Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 51

❊ ❊ ❊

Thói hư tật xấu nở rộ tưng bừng trong thời kỳ “vàng son” của chúng tôi. Các quán rượu nườm nượp khách khứa; tòa án trị an, ổ bạc, nhà thổ và nhà tù cũng chẳng khá gì hơn — những dấu hiệu chắc như đinh đóng cột về một vùng mỏ đang thời thịnh vượng, hay bất cứ vùng nào khác trên đời. Chẳng phải vậy sao? Một cuốn sổ thụ án dày đặc ở tòa án trị an chính là bảo chứng hùng hồn nhất cho thấy buôn bán xôm tụ và tiền bạc rủng rỉnh. Dẫu vậy, vẫn còn một dấu hiệu nữa; nó đến sau cùng, nhưng hễ cứ xuất hiện thì coi như đinh đóng cột rằng thời kỳ “vàng son” đã đạt đến đỉnh điểm. Đó chính là sự ra đời của tờ báo “văn học”. Tờ The Weekly Occidental, chuyên “đề cao văn học”, đã xuất hiện ở Virginia. Tất cả những tay văn sỹ đều được chiêu mộ để viết bài cho nó. Ông F. sẽ làm chủ biên. Anh ta là một tay bút sắc sảo, tung hoành ngang dọc, một con người biết thốt ra những lời hay ý đẹp một cách gãy gọn, tinh tế. Có lần, khi còn làm chủ biên tờ Union, anh ta chỉ dùng độc một dòng để đè bẹp một bài phết phúng dài dòng, lủng củng tới tận hai cột báo do một tờ đối thủ viết nhằm hạ nhục mình. Dòng ấy thoạt nhìn tưởng như một lời ca tụng trang trọng và vĩ đại hết chỗ nói — đại loại là: “LẬP LUẬN CỦA ĐỐI THỦ CHÚNG TA GIỐNG HỆT NHƯ SỰ BÌNH AN CỦA CHÚA,” — rồi mặc cho trí nhớ cùng sự chiêm nghiệm của độc giả tự gán cho câu nói ấy một ý nghĩa khác “khác biệt hơn” bằng cách tự mình tìm nạp phần còn lại của đoạn Kinh Thánh lúc trà dư tửu hậu — đó là câu: “vượt lên trên mọi sự hiểu biết.” Có lần, khi nói về một cộng đồng nhỏ bé, đói kém bên vệ đường chẳng có kế sinh nhai nào khác ngoài việc moi tiền những hành khách lỡ đường ghé lại nghỉ chân một ngày khi đi xe ngựa vượt tuyến, anh ta bảo rằng trong buổi lễ nhà thờ của họ, họ đã sửa lại Kinh Lạy Cha thành: “Xin Cha cho chúng con hôm nay con mồi hằng ngày!”

Chúng tôi đặt kỳ vọng lớn lao vào tờ Occidental. Dĩ nhiên nó không thể thiếu một cuốn tiểu thuyết dài kỳ, thế nên chúng tôi lên kế hoạch tung toàn lực lượng hùng hậu nhất vào chiến dịch này. Bà F. là một nữ tiểu thuyết gia cự phách thuộc trường phái diễm tình — tôi chẳng biết gọi tên thế nào cho phải đối với một trường phái mà các anh hùng nam nhi ai nấy đều yểu điệu và hoàn hảo không tì vết. Bà viết chương mở màn, giới thiệu một cô tiểu thư tóc vàng ngốc nghếch đáng yêu, mở miệng ra là tuôn toàn trân châu với thơ ca, lại còn đoan trang đến mức kỳ cục. Bà cũng đưa vào truyện một vị công túc trẻ người Pháp với sự tinh tế đến mức khó chịu, đang đem lòng yêu say đắm cô nàng tóc vàng. Ông F. nối gót vào tuần tiếp theo, với một luật sư tài ba đang tìm cách hất cẳng các điền trang của vị công túc vào vòng rắc rối, cùng một tiểu thư thượng lưu sắc sảo chuyên đi quyến rũ vị công túc và làm cho cô nàng tóc vàng chán ăn mất ngủ. Ông D., một biên tập viên chuyên viết chuyện máu me đen tối cho một tờ báo hằng ngày, tiếp bước ông F. vào tuần thứ ba, mang đến một nhân vật hội Hoa Thập Tự thần bí, kẻ biết luyện kim loại, đêm hôm khuya khoắt chui vào hang động hội đàm với quỷ dữ, và lập lá số tử vi cho đám nam thanh nữ tú theo cái cách gieo rắc vô vàn sóng gió cho tương lai của họ, đồng thời khơi dậy sự tò mò kinh hoàng và nghiêm túc trong lòng công chúng đối với cuốn tiểu thuyết. Ông ta cũng tạo ra một tên phản diện giang hồ khoác áo choàng, che mặt, trả lương hẳn hoi rồi cắt cử hắn bám theo gót chân vị công túc giữa đêm khuya với một thanh dao găm tẩm độc. Ông ta còn sáng tạo ra một gã đánh xe người Ai-len với giọng đặc quánh mùi thổ ngữ, đặt gã vào phục vụ vị tiểu thư thượng lưu với sứ mệnh ngầm là chuyển những bức thư tình đến tay vị công túc.

Vào khoảng thời gian ấy, có một kẻ lạ mặt trụy lạc xuất hiện ở Virginia mang theo máu văn nghệ — trông hắn có vẻ tàn tạ, xơ xác nhưng lại vô cùng điềm đạm và khiêm nhường; quả thực là gần như rụt rè. Hắn dịu dàng đến mức, và thái độ của hắn mới dễ chịu tử tế làm sao, dù là lúc tỉnh táo hay say mướt mải, khiến ai tiếp xúc cũng phải kết thân. Hắn xin viết văn, đưa ra bằng chứng xác thực rằng mình cầm bút rất lụa và từng trải, thế là ông F. liền thuê ngay hắn vào đội ngũ viết tiểu thuyết. Chương của hắn sẽ nối tiếp chương của ông D., và chương của tôi sẽ tiếp theo sau đó. Nào ngờ tên chả này vừa đi uống say bí tỉ xong liền lủi về phòng, vác cái trí tưởng tượng đang hỗn loạn phừng phừng của mình ra để phóng bút, mà cái sự hỗn loạn ấy lại đang ở trạng thái phấn khích tột độ. Kết quả thì ai cũng đoán được. Hắn rà soát các chương của những người đi trước, thấy lớp nhân vật nam thanh nữ tú đã nhan nhản bèn tặc lưỡi cho qua; hắn quyết định không nhét thêm ai vào nữa; với trọn vẹn sự tự tin mà hơi men mang lại cùng vẻ tự đắc nhàn nhã mà nó ban ơn cho kẻ phục dịch mình, hắn bèn dấn thân vào công việc với niềm say mê đắm đuối: hắn gán ghép gã đánh xe với cô tiểu thư thượng lưu cốt để tạo scandal; gọt giũa cho vị công túc kết hôn với mẹ kế của cô nàng tóc vàng nhằm câu khách giật gân; cắt luôn tiền lương của tên cúp-sơ giang hồ; gây gổ nội bộ giữa con quỷ dữ và lão hội viên Hoa Thập Tự; tống gia sản của vị công túc vào tay gã luật sư đểu cáng; khiến lương tâm cắn rứt đến mức gã luật sư phải đâm ra nát rượu, rồi dở chứng sảng rượu kinh niên, rồi quẫn trí nhảy lầu tự vẫn; tiện tay làm gãy cổ gã đánh xe; mặc cho bà góa phụ của gã chìm nghỉm trong sự miệt thị, hắt hủi, nghèo đói và bệnh lao; xúi cô nàng tóc vàng nhảy sông tự vẫn, để lại bộ quần áo trên bờ kèm theo bức thư tuyệt mệnh quen thuộc tha thứ cho vị công túc và mong ngài được hạnh phúc; phơi bày cho vị công túc thấy, nhờ vết bớt hình quả dâu tây quen thuộc trên cánh tay trái, rằng ngài đã cưới nhầm chính người mẹ thất lạc lâu năm của mình và tiêu diệt luôn người em gái thất lạc; tổ chức một màn tự sát hợp tình hợp lý cho cả công túc lẫn công nương nhằm trọn vẹn công lý thi ca; mở toang mặt đất nuốt chửng lão hội viên Hoa Thập Tự xuống âm phủ kèm theo mây khói, sấm chớp và mùi lưu huỳnh quen thuộc; rồi kết bài bằng lời hứa hẹn rằng ở chương sau, sau khi mở một cuộc đại điều tra, hắn sẽ tóm lấy nhân vật còn sống sót trong tiểu thuyết để kể xem rốt cuộc con quỷ đã trôi dạt về đâu!

Đọc lên thấy trôi chảy đến kỳ lạ, với một vẻ nghiêm túc “đông cứng” hài hước đến mức có thể khiến người ta nghẹt thở mà chết. Nhưng khi bản thảo vừa trồi lên thì chiến tranh bùng nổ. Các nhà văn khác lôi lôi nổi giận đùng đùng. Tên tha hương hiền lành, lúc ấy vẫn còn say khướt năm phần, đứng chôn chân giữa làn đạn chửi rủa xối xả, ngơ ngác và hiền khô, đảo mắt nhìn người này sang kẻ nọ rồi tự hỏi không biết mình đã gây ra tội lỗi tày đình gì mà chuốc lấy cơn thịnh nộ dường này. Đến khi tiếng hò hét cuối cùng cũng lắng xuống đôi chút, hắn cất tiếng phân trần với giọng điệu dịu dàng đầy khẩn khoản — rằng bản thân không nhớ rõ mình đã viết những gì, nhưng chắc chắn là hắn đã cố gắng hết sức có thể, và mục đích của hắn là làm sao cho cuốn tiểu thuyết không chỉ hấp dẫn, xuôi tai mà còn mang tính giáo dục và...

Cuộc oanh tạc lại tiếp tục. Các tiểu thuyết gia lao vào xâu xé những tính từ chọn nhầm chỗ của hắn, nghiền nát chúng bằng một tràng chỉ trích và chế giễu. Thế là cuộc vây hãm lại tiếp diễn. Mỗi lần tên khách lạ định mở miệng xoa dịu kẻ thù là y như rằng hắn lại làm cho mọi chuyện tồi tệ hơn. Cuối cùng, hắn đành mở lời xin viết lại từ đầu chương đó. Động thái này mới chịu dẹp yên chiến sự. Cơn phẫn nộ nguội dần, hòa bình lập lại và kẻ khốn khổ rút lui an toàn về thành lũy của chính mình.

Nhưng trên đường về, con quỷ dữ lại cám dỗ hắn và hắn tiếp tục chìm trong hơi men. Trí tưởng tượng của hắn lại nổi điên lên một lần nữa. Hắn dắt mũi đám nam thanh nữ tú vào một vũ điệu còn điên cuồng hơn trước; thế mà xuyên suốt câu chuyện vẫn phảng phất cái vẻ chân thật, đứng đắn đầy sức thuyết phục từng làm nên thương hiệu cho tác phẩm đầu tay của hắn. Hắn ném các nhân vật vào những tình huống quái đản nhất, bắt họ thực hiện những hành vi kỳ quặc nhất, và nhét vào miệng họ những lời thoại dị hợm nhất! Nhưng cái chương ấy thì tài nào mà tả xiết. Nó điên rồ một cách có hệ thống; nó ngớ ngẩn một cách nghệ thuật; lại còn kèm theo những chú thích cuối trang kỳ quái chẳng kém gì chính văn. Tôi vẫn nhớ như in một trong những “tình huống” ấy, xin được đem ra làm ví dụ cho cả cái đống hỗn độn đó. Hắn bẻ lái tính cách của gã luật sư tài ba, biến hắn thành một nam nhi hào hiệp, lẫy lừng; ban cho hắn danh vọng lẫn tiền tài, và chốt độ tuổi của hắn ở con số ba mươi ba. Sau đó, hắn để cô nàng tóc vàng phát hiện ra, nhờ sự giúp đỡ của lão hội viên Hoa Thập Tự và tên phản diện giang hồ, rằng tuy vị công túc khao khát tiền của của cô đến cháy bỏng và rất muốn vơ vét, nhưng thâm tâm ngài lại ngầm có ý nghiêng ngả về phía cô tiểu thư thượng lưu. Đau đớn đến tận tâm can, cô liền dứt bỏ tình cảm dành cho gã và trút toàn bộ với sức mạnh gấp mười lên đầu gã luật sư, kẻ đang đáp lại bằng một sự cuồng nhiệt tột độ. Nhưng ngấy nỗi phụ huynh nào có ưng thuận. Thứ mà gia đình họ nhắm tới là một vị công túc; và họ nhất quyết phải gấm vóc lụa là với công túc; dẫu họ cũng thừa nhận rằng ngoài công túc ra thì gã luật sư là sự lựa chọn ưu tiên thứ nhì. Thế là cô nàng tóc vàng tất yếu lại đâm ra tàn tạ, héo mòn. Phụ huynh tá hỏa tam tinh. Họ van xin cô hãy kết hôn với vị công túc, nhưng cô một mực cự tuyệt, ngày càng héo úa xanh xao. Cuối cùng họ nghĩ ra một kế. Họ bảo cô hãy đợi tròn một năm một ngày, nếu lúc đó mà cô vẫn cảm thấy không thể lấy công túc, thì họ sẽ hoàn toàn đồng ý cho cô gả cho gã luật sư. Kết quả đúng như họ dự đoán: niềm vui trở lại, cùng với sắc hồng của sức khỏe đang hồi sinh. Bấy giờ các bậc phụ huynh mới bước sang nước cờ tiếp theo trong mưu kế của mình. Họ nhờ vị bác sĩ gia đình khuyên cô nên đi biển dài ngày và du ngoạn đó đây để lấy lại toàn bộ thể lực; đồng thời họ mời vị công túc cùng tham gia chuyến đi. Họ tính toán rằng sự hiện diện kè kè của vị công túc cùng sự vắng mặt kéo dài dằng dặc của gã luật sư sẽ làm nốt phần việc còn lại — bởi vì họ đâu có thèm mời gã luật sư.

Thế là họ nhổ neo trên một chiếc tàu hơi nước hướng thẳng đến nước Mỹ — và vào ngày thứ ba trên biển, khi cơn say sóng chịu buông tha để cho phép họ dùng bữa đầu tiên tại phòng ăn chung, ôi thôi, gã luật sư đang ngồi chễm chệ ở đó kìa! Vị công túc cùng nhóm người đành ngậm bồ hòn làm ngọt đối phó với cái tình huống tréo ngoe ấy; hải trình vẫn tiếp tục, con tàu dần tiến sát bờ biển nước Mỹ.

Nhưng rồi, chừng hai trăm dặm ngoài khơi New Bedford, con tàu bỗng bốc cháy; ngọn lửa liếm láp sát mạn nước; trong số toàn bộ thủy thủ đoàn và hành khách, chỉ vỏn vẹn ba mươi người thoát nạn. Họ lênh đênh giữa biển suốt nửa buổi chiều và thâu đêm suốt sáng. Trong số đó có những người bạn của chúng ta. Gã luật sư, bằng những nỗ lực phi thường, đã cứu được cô nàng tóc vàng cùng cha mẹ cô, bơi đi bơi lại hai trăm thước và mỗi chuyến đưa một người — (cô gái đi trước). Vị công túc thì tự cứu lấy cái thân ngài. Buổi sáng hôm sau, có hai chiếc tàu săn cá voi xuất hiện và thả xuồng cứu sinh. Thời tiết bão bùng khiến việc lên xuồng diễn ra trong cảnh hỗn loạn và kích động vô cùng. Gã luật sư làm tròn bổn phận một cách nam nhi; dìu cô nàng tóc vàng đang kiệt sức bất tỉnh, cha mẹ cô cùng vài người khác lên xuồng (còn vị công túc thì tự lo thân mà nhảy lên xuồng); bỗng một đứa trẻ rơi tỏm xuống biển ở đầu bên kia chiếc bè và gã luật sư lao vút tới, dưới sự kích thích bởi tiếng thét gào của người mẹ, vớt thành công nửa tá người lóp ngóp dưới nước. Sau đó gã chạy ngược lại — chậm mất vài giây — chiếc xuồng chở cô nàng tóc vàng đã rời bến. Thế là gã đành phải nhảy lên chiếc xuồng khác để sang con tàu bên kia. Cơn bão mỗi lúc một to đẩy hai con tàu trôi dạt khuất tầm mắt nhau — cuốn chúng đi đến bất cứ xó xỉnh nào.

Đến khi biển lặng sau ba ngày giông bão, con tàu chở cô nàng tóc vàng đã trôi dạt lên phía bắc Boston bảy trăm dặm, còn con tàu kia thì nằm cách thành phố ấy về phía nam chừng ngần ấy khoảng cách. Thuyền trưởng bên tàu cô gái đang trên đường săn cá voi ở Bắc Đại Tây Dương nên không thể quay đầu hay cập cảng nếu không có lệnh; luật hàng hải là thế. Còn thuyền trưởng bên tàu gã luật sư thì nhận lệnh săn bắn ở Bắc Thái Bình Dương, và ông ta cũng chẳng đời nào quay lại hay ghé cảng khi chưa có lệnh. Toàn bộ tiền bạc và hành lý của gã luật sư đều nằm trên xuồng và đã theo con tàu của cô nàng tóc vàng — thế là vị thuyền trưởng buộc gã phải lao động trừ bữa như một tên thủy thủ mạt hạng. Khi cả hai con tàu đã lênh đênh sát nút một năm trời, thì chiếc này đang ngấp nghé bờ biển Greenland còn chiếc kia lủi thủi ở Eo biển Bering. Cô nàng tóc vàng từ lâu đã đinh ninh rằng người yêu của mình đã bị sóng cuốn trôi xuống biển mất tích ngay trước khi đám tàu cá voi cập tới chiếc bè, và giờ đây, dưới những lời khuyên lơn của cha mẹ cùng vị công túc, cô rốt cuộc cũng đang phải gồng mình lên để đối mặt với định mệnh của giao ước, chuẩn bị cho cuộc hôn nhân đáng ghét.

Nhưng cô nhất định không chịu nhượng bộ dù chỉ trước thời hạn đã định một ngày. Thời gian cứ thế lê thê trôi, ngày cưới đến sát nút, lệnh được ban xuống để trang hoàng lộng lẫy cho con tàu — một đám cưới giữa lòng đại dương bao la vây quanh bởi những khối băng trôi và loài hải mã. Còn năm ngày nữa là mọi chuyện sẽ chấm dứt. Cô nàng tóc vàng thầm thở dài nuốt dòng lệ đắng cay. Ôi người tình thương mến nay đang ở chốn nào — và tại sao, cớ sao anh không đến cứu lấy em? Vào đúng khoảnh khắc đó, anh đang giương ngọn lao chuẩn bị đâm một con cá voi ở Eo biển Bering, cách đó năm nghìn dặm tính theo đường Bắc Băng Dương, hoặc hai mươi nghìn dặm tính theo đường Mũi Horn — đó chính là lý do. Anh tung lao, nhưng ngắm nghía chưa được chuẩn xác cho lắm — chân trượt một cái thế là anh lọtỏm vào mồm cá voi rồi trôi tuột xuống tận dạ dày nó. Anh bất tỉnh nhân sự suốt năm ngày. Đến khi tỉnh lại, anh nghe thấy những tiếng nói lao xao; ánh sáng ban ngày đang rọi qua một lỗ hỗng được khoét trên cái “mái nhà” bằng thịt của con cá voi. Anh trèo ra ngoài trong sự ngỡ ngàng của đám thủy thủ đang kéo mỡ cá voi lên mạn tàu. Nhận ra ngay con tàu quen thuộc, anh nhảy phốc lên boàn, tập kích bất ngờ đám cưới đang diễn ra trước bệ thờ và hét lớn:

“Dừng ngay trò này lại — tôi đã ở đây rồi! Hãy vào lòng anh đi, người của anh ơi!”

Có những lời chú thích dưới trang cho đoạn văn chương kỳ quặc này, trong đó tác giả cố gắng chứng minh rằng toàn bộ câu chuyện hoàn toàn nằm trong khả năng có thật; hắn bảo rằng chi tiết con cá voi bơi từ Eo biển Bering đến tận bờ biển Greenland, vượt năm nghìn dặm trong vòng năm ngày xuyên qua Bắc Băng Dương, là hắn chôm chỉa từ cuốn “Love Me Little Love Me Long” của Charles Reade, và coi đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng việc này hoàn toàn khả thi; hắn còn viện dẫn vụ phiêu lưu của Giô-na trong Kinh Thánh như một bằng chứng đanh thép cho thấy con người ta hoàn toàn có thể sống nhăn răng trong bụng cá voi, và bồi thêm rằng nếu một vị mục sư có thể sống sót ở trỏng suốt ba ngày thì một gã luật sư dư sức chịu đựng được năm ngày!

Lại một trận cuồng phong dữ dội hơn bao giờ hết nổi lên trong phòng biên tập, và tên khách lạ ngay lập tức bị tống cổ khỏi tòa soạn, bản thảo ném thẳng vào mặt. Nhưng hắn đã ngâm tôm mọi thứ lâu quá rồi nên chẳng còn thời gian để ai khác kịp viết lại chương đó nữa, thế là tờ báo đành phải xuất bản mà chẳng có lấy một mẩu tiểu thuyết nào. V vốn dĩ chỉ là một tờ báo ẻo lả, èo uột và ngớ ngẩn, sự vắng bóng của cuốn tiểu thuyết có lẽ đã đánh sập hoàn toàn niềm tin của công chúng; thế là chưa kịp in xong trang nhất của số báo tiếp theo, tờ Weekly Occidental đã qui tiên êm đềm như một đứa trẻ sơ sinh.

Người ta đã cố gắng làm một cuộc hồi sinh cho nó, kèm theo món quà viển vông là một cái tên mới kêu như chuông, ông F. bảo rằng đặt tên là The Phenix thì chuẩn không cần chỉnh, bởi nó gợi lên hình ảnh một sự hồi sinh từ đống tro tàn với một diện mạo lộng lẫy chưa từng thấy; nhưng có một gã ranh con rẻ tiền ở một tờ báo ngày nào đó bỗng ném ra một ý kiến xanh rờn là hãy gọi nó là Lazarus; và ngẫu nỗi người dân ở đây lại chẳng thâm uyên gì về kinh sách mà cứ đinh ninh rằng lão Lazarus được chúa cho sống lại với gã ăn mày rách rưới hay ngồi lê la xin xỏ ở cổng nhà kẻ giàu là một và chỉ là một người, thế là cái tên ấy trở thành trò cười cho cả thị trấn, và chính thức chôn vùi vĩnh viễn tờ báo xuống mồ.

Tôi buồn lắm chứ, bởi tôi vẫn hãnh diện khôn tả khi được gắn bó với một tờ báo văn học — có lẽ đó là niềm tự hào lớn nhất đời tôi cho đến tận bây giờ. Tôi từng viết vài vạn thơ cho nó — mà tôi thì cứ đinh ninh đó là thơ ca chính hiệu — và việc tác phẩm ấy nằm chình ình ở cái “trang nhất” của số báo dang dở chưa bao giờ được nhìn thấy ánh mặt trời chính là một nỗi đau đớn xót xa khôn nguôi trong lòng tôi. Nhưng thời gian luôn mang đến những sự trả thù ngọt ngào — giờ đây tôi có thể tống nó vào đây; nó sẽ đóng vai trò như một giọt nước mắt thương tiếc nhỏ xuống linh hồn yểu mệnh của tờ Occidental đã mất. Ý tưởng đó (không phải ý tưởng chủ đạo, mà là cái vỏ bọc mang nó) có lẽ được khơi nguồn từ một bài ca dao cũ có tựa đề “The Raging Canal,” nhưng giờ thì tôi chịu chết không tài nào nhớ nổi. Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ như in rằng vào thời điểm ấy, tôi cứ tưởng cái mớ vần vè cùi bắp của mình chính là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thời đại:

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.