"Thật là tệ quá," bà Lee nói, đoạn đặt xuống cuốn tạp chí mà bà đang đọc về những đứa trẻ nghèo ở các khu nhà tập thể trong thành phố lớn – những đứa vốn biết rất ít về niềm vui Giáng sinh; "không có cây thông Noel! Dù thế nào đi nữa, một đứa trong số chúng cũng phải có một cây. Tôi nghĩ món tiền này đủ để mua nó, lại rất tiện để gửi đi. Sẽ chẳng ai biết trong bức thư có tiền cả." Rồi bà kẹp một cuống trái phiếu vào bức thư gửi cho vị giáo sư – một người bạn ở thành phố mà bà biết chắc sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tìm kiếm đứa trẻ, và lập tức đem đi gửi bưu điện. Bà Lee là một góa phụ có khoản thu nhập chẳng lấy gì làm dư dả, xuất phát từ tiền lãi của mấy tờ công trái chính phủ loại bốn phần trăm. Đó là số tiền dành dụm từ cả đời lao động vất vả của người chồng quá cố – một sự nhọc nhằn chẳng kém gì ai dẫu nó diễn ra trong phòng kế toán chứ không phải với cuốc và xẻng. Cuống trái phiếu trông y hệt như một tờ một đô la thực thụ, chỉ có điều nó nhỏ đến mức lòng bàn tay của một đứa trẻ sơ sinh cũng có thể che kín dễ dàng. Dòng chữ in trên đó ghi rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ trả theo yêu cầu cho người cầm giữ một đô la; và (trang 079) trên đó có một con số, giống hệt như trên một tờ đô la trưởng thành, đó chính là số hiệu của tờ công trái mà nó đã được cắt ra.
Bức thư đã trải qua hành trình suốt cả đêm, để rồi khi kết thúc chuyến đi ở cái tổ ong xám xịt nơi thành thị – nơi chẳng bao giờ ngủ ngày hay đêm, và là chốn mà một nửa giọt nước mắt lẫn niềm vui của xứ sở này, bao gồm cả câu chuyện về đồng đô la nhỏ bé, được phân loại không ngừng nghỉ thành thư tín hạng nhất, hạng nhì hay hạng ba tùy theo trường hợp – nó được tung hứng, chọn lọc và buộc thành từng bó. Vào buổi sáng, bức thư được đặt lên bàn ăn sáng của vị giáo sư mà không hề suy suyển sau chặng đường dài. Vị giáo sư là một người nhân hậu, và ông mỉm cười khi đọc nó. "Mang lại một cây thông Noel nhỏ cho một khu nhà tập thể nghèo," đó chính là sứ mệnh của nó.
"Đồng đô la nhỏ bé," ông lẩm bẩm, "ta nghĩ mình biết nơi ngươi đang cần đến rồi đấy." Và ông ghi lại một chú thích vào sổ tay. Ở đó còn có những ghi chú khác khiến ông lại mỉm cười khi nhìn thấy chúng. Bên cạnh chúng có ghi tên của từng người. Một dòng về chiếc thuyền của Nô-ê được đánh dấu là "Vivi." Đó là đứa út; và có một dòng khác về chiếc xe nôi búp bê với cái tên "Chắc chắn là Katie," được ghi chú ngay bên cạnh. Vị giáo sư ném ánh nhìn bất lực ra vẻ trêu chọc vào danh sách.
"Biết làm sao cho xuể đây?" ông thở dài, vừa đội mũ lên đầu.
"Chà, anh sẽ phải nhờ ông già Noel giúp thôi, John," vợ ông nói, vừa cài khép chiếc áo khoác đại cán quanh người ông. "Và, trời ạ! Mấy đứa con của gia đình nhà vịt! (trang 080) Đừng có quên chúng đấy, dù anh có làm gì đi nữa. Con bé cứ nhắc mãi về chuyện đó từ lúc nhìn thấy chúng ở cửa hàng, con vịt già và hai chú vịt con trên bánh xe ấy. Anh biết chúng mà, John?"
Nhưng vị giáo sư đã đi khuất, vừa bước đi trên lối đi trong vườn vừa lẩm bẩm một mình: "Mấy đứa con của gia đình nhà vịt, quả là thế!" Ông bật cười khúc khích khi thốt lên câu đó, lý do vì sao thì tôi không thể nói được. Bình thường vị giáo sư là một người cực kỳ câu nệ về ngữ pháp cơ mà. Có lẽ bởi vì hôm nay là đêm Giáng sinh.
Vị giáo sư đi vào trung tâm thành phố; nhưng thay vì hòa vào đám đông đang đổ về trụ sở của ông già Noel ở cửa hàng lớn trên đại lộ Broadway, ông rẽ vào một con phố yên tĩnh hơn hướng về phía tây. Nó dẫn ông đến một lối đi hẹp, với những tòa nhà tập thể năm tầng sừng sững cau mày ở hai bên, nơi những con người ông gặp không ăn vận chỉnh tề bằng những kẻ ông vừa bỏ lại phía sau, và dường như cũng chẳng mang vẻ vội vã háo hức mong chờ ngày lễ. Ông bước vào một trong những tòa nhà tập thể ấy, và dò dẫm bước qua một hành lang tối như mực, đi đến tận cùng phía sau – căn phòng cuối cùng bên trái – rồi gõ cửa. Một giọng nói đầy vẻ chờ mong cất lên: "Xin mời vào," và vị giáo sư đẩy cửa bước vào.
Căn phòng vô cùng chật chội, ngột ngạt và tối tăm, tối đến mức chiếc đèn dầu hỏa đang bốc khói cháy (trang 081) trên chiếc bàn cạnh lò sưởi hầu như chẳng thể thắp sáng nổi nó chút nào, dẫu ngoài trời vẫn là ban ngày rõ mặt. Một người đàn ông to lớn, râu ria xồm xoàm đang ngồi trên giường, liền đứng dậy khi trông thấy vị khách, rồi lúng túng đứng dịch chuyển đôi chân và tránh ánh mắt của vị giáo sư. Ánh nhìn của vị giáo sư rất nghiêm nghị nhưng không hề khó chịu, khi ông hỏi người phụ nữ bế đứa bé rằng anh ta đã tìm được việc làm nào chưa.
"Chưa ạ," cô nói, vẻ đầy lo lắng bước đến đỡ lời, "vẫn chưa thưa ông; anh ấy hãy còn đang chờ giấy giới thiệu." Nhưng Johnnie đã kiếm được hai đô la nhờ chạy vặt, và giờ đây khi tuyết rơi dày, biết đâu chồng cô sẽ kiếm được việc xúc tuyết. Gươm mặt người phụ nữ lộ vẻ âu lo, thế nhưng trong giọng nói của cô lại phảng phất một nét tươi vui nào đó, dường như khiến căn phòng đỡ phần nản lòng hơn thực tế. Đứa trẻ mà cô đang bồng trên tay chẳng lớn hơn một con búp bê cỡ trung là mấy. Khuôn mặt nhỏ bé của nó trông gầy gò và xanh xao. Cô giải thích rằng nó đã bị ốm nặng, nhưng bác sĩ bảo hiện giờ đang hồi phục dần. Thế thì tốt quá, vị giáo sư nói, và vỗ nhẹ lên đầu một trong những đứa trẻ lớn hơn.
Có sáu đứa trẻ tất cả, đủ mọi kích cỡ, từ Johnnie – đứa có thể chạy việc vặt – trở xuống. Chúng đang bận rộn trang hoàng một cây thông Noel chiếm tới một nửa căn phòng, dù đó là cây thông nhỏ nhất. Ấy vậy mà, đó lại là một cây thông Noel chính hiệu, được sót lại từ đống đồ của trường Chúa Nhật, và nó còn được chưng diện hẳn hoi. Những bức tranh cắt từ trang phụ họa màu của (trang 082) một tờ báo chủ nhật được treo và dựng trên từng cành cây, cùng với ba mảnh thủy tinh màu được buộc bằng những sợi chỉ lấp lánh dưới ánh đèn dầu mập mờ, mang lại sắc màu và vẻ đẹp thực sự cho màn trang trí. Lũ trẻ vô cùng thích thú.
"John dựng nó lên đấy ạ," người mẹ giải thích khi vị giáo sư đưa mắt nhìn với vẻ tán thành. "Trên đó chẳng có gì để ăn đâu ạ. Nếu có, thì nó chẳng trụ nổi một phút nào đâu. Lũ trẻ cứ lục lọi suốt thôi."
"Nhưng phải có chứ, nếu không thì đó đâu phải là một cây thông Noel thực sự," vị giáo sư nói, và lấy ra đồng đô la nhỏ. "Đây là một đồng đô la do một người bạn tặng tôi nhân dịp Giáng sinh của lũ trẻ, và cô ấy gửi cả tình cảm của mình theo nó. Nào, bà hãy mua cho chúng vài món quà nhỏ cùng mấy ngọn nến nhé, thưa bà Ferguson, rồi sắm một bữa tối thật thịnh soạn cho cả nhà. Chúc bà ngủ ngon và có một Giáng sinh an lành. Tôi thấy con bé có vẻ khỏe lên rồi đấy." Nó vừa mở mắt ra và mỉm cười nhìn cây thông.
Vị giáo sư chưa đi được bao xa trên con đường đến cuộc hẹn với ông già Noel thì bà Ferguson đã có mặt ở cửa hàng tạp hóa để sắm sửa bữa tối. Một đồng đô la có thể mua được rất nhiều thứ khi nó là đồng tiền duy nhất trong nhà; và khi bà đã gom đủ mọi thứ, bao gồm hai xu tiền nhũ vàng, bốn quả táo và năm ngọn nến cho cây thông, người chủ tiệm đã cộng tổng hóa đơn lên chiếc túi giấy (trang 083) đựng khoai tây của bà – chín mươi tám xu. Bà Ferguson đưa cho ông ta đồng đô la nhỏ.
"Cái gì thế này?" người chủ tiệm nói, nụ cười béo ngậy trên môi bỗng lạnh tanh khi ông ta đặt bàn tay chặn chiếc giỏ hàng lại. "Cái này chẳng có giá trị gì sất."
"Đó là một đô la mà, phải không?" người phụ nữ hoảng hốt lên tiếng. "Nó hoàn toàn dùng được mà. Tôi quen người đã đưa nó cho tôi cơ mà."
"Ở cái cửa hàng này thì nó chẳng dùng được đâu," người chủ tiệm lạnh lùng nói. "Mang trả lại mấy thứ đó vào chỗ cũ đi. Tôi không cần thứ tiền này."
Đua mắt người phụ nữ ngấn lệ khi cô từ từ tháo nắp giỏ ra và nhấc túi khoai tây quý giá lên. Ở nhà, mọi người đang ngóng chờ bữa tối ấy. Lũ trẻ thậm chí lúc này đang chầu chực ngoài bậc cửa để đón cô mang cây thông về trong khúc khải hoàn. Và giờ thì—
Lần thứ hai, một bàn tay chặn chiếc giỏ của cô lại; nhưng lần này đó không phải là của chủ tiệm. Một quý ông bước vào để đặt mua gà tây Giáng sinh đã vô tình nghe được câu chuyện và nhìn thấy tờ tiền kỳ lạ ấy.
"Nó hoàn toàn dùng được," ông nói với chủ tiệm. "Đưa nó cho tôi. Đây là tờ một đô la loại anh biết rõ đây này. Này ông Schmidt, nếu tất cả hàng hóa của ông đều chân thật như tờ tiền này thì buôn bán với ông quả là một niềm vui đấy. Đừng ngại tin tưởng Chú Sam khi ông ấy đưa ra lời hứa trả tiền."
Vị quý ông giữ cửa cho bà Ferguson (trang 084) và nghe thấy tiếng hò reo của đám trẻ đang đợi cô trên bậc thềm khi ông bước xuống phố.
Ông thầm nghĩ: "Tự hỏi cái đó từ đâu ra nhỉ. Cuống trái phiếu ở phố Bedford cơ à! Chắc ai đó đã gửi nó cho người phụ nữ làm quà Giáng sinh đây. Ồ kìa! Kia là lão Thomas và con Snowflake. Bây giờ, nếu ta tặng nó một món quà Giáng sinh là yến mạch thì cái bụng già nua của nó có ngạc nhiên không nhỉ? Miễn là cú sốc đó không làm nó chết đứng! Thomas này! Này Thomas!"
Lão già được gọi liền dừng lại và chờ vị quý ông tới gần. Ông là một phu xe chuyên nhận những việc vặt quanh khu phố, nhờ thế mà kiếm kế sinh nhai cho bản thân và con ngựa trắng mà lũ trẻ đã đặt cho cái tên đùa cợt là Snowflake. Chúng là một cặp đôi già nua xứng đôi vừa lứa, lão Thomas và con ngựa của ông. Con này chẳng lụi tàn hơn con kia là bao.
Theo lời đồn đại dọc các bến tàu – nơi Thomas thỉnh thoảng kiếm được một cuốc xe và Snowflake thỉnh thoảng nhấm nháp vài cọng rơm lót dạ – thì tuổi của chúng xấp xỉ nhau, nhưng điều này đã bị Thomas bác bỏ.
"Này anh bạn," vị quý ông nói khi đuổi kịp họ; "Tôi muốn con Snowflake cũng được đón Giáng sinh, Thomas ạ. Cầm lấy tiền này mà mua cho nó một túi yến mạch. Và nhớ cho nó ăn cẩn thận đấy, nghe chưa – đừng cho ăn một lúc hết sạch nhé, Thomas. Nó không quen đâu."
"Trời đất quỷ thần ơi!" (trang 085) lão già thốt lên, lấy chiếc mũ quẹt quẹt khóe mắt khi vị quen nhân khuất dạng, "yến mạch ăn Giáng sinh phỏng! Đi nào, Snowflake; mày gặp may rồi đấy."
Người bán thức ăn gia súc đeo kính lên và săm soi Thomas trước mệnh lệnh kỳ lạ đó. Sau đó, ông ta ngắm nghía đồng đô la nhỏ, hết mặt trước rồi đến mặt sau.
"Chưa từng thấy tờ nào thế này bao giờ," ông ta lẩm bẩm. "Có vẻ như nó ngắn ngủn một mẩu. Đợi tao đem sang tiệm cầm đồ hỏi xem sao. Nếu có ai biết, chắc chắn hắn sẽ biết."
Người ở tiệm cầm đồ chẳng cần phải nhìn đến lần thứ hai. "Ồ, dĩ nhiên rồi," ông ta nói, và đưa qua quầy một tờ một đô la. "Lão Thomas, anh vừa nói thế phải không? Chà, nếu lão già ấy không có khoản để dành thì tôi xin chịu thua đấy. Hai bác cháu nhà chúng nó tinh ranh phết, lão ta và con Snowflake ấy."
Hôm ấy việc kinh doanh ở tiệm cầm đồ diễn ra vô cùng tấp nập. Tiếng chuông cửa reo vang từ sớm đến muộn, và hàng hóa trên kệ cứ thế dày lên. Món nọ chồng lên món kia. Mùa đông năm nay cho đến lúc này thật khắc nghiệt. Trong số những khách hàng đến vào đầu giờ chiều có một cô gái trẻ mặc chiếc áo vải gingham và không khoác thêm áo ngoài, e dè đứng bên quầy hỏi vay ba đô la thế chấp chiếc đồng hồ – rõ ràng là một vật kỷ niệm mà cô chẳng đành lòng rời xa. Có lẽ đó là chút tia hy vọng cuối cùng bấu víu vào những ngày tháng tươi đẹp hơn. Lão chủ tiệm tỏ ý hoài nghi; nó chẳng đáng giá nhiều đến thế. Cô nài nỉ van xin thiết tha, trong lúc hắn ta đối chiếu (trang 086) số sê-ri trên máy đồng hồ với danh sách do Trụ sở Cảnh sát gửi tới.
Cuối cùng, hắn dứt khoát buông tiếng đóng sập nắp vỏ đồng hồ lại và nói: "Hai đô la – hai hoặc không gì cả." Cô gái trao lại chiếc đồng hồ với một tiếng thở dài đầy bận lòng. Hắn viết giấy biên nhận và đưa cho cô cùng một nắm tiền lẻ bằng bạc.
Đó là vì tiếng thở dài và vẻ đau khổ rõ mười mươi của cô, hay là vì đồng đô la nhỏ? Khi cô quay lưng bước đi, hắn gọi giật cô lại.
"Này, đang mùa Giáng sinh mà!" hắn nói. "Tôi cứ liều vậy." Và hắn bỏ thêm cuống trái phiếu vào đống tiền lẻ.
Cô gái nhìn nó rồi lại nhìn hắn với vẻ ngờ vực.
"Không sao đâu," hắn nói; "cô cứ cầm lấy đi; tôi đang thiếu tiền lẻ. Cứ mang trả lại nếu người ta không nhận. Tôi chịu trách nhiệm." Chú Sam vừa có thêm một người bảo lãnh.
Ở phố Grand, đám đông đi mua sắm ngày lễ chen chúc kín đặc mọi cửa hàng trong công cuộc săn lùng hàng giảm giá đầy háo hức. Tại một quầy bán hàng dệt kim nọ, cô gái từ tiệm cầm đồ đang đứng chọn một chiếc khăn choàng dày và ấm. Cô ngập ngừng phân vân giữa chiếc màu xám và chiếc màu đỏ sẫm, rồi giơ cả hai lên trước ánh sáng.
"Mua cho cô à?" cô nhân viên bán hàng lên tiếng hỏi với ý định giúp đỡ. Cô liếc nhìn bộ dạng mảnh khảnh và cơ thể đang run lên vì lạnh của cô gái khi thốt lên câu đó.
"Không," cô gái đáp; "cho mẹ tôi; bà hay ốm đau (trang 087) nên rất cần nó." Cô chọn chiếc màu xám, và đưa cho cô nhân viên bán hàng nắm tiền trong tay.
Cô nhân viên trả lại cuống trái phiếu.
"Loại này không dùng được đâu," cô ta bảo; "làm ơn đổi cho tôi tờ khác."
"Nhưng tôi không còn tờ nào khác nữa," cô gái vừa nói vừa lo lắng nhìn chiếc khăn choàng. "Ông... ông Feeney bảo là dùng được mà. Xin vui lòng mang ra quầy thu ngân hỏi lại xem sao."
Cô nhân viên cầm tờ tiền lẫn chiếc khăn choàng đi đến quầy thu ngân. Gần như ngay lập tức, cô quay lại cùng người chủ cửa hàng – kẻ đang đăm đăm nhìn vị khách hàng và ghi nhớ số sê-ri trên cuống trái phiếu.
"Không vấn đề gì đâu," hắn nói, có vẻ đã thỏa mãn sau khi kiểm tra; "chỉ là hơi khác thường một chút thôi. Chúng ta hiếm khi thấy chúng xuất hiện. Tôi có thể giúp gì cho cô không, thưa cô?" Và hắn lịch sự tiễn cô ra tận cửa.
Ngoài đường phố, quang cảnh đón Giáng sinh còn rộn ràng hơn cả trong các cửa hàng. Những người bán dạo đồ chơi, câu khẩu hiệu, nến và đủ mọi loại đồ trang sức nhỏ nhặt đứng thành hàng dài dọc theo lề đường, buôn bán vô cùng tấp nập. Những chiếc xe đẩy hàng của họ được trang hoàng bằng các cành linh sam – thậm chí cả những cây thông Noel nguyên vẹn. Có xe chở cả một khoang đầy ắp những ông già Noel nằm giữa vòm lá xanh rờn, mỗi ông mang một nhành tuyết tùng trong đôi tay khoanh lại như người lính đang bồng súng. Ánh đèn rực sáng trong các cửa hàng, và những ngọn đuốc của đám người bán hàng rong đang bùng cháy (trang 088) ở các góc phố. Không khí Giáng sinh ngập tràn trong từng hơi thở và trong cả két tiền của người chủ cửa hàng. Hôm nay là một ngày bận rộn. Hắn nghĩ về điều đó với một cái gật đầu hài lòng khi đứng lại một phút hít thở không khí buốt giá của ngày mùa đông, tay vô thức mân mê cuống trái phiếu mà cô gái đã dùng để trả tiền mua khăn choàng. Một giọng nói mảnh dẻ vang lên bên khửu tay hắn: "Chúc mừng Giáng sinh, ông Stein! Báo của ông đây ạ."
Đó là cậu bán báo tối nào cũng mang báo đến tận cửa. Người chủ cửa hàng biết cậu bé, và cũng biết đôi chút về cuộc vật lộn chật vật để giữ lấy mái nhà che đầu của gia đình cậu. Mike là một dạng học trò cưng được hắn bảo bọc. Hắn từng giúp cậu kiếm được mối giao báo này.
"Đợi chút đã, Mike," hắn nói. "Chắc cậu cũng đang mong quà Giáng sinh từ tôi phải không. Đây, cho cậu một đô la. Nó cũng giống như cậu vậy: tuy nhỏ bé nhưng hoàn toàn tốt lành. Mang về nhà và tận hưởng một ngày vui vẻ nhé."
Liệu đó có phải là thông điệp được gửi gắm theo nó từ một nơi xa xôi ở vùng quê, hay vì điều gì khác? Dù là gì đi nữa, đồng đô la nhỏ bé hoàn toàn không tài nào nằm yên trong túi nổi khi ngoài kia vẫn còn cảnh nghèo đói cần được cứu giúp, những chiếc miệng cần được lấp đầy, hay những ngọn đèn Giáng sinh cần được thắp sáng. Nó đơn giản là không thể, và nó đã không làm thế.
Mike rẽ qua góc phố Allen và phát ra ba tiếng hò reo biểu thị sự tán thành dành cho ông Stein; làm xong việc đó, cậu lỉnh đến (trang 089) cái cửa sổ có ánh đèn đầu tiên nằm ngoài tầm nhìn để xem xét món quà của mình. Sự nhiệt tình của cậu bỗng chuyển thành ngạc nhiên há hốc mồm khi nhìn thấy đồng đô la nhỏ. Cằm cậu trễ xuống. Mike không phải là đứa có học thức gì cho cam và không thể đọc nổi dòng chữ khắc trên cuống trái phiếu; nhưng cậu từng nghe nói về loại tiền giấy nhỏ "từng được dùng trong thời chiến," và cậu tưởng đây là một loại tiền xu mười xu nào đó. Viên cảnh sát phụ trách khu vực có lẽ sẽ biết rõ. Lúc này thì cậu và viên cảnh sát đang hòa hoãn. Họ vừa làm hòa sau một chút xích mích nhỏ, và nếu có ai biết thì chắc chắn ông cảnh sát sẽ rõ. Thế là cậu lon ton đi tìm ông ấy.
Viên cảnh sát McCarthy cởi găng tay ra, kẹp cây gậy dưới nách và săm soi đồng đô la nhỏ với cái trán nhíu lại. Ông lắc đầu khi trao trả nó lại, và đưa ra nhận định rằng đó là "một trò lừa đảo chết tiệt nào đó vi phạm pháp luật." Ông khuyên Mike nên mang nó trả lại cho ông Stein, rồi tiện tay chọc vào mười sáu sườn cậu một cách hoàn toàn thân thiện và nói thêm rằng nếu là tuần trước thì ông đã "tóm cổ" cậu vì tội tàng trữ thứ này rồi. Rất may là ông Stein đang bận và không có mặt, thế là Mike lủi thủi đi về nhà với món quà đầy hoang mang giữa hy vọng và sợ hãi.
Có một đám đông đang tụ tập trước cửa khu nhà tập thể, và từ đằng xa khi đang chạy tới, Mike đã nhìn thấy nó vây quanh một chiếc xe cứu thương đang (p. 090) lùi sát lề đường. Đúng lúc cậu chen lấn qua dòng người thì xe phóng đi, tiếng chiêng kêu leng keng xua đám đông dạt ra hai phía. Một cô bé đang ngồi khóc nức nở trên bậc thềm trên cùng. Mike liền quay sang hỏi thăm nó.
"Susie, có chuyện gì thế?" cậu hỏi, đứng đối diện với con bé và ôm đống báo trên tay. "Ai bị thương à?"
Cô bé nức nở đáp: "Là bố tớ. Bố không bị thương đâu. Bố bị ốm, và phát bệnh nặng quá nên phải đi viện rồi, mà ngày mai lại là Giáng sinh, rồi... ôi, Mike ơi!"
Phố Essex vốn không có thói quen sướt mướt. Mike cũng vậy. Cậu chỉ mím môi huýt sáo một tiếng rồi bước vào hành lang để suy nghĩ. Susie là bạn thân của cậu. Nhà con bé có bảy người; còn nhà cậu chỉ có bốn, tính cả hai người đã đi làm kiếm tiền. Cậu quay trở lại sau chuyến đi ngắn với quyết định đã được định đoạt.
"Suse này," cậu nói, "vào trong đi. Cầm lấy cái này này, Suse! rồi để tụi nhỏ đón Giáng sinh đi. Ông Stein cho tớ đấy. Nó hơi nhỏ, nhưng nếu không dùng được thì tớ sẽ mang đổi lại tờ khác xài tốt. Nào, đi đi Suse, nghe chưa?" Và cậu đã biến mất.
Đêm hôm đó ở căn hộ của Susie có một cây thông Noel, với nến, táo và ánh vàng lấp lánh, nhưng đồng đô la nhỏ không dùng để trả tiền cho nó. (trang 091) Tờ tiền ấy đang nằm yên ấm trong ví của vị nữ nhân viên từ thiện – người đã đến vào chiều hôm đó, hóa ra lại đúng lúc làm sao. Cô đã nghe câu chuyện về Mike và sự hy sinh của cậu, rồi chính cô đã đổi cho lũ trẻ một tờ một đô la để lấy cuống trái phiếu. Chúng đã có một mùa Giáng sinh ngập tràn niềm vui, bởi vì vị nữ quý nhân đã đến bệnh viện và mang tin về rằng bố của Susie sẽ bình phục nếu được nghỉ ngơi và chăm sóc chu đáo, và ông đang được như vậy. Mike ghé qua và giúp họ "thu dọn" cây thông sau khi bà ra về. Cậu hô vang thêm ba tiếng hoan hô cho ông Stein, ba tiếng cho vị nữ nhân viên, và ba tiếng cho bác sĩ bệnh viện để cho mọi thứ trọn vẹn. Phố Essex tối hôm đó thật tuyệt vời.
"Anh biết không, giáo sư," vợ của vị học giả nọ lên tiếng, sau bữa tối, khi ông đã ngồi phịch xuống chiếc ghế bành yêu thích để ngắm nghía chiếc thuyền của Nô-ê, mấy đứa con nhà vịt cùng những thứ khác – tất cả đều đã đến nơi an toàn bằng dịch vụ chuyển phát nhanh trước ông và đang chờ được xếp vào những chiếc tất tương ứng khi lũ trẻ đã ngủ say – "anh có biết không, em vừa nghe được câu chuyện về một cậu bé bán báo vào hôm nay. Chuyện xảy ra tại buổi họp ban từ thiện khu vực của chúng ta tối nay. Cô Linder, nhân viên đi thực tế của chúng ta, vừa từ nhà cậu bé về thẳng đây." Và bà kể câu chuyện về Mike và Susie.
"Và em vừa giữ lại được đồng đô la nhỏ bé. Nó đây này." Bà lấy cuống trái phiếu ra khỏi ví và đưa cho chồng.
"Hả! (trang 092) Gì thế?" vị giáo sư vừa nói vừa chỉnh lại kính và đọc dãy số. "Chẳng phải đây là đồng đô la nhỏ của tôi đã quay về rồi sao? Ơ hay, mày đã đi đâu thế hả nhóc? Ta để mày ở phố Bedford sáng nay, và giờ mày lại đến đây qua đường Essex đấy à. Chà, tôi xin chịu!" Và ông kể cho vợ nghe về cách ông nhận được nó trong một bức thư vào buổi sáng.
"John," cô nói với một sự thôi thúc bất chợt – cô không hề biết, và ông cũng vậy, rằng đó chính là sức hút của đồng đô la nhỏ đang phát huy tác dụng một lần nữa – "John, em đoán là thật tội lỗi nếu giữ nó lại. Mấy đứa con nhà Jones sẽ chẳng có cây thông Noel nào đâu, vì họ không kham nổi. Anh ấy vừa nói với em sáng nay khi đến sửa lò sưởi đấy. Lại thêm đứa bé đang ốm nữa chứ. Hay chúng ta cho họ đồng đô la nhỏ này đi. Anh ấy đang ở dưới bếp kìa."
Và họ đã làm thế; gia đình nhà Jones, và tôi không biết còn bao nhiêu gia đình khác nữa, đã có một Giáng sinh an lành nhờ vào đồng đô la nhỏ bé đầy phúc đức đã mang niềm vui và may mắn đi khắp mọi nơi nó đặt chân tới. Theo tôi biết, có lẽ nó vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình của mình. Quả thực thật là tội lỗi nếu chặn đứng nó lại, và nếu ai đó đã cất giữ nó mà không hề hay biết rằng mình đang giấu đi đồng đô la của ngày Giáng sinh, hãy để họ thả nó lên đường ngay lập tức. Người đó có thể nhận ra nó dễ dàng thôi. Chỉ cần nhìn vào con số trên đó, chính là nó đấy.