lủng lẳng chiếc đèn dầu cá voi ảm đạm nhất từng đem những hình thù ma quái thả vào chốn ngục thất tối tăm. Không gian sàn trống trải chẳng lấy gì làm rộng rãi. Người ta có thể vung nổi một con mèo trong đó, có lẽ vậy, nhưng chắc chắn không phải là một con mèo dài. Hầm tàu nằm phía trước vách ngăn chẳng chứa mấy hàng hóa, và từ sáng đến tối, một lão gà trống béo múp míp với giọng gáy chẳng khác gì con lừa của Balaam, lại thêm cái nết hay khoe giọng, cứ hiên ngang cất bước tuần tra khắp góc tàu ấy rồi dõng dạc gáy vang. Lão thường dùng bữa tối vào lúc sáu giờ, rồi sau đó, dành trọn một tiếng để chiêm nghiệm sự đời, lão nhảy phốc lên một chiếc thùng phuy và gáy vang lừng suốt cả một khoảng thời gian dài trong đêm. Lão ngày càng khàn giọng hơn, nhưng lão nhất quyết khinh khi mọi lý do cá nhân có thể làm xao lãng bổn phận của mình, vẫn kiên cường cất cao tiếng hát bất chấp nguy cơ mắc bệnh bạch hầu đang rình rập.

Chuyện ngủ nghê là điều không tưởng mỗi khi lão ta trực nhật. Lão chính là cội nguồn của sự bực bội và phát điên đích thực. La mắng lão hay dùng những lời lẽ cay độc thóa mạ lão đều vô tích sự — lão chỉ coi đó những tiếng hò reo cổ vũ, và lại gân cổ lên gáy to hơn nữa. Thỉnh thoảng, trong ban ngày, tôi nhặt khoai tây ném qua ô cửa sổ trên vách ngăn vào lão, nhưng lão chỉ lách người né tránh rồi tiếp tục gáy.

Đêm đầu tiên, khi tôi đang nằm trong chiếc quan tài của mình, thừ người ngắm chiếc đèn mờ ảo đưa qua đưa lại theo nhịp chòng chành của sóng nước, và hít hà cái mùi nồng nặc đến buồn nôn của nước đọng dưới đáy tàu, tôi bỗng thấy một sinh vật gì đó phi nước đại qua người mình. Tôi vùng dậy ngay lập tức. Tuy nhiên, tôi lại ngả mình nằm xuống khi nhận ra đó chỉ là một con chuột. Chẳng mấy chốc, thứ gì đó lại phi nước đại qua người tôi thêm lần nữa. Lần này tôi biết chắc không phải chuột, và thầm nghĩ có lẽ là một con rết, bởi buổi chiều hôm đó ngài thuyền trưởng vừa đập chết một con trên boong. Tôi liền tung chăn bật dậy. Cái liếc mắt đầu tiên vào chiếc gối đã phơi bày trước mắt tôi hai tên lính canh gớm ghiếc đang ngự trị ở hai đầu gối — những con gián to bằng chiếc lá đào — lũ tiểu nhân với cặp râu dài rung rẩy cùng đôi mắt đỏ ngầu, hung ác. Chúng đang nghiến răng ken két hệt như sâu ăn lá thuốc lá, và có vẻ đang bất mãn điều gì đó. Tôi từng nghe đồn rằng mấy thứ côn trùng này có thói quen gặm nhấm móng chân của các thủyỷ thủ đang ngủ cho đến tận thịt non, thế là tôi quyết định không thèm bén mảng lên cái giường tầng ấy nữa. Tôi bèn nằm lăn ra sàn. Nhưng rồi một con chuột lại đến quấy rầy tôi, và chẳng bao lâu sau, cả một đoàn gián lũ lượt kéo đến cắm trại ngay trên mái tóc tôi. Chỉ ít phút sau, lão gà trống lại cất tiếng gáy với một tinh thần phấn chấn lạ thường và một bầy rận thì đang thi nhau nhào lộn hai vòng trên người tôi với vẻ hỗn loạn tột cùng, tiện thể cắn cho tôi một miếng mỗi khi chúng đáp xuống. Tôi bắt đầu cảm thấy thực sự cáu tiết. Tôi đứng dậy, mặc quần áo tử tế rồi lững thững bước lên boong tàu.

Những dòng miêu tả trên hoàn toàn không hề phóng đại; đó là bức tranh chân thực về cuộc sống trên những chiếc tuốc-sê chạy tuyến giữa các đảo. Chẳng tài nào mà giữ cho tàu thuyền ở trạng thái bảnh bao, lịch sự nổi khi chúng chở theo toàn mật mía và dân Kanaka.

B bù đắp cho những nỗi thống khổ vừa qua, tôi bất ngờ bắt gặp một khung cảnh tuyệt mỹ đập vào mắt — khi bước phắt ra khỏi thứ ánh sáng âm u như cõi chết của khoang tàu để đứng dưới vánh trăng vằng vặc — giữa lòng một vùng biển lấp lánh tựa bạc lỏng, ngỡ ngàng nhìn những cánh buồm căng phồng trong giông tố, con tàu nghiêng hẳn một bên, dòng bọt sóng giận dữ rít gào lướt qua mạn khuất gió, và những màn nước bạc tung tóe bay cao qua mũi tàu rồi trút mưa xối xả xuống boong; tôi phải bám trụ thật chắc vào bất kỳ vật gì với chiếc mũ sụp xuống trán và tà áo bay phần phật trong gió, để cảm nhận cái cảm giác phấn khích râm ran tận chân tóc và chạy dọc sống lưng khi nhận ra từng tấc vải buồm đang căng gió và con tàu đang rẽ sóng lao đi với vận tốc tối đa. Ở đó chẳng có bóng tối, chẳng có sự mờ mịt hay u ám nào cả. Mọi thứ đều rực rỡ, mọi vật hiện lên vô cùng sắc nét. Từng tên Kanaka nằm la liệt; từng cuộn thừng; từng chiếc bình đựng poi; từng chú chó con; từng đường nới ván sàn; từng chiếc bu-lông; mọi vật thể, dù có nhỏ nhặt đến đâu, đều hiện lên sắc nét và rõ mồn một đến từng đường nét; và cái bóng của cánh buồm lớn trải dài đen ngẫm như một tấm vải tang phủ lên boong tàu, làm nổi bật khuôn mặt ngửa lên trắng bệch của Billings trong vầng hào quang còn thân hình anh ta thì chìm nghỉm trong bóng tối toàn phần.

Sáng thứ Hai, chúng tôi đã áp sát hòn đảo Hawaii. Hai ngọn núi cao của nó hiện ra trước mắt — Mauna Loa và Hualaiai. Ngọn thứ hai là một đỉnh núi uy nghiêm, nhưng vì chỉ cao có mười nghìn feet nên ít khi được nhắc đến hay nghe tên. Mauna Loa thì được đồn là cao tới mười sáu nghìn feet. Những tia sáng lấp lánh của băng tuyết bám chặt lấy đỉnh núi tựa như chiếc móng vuốt trông thật mát mắt làm sao khi ngắm nhìn từ cái khí hậu hầm hập mà chúng tôi đang trải qua. Người ta có thể đứng trên ngọn núi ấy (được quấn kín trong chăn và đồ lông để giữ ấm), và trong khi vừa nhâm nhi một nhúm tuyết hay một nhánh băng giá để giải khát, họ có thể phóng tầm mắt nhìn xuống sườn núi trải dài để thấy những thảm thực vật chỉ sinh trưởng nơi cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa Đông; đi xuống thấp hơn nữa, người ta sẽ thấy những khu vực dành riêng cho các loài cây chỉ phát triển ở vùng ôn đới; và tận chân núi là mái nhà của những rặng dừa chùm cùng các loài thực vật chỉ mọc dưới bầu không khí ngột ngạt của mùa Hè vĩnh cửu. Người ta có thể thu gọn tất cả các vành đai khí hậu trên thế giới chỉ trong một cái liếc mắt, và cái liếc mắt ấy chỉ lướt qua một khoảng cách chừng bốn hoặc năm dặm chim bay!

Chẳng mấy chốc, chúng tôi lên xuồng vào bờ ở Kailua, với dự định cưỡi ngựa thám hiểm vùng trồng cam và cà phê thơ mộng ở Kona, rồi sẽ nhập lại với con tàu tại một điểm cách đó vài dặm đường. Chuyến hành trình này quả thực rất đáng để trải nghiệm. Con đường mòn chạy dọc qua vùng đất cao — ước chừng khoảng một nghìn feet so với mực nước biển — và thường cách đại dương chừng một dặm, lúc nào cũng nằm trong tầm mắt, chỉ trừ những lúc bạn bất ngờ bị nuốt chửng vào khu rừng rậm rạp giữa một vùng thực vật nhiệt đới tươi tốt và những tán cây um tùm vươn những cành lớn che kín cả con đường, chặn đứng ánh mặt trời, biển cả lẫn vạn vật, để lại bạn trong một đường hầm mờ ảo, râm mát, văng vẳng tiếng chim ca không thấy bóng dáng và thơm ngát hương hoa. Thật thú vị làm sao khi thỉnh thoảng được dong ruỗi dưới ánh nắng ấm áp, thả hồn chiêm ngưỡng bức tranh phong cảnh biến hóa khôn lường của khu rừng (trải dài phía trước và bên dưới chúng tôi), với muôn vàn sắc thái, những luồng ánh sáng và bóng râm dịu ngọt, những đợt sóng nhấp nhô hiền hòa thoai thoải từ sườn núi đổ xuống tận biển khơi. Lại cũng thật dễ chịu biết bao khi chốc chốc lại rời bỏ cái nắng oi ả để bước vào chốn thâm sơn cùng cốc xanh ngắt, mát rượi của khu rừng này, thả mình vào những suy tư đầy cảm xúc dưới cảm hứng từ chốn chập choạng hoàng hôn đầy chiêm nghiệm và những tán lá xào xạc thì thầm. Chúng tôi đã cưỡi ngựa đi qua một vườn cam có tới mười nghìn gốc cây! Cây nào cây nấy trĩu quả.

Tại một trang trại nọ, chúng tôi kiếm được vài quả đào to có hương vị tuyệt hảo. Loại quả này, nhìn chung, không hề hợp với thổ nhưỡng quần đảo Sandwich. Chúng thường có hình dáng giống hạt hạnh nhân, nhỏ và chát xít. Người ta bảo chúng cần có sương giá, và có lẽ đúng là vậy; nếu thế thì chúng sẽ có khối cơ hội để tiếp tục... thèm khát sương giá, bởi đời nào chúng có được thứ đó ở đây. Những cây đào đã cho ra thứ quả tuyệt ngon mà tôi vừa nhắc tới thực ra đã được trồng và trồng lại tới mười sáu lần, và chính chủ nhân khu vườn đã quy công sức thành công của mình cho cách chăm sóc kỳ công ấy.

Chúng tôi đi qua vài đồn điền mía — những đồn điền hãy còn mới và quy mô không quá lớn. Hoa lợi hầu hết đều là mía gốc năm thứ ba. [CHÚ THÍCH.— Vụ thu hoạch đầu tiên gọi là “mía tơ;” những vụ sau mọc lên từ bộ rễ nguyên bản mà không cần trồng lại, gọi là “mía gốc.”] Hầu như ở khắp mọi nơi trên hòn đảo Hawaii, mía đều chín trong vòng mười hai tháng, cả mía gốc lẫn mía tơ, và mặc dù thiết tưởng nên thu hoạch ngay khi chúng trổ cờ, nhưng thực tế thì việc đó không nhất thiết phải tiến hành cho đến tận bốn tháng sau đó. Ở Kona, năng suất trung bình của một mẫu đất là hai tấn đường, theo như họ nói. Đây chỉ là mức năng suất tầm trung đối với các hòn đảo này, nhưng lại là một con số gây choáng váng cho Louisiana cùng phần lớn các xứ sở trồng mía khác. Do các đồn điền ở Kona nằm trên vùng đất khá cao — tít trên cao giữa những cơn mưa nhẹ và thường xuyên — nên chẳng cần phải tốn chút công sức tưới tiêu nào sất.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.