Những Đứa Trẻ Khu Nhà Ổ Chuột

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Người Anh Hùng Chiến Đấu Với Giặc Lửa

❊ ❊ ❊

Mười lăm năm đã trôi qua, nhưng đối với tôi, mọi thứ vẫn như vừa mới xảy ra ngày hôm qua — tiếng chuông báo hỏa hoạn vang lên đanh thép, tiếng thét khản đặc của những người lính cứu hỏa, khung cảnh hỗn loạn và hoảng sợ nơi đường phố; rồi sự im lặng đột ngột bao trùm lấy đám đông; biển người ngước nhìn lên với ánh lửa hắt rực lên từng khuôn mặt; và ở trên kia, ẩn hiện giữa làn khói đen cuồn cuộn tuôn ra từ mái nhà và gác mái, là cậu bé đang bám chặt vào gờ tường hẹp, ở một độ cao mà dường như con người ta chẳng thể nào mong đợi sự cứu giúp tới được.

Thế nhưng sự cứu giúp ấy đang đến. Từ dưới mặt đường, trong khi các đồng đội thuộc đội xe thang đang chật vật với chiếc thang rút vốn dù kéo dài hết cỡ vẫn còn thiếu tới tận vài mét, bốn người lính cứu hỏa đã trèo lên những chiếc sào dài, mảnh mai có các thanh ngang và gắn móc sắt ở đầu. Đứng ở một ô cửa sổ, họ với lên và luồn chiếc móc qua ô cửa sổ ngay phía trên, rồi leo cao thêm một tầng nữa. Lại tiếng kính vỡ vụn, và lại cuộc leo trèo đến chóng mặt. Họ trèo thẳng ngược lên bức tường, trông chẳng khác nào những con ruồi bò trên trần nhà và bám dính lấy mặt tường, không một phút nghỉ ngơi, vừa chạm tới một hốc tường này là lại tiếp tục hướng đến hốc tường kế tiếp; họ cứ tiến lại gần hơn, gần hơn nữa trong cuộc đua tranh giành sự sống với tử thần, cho đến khi chỉ còn một khoảng cách ngắn ngủi duy nhất tách biệt người đi đầu với cậu bé. Và giờ đây, chiếc móc sắt đã rơi xuống ngay dưới chân cậu bé, và người lính cứu hỏa đã đứng vững trên bậc thang, ôm trọn cậu thiếu niên vừa được giải cứu vào lòng, đúng lúc ngọn lửa bị dồn nén bấy lâu bùng lên dữ dội từ khung cửa sổ gác mái, giơ những chiếc vòi mang cơn thịnh nộ bất thành để vồ lấy con mồi. Chỉ khoảnh khắc sau, họ đã an toàn trên chiếc thang lớn đang chờ đón ở bên dưới.

Rồi một tiếng hò reo vang lên trời! Đàn ông ôm chầm lấy cổ nhau, vừa khóc vừa cười nức nở. Những người xa lạ vỗ vào lưng nhau, khuôn mặt rạng ngời ngấn lệ, bắt tay nhau và cư xử chẳng khác nào những kẻ bỗng chốc phát điên. Phụ nữ khóc nghẹn ngào trên đường phố. Người đánh xe ngựa bị kẹt lại giữa đám đông, nãy giờ vẫn đứng trân trân không nói nên lời trong khi tay vẫn siết chặt dây cương, bỗng quất roi cho ngựa phi nước đại và phóng đi trong tiếng hò hét vang lừng như người da đỏ Comanche để giải tỏa nỗi lòng. Cậu bé và ân nhân của em được đưa băng qua đường mà chẳng ai hay biết bằng cách nào. Các cảnh sát quên đi dáng vẻ đường hoàng của mình, cùng hòa giọng hò reo với tất cả mọi người. Lửa đỏ, hiểm nguy, sự sợ hãi và mất mát đều bị bỏ quên trong khoảnh khắc đồng cảm sâu sắc của con người — thứ gắn kết cả thế giới lại làm một.

Lính cứu hỏa John Binns được thăng chức đội trưởng đội của anh, và tấm huy chương Bennett được cài lên ngực áo anh trong buổi diễu hành ngày hôm sau. Vụ hỏa hoạn tại khu chung cư St. George Flats chính là cơ hội đầu tiên để New York được chứng kiến một cuộc giải cứu bằng những chiếc thang trèo — thứ trang thiết bị nay đã trở thành một phần vô cùng thiết yếu của lực lượng chữa cháy. Kể từ đó đến nay, đã có vô số cuộc giải cứu như thế. Trong đội ngũ mà John Binns từng là một chiến binh hạng nhì, ngày nay có thêm hai người nữa đang đeo huy chương vì những chiến công dũng cảm: đội viên trưởng Daniel J. Meagher và chiến binh Martin M. Coleman — người có tên đã được ghi bảy lần trên bảng vàng danh dự với số lần giải cứu nhiều gấp đôi, bất kỳ lần nào trong số đó cũng đủ khẳng định anh là một người đàn ông kiệt xuất giữa những người đàn ông, một anh hùng thực thụ. Và Xe thang Số 3 không phải là cái tên quá nổi bật trong số các đội chữa cháy của đô thị này về sự gan dạ và lòng dũng cảm. Người dân New York có quyền tự hào về những người lính cứu hỏa của họ. Suy cho cùng, tôi nghĩ rằng chẳng thể tìm thấy ở đâu một tập thể những con người không sợ hãi, dũng cảm và hiệu quả nhường ấy như Lực lượng Cứu hỏa New York. Tôi đã gắn bó và hiểu rõ họ suốt hai mươi năm, và tôi lên tiếng dựa trên sự quen biết cá nhân với rất nhiều người trong số họ, cũng như sự am hiểu chuyên môn về nhiều chiến công táo bạo hơn, những pha thoát chết trong gang tấc ngoạn mục hơn, và những phần việc xuất sắc hơn những gì có thể ghi lại hết giữa hai bìa của cuốn sách này.

Quả thực, khi ghi chép lại bất kỳ câu chuyện nào, việc lựa chọn và tránh tạo ra ấn tượng rằng sự liều lĩnh là phẩm chất hàng đầu trong bản tính của người lính cứu hỏa là điều vô cùng khó khăn. Điều đó hoàn toàn không đúng. Cuộc đời họ đối mặt với quá nhiều hiểm nguy thực tế để mà có thể liều lĩnh phơi bày sinh mạng — nghĩa là làm những việc vô ích. Kể từ giây phút rời khỏi doanh trại theo tiếng còi báo động cho đến khi trở về, họ luôn gánh chịu một rủi ro có thể đẩy họ đối mặt với cái chết dưới hình thái tàn khốc nhất vào bất cứ lúc nào. Thứ họ cần nhất chính là một cái đầu lạnh; và chẳng có gì được trân trọng hơn thế, chẳng có gì đưa họ đến con đường thăng tiến chắc chắn hơn thế; bởi khi họ thăng tiến về cấp bậc và trách nhiệm, sinh mạng của người khác cũng như của chính họ đều bắt đầu phụ thuộc vào phán đoán của họ. Hành động dũng cảm phi thường được thế giới ca tụng thường suy cho cùng chỉ là một nhiệm vụ đơn thuần đối với người lính cứu hỏa — một việc buộc phải làm theo cách đó bởi chẳng còn cách nào khác. Và theo góc nhìn của họ, đó cũng không phải là nhiệm vụ khó khăn nhất, thậm chí hiếm khi là như vậy. Họ hoàn thiện điều đó một cách dễ dàng bởi họ là những vận động viên, được rèn luyện để thực hiện chính xác những việc như thế, và bởi vì chung quy lại, việc mạo hiểm mạng sống ở chốn không trung, trước thanh thiên bạch nhật và dưới ánh mắt của đồng đội, vẫn dễ dàng hơn là phải đối mặt với cái chết trong cô độc, bị kẹt lại như con chuột trong rọ. Đó mới là hiểm nguy thực tế mà họ quá am tường; nhưng công chúng chỉ hay biết về điều đó khi họ đã chiến đấu trận chiến cuối cùng và gục ngã.

Sự an toàn thường nhật của chúng ta — thứ mà nếu có nghĩ tới, ta vốn coi đó là điều hiển nhiên — thực chất được xây dựng dựa trên sự hy sinh tối thượng của những con người tận tụy này biết nhường nào. Điều đó chỉ thấm thía qua những khoảng thời gian cách quãng dài, khi một thảm họa xảy ra chẳng hạn như vụ việc mà Cục trưởng Bresnan và Đội viên trưởng Rooney đã mất mạng ba năm trước. Họ bị nghiền nát đến chết dưới bể chứa nước lớn trong một nhà máy ở Phố 24 đang bốc cháy. Các trụ đỡ của bể đã bị ngọn lửa thiêu rụi. Cuộc kiểm tra các bể chứa nước trong thành phố diễn ra sau đó đã phát hiện tới tám nghìn bể hoặc là hoàn toàn không có trụ đỡ ngoại trừ các xà mái, hoặc chỉ được kê bằng những thanh gỗ, và do đó trở thành một mối đe dọa trực tiếp, không chỉ đối với những người lính cứu hỏa khi họ được gọi tới hiện trường, mà còn đe dọa hàng ngày đến cuộc sống của những người dân sống bên dưới chúng. Thật khó chịu khi phải nói thêm rằng yêu cầu chính đáng của sở phòng cháy về việc ban hành một đạo luật buộc các chủ nhà phải xây dựng bể chứa trên tường hoặc trên các giá đỡ bằng sắt vẫn chưa được chú mờn; nhưng thật không may, đó lại là một câu chuyện cũ rích.

Mười bảy năm trước, vụ sập một tòa nhà trên Đại lộ Broadway trong một trận hoả hoạn đã khiến cộng đồng bàng hoàng nhận ra rằng các cột đá hoàn toàn không an toàn để làm vật chống đỡ. Ngọn lửa bùng phát dưới tầng hầm, và lính cứu hỏa đã chĩa vòi rồng phun nước vào đó. Khi dòng nước lạnh phả trúng những cột đá hoa cương đang nung nóng, chúng nứt vỡ và đổ sập, kéo theo cả tòa nhà sụp đổ theo. Lúc bấy giờ, trên mái nhà có chừng một chục thành viên thuộc Đội xe thang Số 1 đang đục các lỗ thoát khói. Đa số đã bám chặt lấy lan can và đu lơ lửng ở đó cho đến khi được giải cứu. Hai người rơi thẳng xuống lò lửa — nơi những ngọn lưỡi liếm ngược lên cao tới hai mươi feet khi phần mái đổ sụp. Một trong số đó là Lính cứu hỏa Thomas J. Dougherty, cũng là một người từng đeo huy chương Bennett. Đội viên trưởng của anh đã thay mặt trả lời khi tên anh được xướng lên trong ngày diễu hành rằng anh đã "hy sinh trên mặt trận làm nhiệm vụ". Dẫu sao đi nữa, những con người ấy đã không hy sinh vô ích. Giờ đây, các cột đá không còn được sử dụng làm vật chống đỡ cho các tòa nhà tại New York nữa.

Cứ thế, người ta có thể kể mãi về những hiểm nguy mà lính cứu hỏa phải đối mặt như những bước tiến nhằm bảo vệ tốt hơn cho phần còn lại của chúng ta. Chính vụ cháy khu chung cư St. George Flats, và gần đây hơn là ngân hàng Manhattan — nơi một chục người bị thương nặng, đã phơi bày thực tế rằng các công trình chống cháy thông thường vốn đầy rẫy lỗi thiết kế và mang tính đánh lừa phần lớn. Người ta thậm chí có thể đi xa hơn và nói rằng rủi ro của người lính cứu hỏa tăng tỷ lệ thuận với sự tiến bộ hay tiện nghi của chúng ta. Những bể nước xuất hiện cùng các tòa nhà siêu cao tầng — bản thân chúng đã đặt ra cho những người chữa cháy những bài toán đến nay vẫn chưa có lời giải. Chính những giếng trời từng được ca ngợi là bước tiến đầu tiên trong việc xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp lại làm tăng thêm khối lượng công việc và hiểm nguy cho người lính cứu hỏa một cách khủng khiếp, đồng thời cũng nhân lên rủi ro cho bất kỳ ai sống dưới mái nhà của họ, bởi chúng đóng vai trò như những chiếc ống khói khổng lồ dẫn lửa thẳng tới các khung cửa sổ mở ra giếng trời ở mọi tầng. Hơn một nửa số vụ hỏa hoạn tại New York xảy ra trong các khu nhà tập thể. Khi Ủy ban Nhà ở cho Người thu nhập thấp năm 1894 nhóm họp tại thành phố này để thảo luận về các biện pháp làm cho chúng an toàn và tốt hơn, họ đã nhận được những sự trợ giúp và lời khuyên thiết thực nhất từ những người lính cứu hỏa, đặc biệt là Cục trưởng Bresnan — người đã qua đời chỉ vài ngày sau khi ông ra làm chứng với tư cách nhân chứng. Những khuyến nghị mà ông kiên quyết đề xuất giờ đây đã trở thành một phần của luật nhà ở tập thể chung.

Cục trưởng Bresnan đã ra đi khi đang dẫn dắt thuộc cấp xông pha đối đầu với kẻ thù. Trong lực lượng Cứu hỏa, tiểu đoàn trưởng luôn là người tiên phong dẫn đầu; ông không hề điều hành chiến dịch từ một vị trí an toàn ở hậu phương. Có lẽ đó chính là một trong những bí quyết tạo nên tinh thần bất khuất của những người lính dưới quyền ông. Bất kể phải chịu đựng những gian khổ nào, phần việc đầu tiên và lớn kế tiếp luôn thuộc về ông. Đứng tiếp theo trong hàng ngũ là đội trưởng, hay còn gọi là đội viên trưởng. Trong số sáu người bị mắc kẹt trong cái bẫy chết người của bể nước, bốn người đã dùng rìu tự đục một lối thoát xuyên qua bức vách ngăn ở giữa. Họ đều là những binh sĩ cấp dưới. Hai người thiệt mạng chính là cục trưởng và Phó đội viên trưởng John L. Rooney — người vào ngày hôm đó đang tạm quyền chỉ huy đội của mình do Đội viên trưởng Shaw vừa được thăng chức lên ngang hàng với Bresnan. Chưa đầy một năm sau, Cục trưởng Shaw cũng hy sinh trong một vụ cháy ở Phố Mercer. Tôi nghĩ mình có thể kể tên chừng năm hoặc sáu tiểu đoàn trưởng đã ngã xuống theo cách đó khi đang dẫn đầu những người lính của mình. Đuơng nhiên, những người lính sẽ chẳng còn xứng đáng với cái tên ấy nếu họ không tuân theo những người thủ lĩnh như vậy, bất kể con đường trước mặt dẫn tới đâu.

Tại khu nhà của tiểu đoàn trưởng thuộc Tiểu đoàn Mười bốn trên vùng Wakefield, hiện nay vẫn có một người đàn ông — dẫu tuổi đời hãy còn trẻ — với thân thể mang thương tật nhưng tinh thần vẫn hiên ngang, đang minh chứng cho phẩm chất của lực lượng chữa cháy New York hệt như cách mà vị anh hùng Bresnan và người đồng đội của ông đã thể hiện qua cái chết của họ. Thomas J. Ahearn đã dẫn dắt đội của mình với tư cách là đội trưởng đến dập một đám cháy tại Nhà máy Khí đốt Tổng hợp ở Phía Đông. Anh phát hiện một trong các tòa nhà đang chìm trong biển lửa. Tận sâu phía sau, ở cuối một con hẻm hẹp bị ngọn lửa uốn lượn và bao bọc xung quanh với một vẻ trắng trợn và độc ác, là thi thể của một người đàn ông — mà đám đông đang hoảng loạn khẳng định là đã chết. Những nỗi đau đớn của nạn nhân đã diễn ra trong chớp nhoáng. Một số phận tồi tệ hơn đang đe dọa tất cả nếu ngọn lửa không được dập tắt nhanh chóng. Nơi đây có những bể chứa naphtha ngầm — lòng đất bị đục rỗng chi chít bởi những chiếc bể này — và chúng có thể phát nổ bất cứ lúc nào khi ngọn lửa đang cuồn cuộn hoành hành ngay phía trên. Hiểm nguy vô cùng cận kề và lớn lao. Đội trưởng Ahearn nhìn thi thể nạn nhân và thấy nó cử động. Chiếc dây đồng hồ trên áo vest của người đó nhấp nhô lên xuống tựa như anh ta vẫn đang thở.

“Anh ta chưa chết,” anh nói. “Tôi sẽ đưa người đàn ông đó ra ngoài.” Và anh trườn mình vào con hẻm lửa, chẳng màng tới những hiểm nguy ẩn giấu, chỉ nhìn chằm chằm vào con người đang cận kề cái chết. Ngọn lửa thiêu đốt anh; chúng chặn đứng lối đi của anh; nhưng anh vẫn vượt qua được và mang người đàn ông kia ra ngoài, dẫu nạn nhân bị thương nặng đến mức đã qua đời ngay ngày hôm đó tại bệnh viện. Hội đồng Ủy viên Cứu hỏa đã trao tặng Ahearn huy chương dũng cảm và thăng chức cục trưởng cho anh. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, suýt chút nữa anh đã bỏ mạng trong một nỗ lực đầy quả cảm nhằm cứu mạng một đứa trẻ được cho là đang bị nhốt trong một tòa nhà chung cư đang bốc cháy ở Phố Rivington. Trụ sở của Cục trưởng Ahearn nằm ở gần đó, và ông là người đầu tiên có mặt tại hiện trường. Một người đàn ông tuyệt vọng chặn đứng ông ngoài hành lang. “Con tôi! Con tôi!” ông ta gào thét, hai tay vò võ. “Hãy cứu nó! Nó ở trong kia.” Ông ta chỉ tay về phía căn phòng phía sau. Nơi đó đặc quánh khói đen. Ở căn phòng phía phía trước, ngọn lửa đang hoành hành dữ dội. Bằng cách bò bằng cả tay lẫn chân, viên cục trưởng đã lách mình vào căn phòng mà người đàn ông kia vừa chỉ. Ông quờ quạng dưới gầm giường và trên chiếc giường, nhưng chẳng thấy bóng dáng đứa trẻ nào ở đó. Khi đã chắc chắn rằng nó đã trốn thoát, ông bắt đầu quay ra. Khói đã dày đặc đến mức việc thở trở nên bất khả thi, ngay cả khi áp sát mặt xuống sàn nhà. Viên cục trưởng kéo chiếc áo khoác trùm lên đầu và lao thẳng về phía cửa hành lang. Ông chạm tới nơi chỉ để nhận ra chiếc khóa lò xo đã sập đóng lại. Nắm đấm cửa nung bỏng cả tay ông. Ngọn lửa phá vỡ từ phòng trước tràn vào, thiêu đốt khuôn mặt ông. Với nỗ lực cuối cùng, ông dùng chân đá văng tấm ván dưới cùng của cánh cửa và thò đầu ra ngoài. Và rồi ông bất tỉnh nhân sự.

Những người lính dưới quyền đã tìm thấy ông nằm bất động như thế khi họ đổ xô đi tìm ông. Chiếc áo khoác sau lưng đã bị thiêu rụi hoàn toàn, và chiếc mũ của ông chỉ còn trơ lại phần vành bằng thép. Ông nằm viện suốt mười tháng, xuất viện trong tình trạng bị điếc và tàn phế về thể xác. Ở tuổi bốn mươi lăm, hội đồng đã cho ông về nghỉ ngơi tại vùng quê yên tĩnh, kèm theo một nghị quyết trang trọng — thứ mang lại nhiều vinh dự cho hội đồng hơn là cho chính ông. Đó là quyết định duy nhất thuộc loại này trong sổ sách của sở:

Quyết định rằng, khi phân công Tiểu đoàn trưởng Thomas J. Ahearn chỉ huy Tiểu đoàn Mười bốn tại khu vực mới sáp nhập, Hội đồng xét thấy cần thiết phải bày tỏ sự tri ân sâu sắc của Hội đồng cũng như của tất cả những công dân lương thiện đối với những chiến công xuất sắc và đầy công trạng của Cục trưởng Ahearn trong việc thực thi nhiệm vụ — điều sẽ luôn mãi là tấm gương và nguồn cảm hứng cho lực lượng mặc đồng phục của chúng ta, đồng thời bày tỏ hy vọng rằng những năm tháng phục vụ tiếp theo của ông tại một vị trí bớt gian khổ hơn sẽ thật thoải mái và ấm cúng hệt như những năm tháng lẫy lừng và vinh quang trước đây của ông.

Lính cứu hỏa dĩ nhiên đều là những vận động viên. Họ buộc phải thế, bằng không họ chẳng thể trụ lại được dù chỉ một tuần trong hàng ngũ, nếu như thực sự họ có thể bước chân vào đó. Chỉ riêng việc thao tác với những chiếc thang trèo — trông có vẻ nhẹ nhàng nhưng thực chất nặng từ mười sáu đến bốn mươi pound — đã đòi hỏi một sức mạnh phi thường. Chẳng cần đến kỹ năng gì quá đặc biệt. Một người chỉ cần có thần kinh thép và đủ sức mạnh để nhấc bổng chiếc sào dài ở phần đầu hẹp của nó, rồi thọc mạnh chiếc móc sắt qua khung cửa sổ mà anh ta không thể nhìn thấy nhưng biết chắc chắn là nó nằm ở đó. Một khi đã lọt qua, những chiếc răng trên móc cùng trọng lượng của người lính áp lên chiếc thang sẽ giữ nó đứng vững an toàn, và sẽ chẳng có hiểm nguy thực tế nào xảy ra trừ khi anh ta mất bình tĩnh. Buổi huấn luyện khắc nghiệt tại trường đào tạo chính là rào cản ngăn chặn khả năng đó xảy ra. Bất kỳ ai cảm thấy dù chỉ một chút khó chịu khi phải leo trèo ở độ cao chóng mặt, hay khi phải làm hàng trăm lẻ một công việc hiểm nguy mà lính cứu hỏa thường xuyên được yêu cầu thực hiện, đều sẽ bị loại vì không đạt tiêu chuẩn. Khoảng năm phần trăm số người được tuyển dụng bị loại bỏ qua bài kiểm tra thang và thậm chí không thể bước qua nổi giai đoạn thử việc. Một tỷ lệ nhỏ hơn nữa tự xin rút lui do "suy sụp thần kinh" nói chung. Trải nghiệm đầu tiên khi bước vào một căn phòng đặc quánh khói ngạt thở, với ngọn lửa gầm rú ngay trên đầu, thường là quá đủ để thuyết phục những kẻ nhút nhát rằng công việc này không dành cho họ. Không có kẻ hèn nhát nào bị sa thải khỏi sở, đơn giản vì chẳng có kẻ nào lọt được vào đây.

Quan niệm cho rằng có một đội cứu hộ tách biệt khỏi tổng thể lực lượng lính cứu hỏa là một sự nhầm lẫn. Họ là một khối thống nhất. Ngày nay, mọi lính cứu hỏa đều phải vượt qua bài kiểm tra kỹ năng cứu hộ, phải trèo lên tận đỉnh của bất kỳ tòa nhà nào bằng chiếc thang trèo của mình, trượt xuống cùng một đồng đội được cứu, hoặc nhảy không chút do dự từ tầng ba xuống tấm lưới cứu sinh căng bên dưới. Nhờ sự huấn luyện nghiêm ngặt ấy, những người lính được trang bị sẵn sàng cho công việc của mình, và thời cơ thử thách họ sẽ đến rất nhanh. Nó đã đến với Daniel J. Meagher — người mà tôi từng nhắc đến với tư cách là đội viên trưởng của Đội xe thang Số 3, khi vào một đêm nửa đêm, một người phụ nữ treo lơ lửng ở khung cửa sổ tầng năm của một tòa nhà đang cháy, và chiếc thang dài nhất có ở đó vẫn còn thiếu tới mười hay mười hai feet mới chạm tới được cô ấy. Người gan dạ nhất trong đội đã nỗ lực tiếp cận cô ấy nhưng bất thành, và trong cố gắng đó đã bị bong gân bàn chân. Hồi đó chưa hề có thang trèo. Meagher liền ra lệnh cho những người còn lại dựng thang lên hiên nhà và giữ nó chĩa ra khỏi tòa nhà sao cho anh có thể vươn tới tận bậc thang cao nhất. Cân bằng thân mình ở nơi mà chỉ một rung động nhỏ nhất cũng có thể khiến cả chiếc thang và con người đổ sập xuống đất, anh ra lệnh cho người phụ nữ buông tay rơi xuống, rồi đón lấy cô trong vòng tay và đưa cô xuống đất an toàn.

Không ai ngoài một vận động viên với cơ bắp và thần kinh bằng thép có thể thực hiện được một chiến công như thế, hoặc chiến công từng làm nên tên tuổi của Dennis Ryer — thành viên đội xe cứu hỏa Số 36 — ba năm trước. Sự việc diễn ra trên Đại lộ Số 7 tại Phố 134. Một căn hộ chung cư đang bốc cháy, và những người thuê nhà đã tháo chạy; nhưng có một người phụ nữ sực nhớ ra con vẹt của mình nên đã quay lại tìm nó, để rồi phát hiện ra lối thoát qua cầu thang đã bị chặn đứng khi cô định quay ra đường lần nữa. Cùng chiếc lồng vẹt, cô xuất hiện ở cửa sổ tầng cao nhất, lọt thỏm giữa làn khói mịt mù và kêu cứu. Lại một lần nữa, chẳng có chiếc thang nào dài tới nơi. Những người hàng xóm trên mái nhà đã chuẩn bị sẵn một sợi dây, nhưng người phụ nữ quá hoảng sợ nên không dám tự mình sử dụng nó. Dennis Ryer liền thắt chặt sợi dây quanh eo mình, bảo những người khác thả anh xuống và bám chặt lấy để giữ mạng sống. Anh kéo được người phụ nữ ra ngoài, nhưng cô ấy quá nặng, và những người ở trên mái nhà đã phải vắt kiệt sức mới giữ nổi cả hai. Việc kéo họ vượt qua gờ mái là điều hoàn hảo không tưởng. Đứng trên bậc thang cao nhất của chiếc thang ở tận phía dưới cách đó nhiều bước chân chính là cha của Ryer — bản thân ông cũng là một lính cứu hỏa thuộc một đội khác, và ông đã chứng kiến hiểm nguy của con trai mình.

“Bám chặt lấy, Dennis!” ông gào lên. “Nếu con ngã, ta sẽ đỡ lấy con.” Giá như họ buông tay, cả ba người chắc chắn sẽ mất mạng. Người lính cứu hỏa trẻ tuổi nhận thức rõ mối hiểm nguy và lối thoát duy nhất chỉ trong một cái liếc nhìn. Ô cửa sổ trước mặt nơi anh đang đung đưa, bị bóp nghẹt một nửa bởi làn khói tuôn ra từ đó, là ô cửa cuối cùng của ngôi nhà. Ngay bên cạnh, tại ô cửa sổ của ngôi nhà liền kề, chính là sự an toàn, miễn là anh với tới được nó. Vươn một chân ra, anh đá mạnh vào bức tường để tạo đà cho cơ thể vung về phía trước, một lần, hai lần, rồi uốn cong người để gia tăng chuyển động. Đến lần thứ ba, anh suýt vượt qua nó và kịp bám một chấu thật chắc vào người phụ nữ đang hoảng loạn, đồng thời thét vào tai cô ấy buông tay cô ra ngay lập tức. Khi họ lướt qua cửa sổ ở lần vung thứ tư, với một nỗ lực tối thượng, anh đẩy cô xuyên qua cả khung cửa sổ và mọi thứ, rồi tự mình theo sau ở nhịp vung kế tiếp, trong khi con đường phố vốn đang đặc quánh bởi dòng người cuồn cuộn bỗng vang dội một tiếng hò reo vang dội. Cụ già Washington Ryer trên chiếc thang của mình đã tung chiếc mũ lên không trung và cất tiếng hò reo át cả những người khác. Nhưng con vẹt thì đã chết — rất có thể do chết khiếp hoặc bị ngạt khói.

Tôi từng hỏi lính cứu hỏa Martin M. Coleman, sau một trong những lần thể hiện sự bình tĩnh và lòng dũng cảm khiến anh liên tục lọt vào tầm ngắm của các phóng viên báo chí, rằng anh nghĩ gì khi đứng trên chiếc thang với nhiệm vụ rành rành trước mắt có thể mang lại sự sống hoặc cái chết ngay khoảnh khắc tiếp theo. Anh nhìn tôi với vẻ bối rối.

“Nghĩ ư?” anh chậm rãi đáp. “Chà, tôi chẳng nghĩ gì sất. Chẳng có thời gian đâu mà nghĩ. Nếu tôi dừng lại để suy nghĩ, năm con người kia chắc chắn đã bị thiêu rụi rồi. Không; tôi chẳng nghĩ đến hiểm nguy. Nếu có điều gì đọng lại, thì đó là — ở trên đó — tôi là sếp. Những người khác không có cửa ở đó. Chỉ có điều tôi ước gì,” anh vừa nói vừa xoa cánh tay một cách đau đớn khi nhớ lại, “giá như cô ta đừng ngất xỉu. Thật khổ sở khi họ ngất đi. Họ nặng chẳng khác nào những khối xác chết. Chúng tôi chẳng nhận được chút sự trợ giúp nào từ những người phụ nữ đẫy đà đó cả.”

Và đó là tất cả những gì tôi có thể moi ra từ anh. Tôi cũng chẳng khá khẩm hơn là bao khi trò chuyện với Cục trưởng Benjamin A. Gicquel — người đeo huy chương Bennett lâu năm nhất, hệt như Coleman là người trẻ nhất hay là người mới nhận nó gần đây nhất. Ông rất sẵn lòng khi nói chuyện về khoa học dập tắt những đám cháy; về Cục trưởng Sở Bonner — vị "chàng trai ít nói", người mà ông tin rằng đã làm chủ nghệ thuật này vượt qua bất kỳ ai đang sống; về hiện tượng ngọn lửa ngược, và hầu như bất cứ thứ gì khác liên quan đến công việc: thế nhưng khi tôi khăng khăng đòi ông kể lại câu chuyện giải cứu năm người trong gia đình Schaefer khỏi một khu chung cư đang bốc cháy ở phố Cherry — chiến tích giúp ông giành được cấp bậc và phần thưởng, ông chỉ bật cười một tiếng đầy nhã nhặn và bảo rằng chính "ông già" — ý chỉ Schaefer — mới là người đáng lẽ nên được nhận huy chương. “Thật là một hành động cao cả khi ông ấy để cho mấy đứa nhỏ ra ngoài trước.” Đôi khi tôi ước gì những người lính cứu hỏa bớt khiêm tốn đi một chút. Việc ghi chép lại những chiến công lẫy lừng của họ sẽ trở nên dễ dàng hơn biết bao, dẫu có thể không còn thú vị đến thế. Nhưng tôi không chắc rốt cuộc đó có phải là sự khiêm tốn hay thực chất chỉ là một góc nhìn hoàn toàn khác biệt. Đối với họ, đó là công việc kinh doanh, là sứ mệnh của cả cuộc đời họ. Cảm xúc duy nhất được phép bùng lên trên mức đó chính là niềm hân hoan khi đối mặt với hiểm nguy đã bị khuất phục bởi lòng dũng cảm, điều mà Coleman đã bày tỏ. Trên chiếc thang, anh ấy chính là sếp! Đó là sự ngạo nghễ của một người đàn ông đầy bản lĩnh, và chắc chắn chẳng có ai ngoài một kẻ bản lĩnh mới có thể leo lên chiếc thang ấy.

Không còn nghi ngờ gì nữa, khía cạnh ngoạn mục của công việc này luôn có sức hút nhất định. Thật kỳ lạ nếu nó lại không có. Mọi thứ trong sự thế của một người lính cứu hỏa đều nuôi dưỡng điều đó một cách tự nhiên. Ngày hay đêm, họ đều sống một cuộc đời chực chờ trên lưỡi dao cạo, vốn được nuôi dưỡng tự nhiên bởi sự kích thích, dẫu cho đó chỉ là một sự giải tỏa khỏi những giờ phút nhàn rỗi đến phát bực trong doanh trại. Dù họ có cố gắng đến đâu để tìm việc cho anh ta làm ở đó, thời gian vẫn trôi qua nặng nề đối với một con người luôn bị kích động thần kinh cao độ, và bắt buộc phải thế để sẵn sàng thực hiện những hành động mạo hiểm trong thời gian ngắn nhất. Anh ta đâm ra cằn nhằn và cãi vã, và nhu cầu duy trì kỷ luật nghiêm ngặt nhất trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, khiến anh ta cảm thấy bức bối không yên. Cục trưởng Sở Bonner từng nói với tôi rằng: “Họ cằn nhằn chẳng khác nào một lũ đàn bà lắm điều; và những kẻ cừ khôi nhất ở hiện trường hỏa hoạn lại thường là những kẻ tồi tệ nhất khi ở trong nhà.” Giữa lúc ấy, tiếng kẻng vang lên một tín hiệu quen thuộc. Tiếng móng ngựa nện rầm rầm trên sàn ván; chỉ với một cú nhảy, những người lính tuột xuống dọc theo chiếc cột sáng bóng để xuống tầng chính, mọi thứ khác đều bị quên sạch; và giữa tiếng va đập, lách cách và đùng đoàng, chiếc xe cứu hỏa nặng nề lao vút ra đường, phóng đi với tốc độ phi nước đại điên cuồng, để lại phía sau một vệt lửa dài.

Ngay sau đó, đám đông nhìn thấy những người đàn ông mặc áo khoác cao su, đội mũ bảo hiểm mang theo vòi rồng và ống dẫn lao qua một khung cửa sổ tuôn ra thứ khói dày đặc đến mức thật khó lòng tin rằng một con người có thể hít thở nó dù chỉ một giây mà vẫn sống sót. Vòi rồng được kéo ngoằn ngoèo qua bệ cửa sổ, nơi chẳng mấy chốc xuất hiện một khuôn mặt đỏ kè với mái tóc bù xù để thét lên một điều gì đó khản đặc với những người ở phía dưới, và họ hiểu ngay ý. Sau đó, trừ khi có tình huống khẩn cấp nào phát sinh, phần trình diễn ngoạn mục coi như kết thúc. Nếu người công dân nào từng đập tim thình thịch khi nhìn họ lao vào nay được chứng kiến họ lúc này, hắn sẽ chỉ thấy những hình thù lem luốc, hoàn toàn khác xa với những người đàn ông bảnh bao vừa mới đây còn khơi gợi sự ngưỡng mộ của hắn, đang bò bằng cả tay lẫn chân, với chóp mũi áp sát xuống mặt sàn nếu làn khói quá dày đặc, và luôn chĩa mũi "vòi rồng" về hướng mà kẻ thù dự kiến sẽ xuất hiện. Ngọn lửa chính là kẻ thù; nhưng anh ta có thể chiến đấu với nó, một khi đã tiếp cận được, với một chút hy vọng sống còn. Làn khói cướp đi sinh mạng mà chẳng cho anh ta một cơ hội nào để chống trả. Sự luyện tập lâu năm tôi luyện anh ta chống lại nó, cho đến khi anh ta nắm vững ngón nghề "nuốt khói". Anh ta có thể thở ở nơi mà một ngọn nến phải tắt ngấm vì thiếu oxy. Bằng cách áp chặt miệng vào vòi phun, anh ta hứng lấy chút không khí ít ỏi mà dòng nước mang theo và giải phóng ra; và ngay sát mặt sàn vài inch, hầu như luôn có một luồng không khí lưu thông. Trong tình huống khẩn cấp cuối cùng, vẫn có chiếc vòi rồng để anh ta bám vào đó mà thoát ra ngoài. Khói luôn là kẻ thù tồi tệ nhất của anh ta. Nó giăng ra những cỗ máy mai phục mà anh ta có thể lờ mờ đoán biết nhưng chẳng thể nào phòng vệ được. Anh ta cố gắng chống lại điều đó bằng cách mở các lỗ thoát trên mái nhà ngay khi các chiến sĩ vòi rồng đã vào vị trí và sẵn sàng; thế nhưng bất chấp mọi biện pháp phòng ngừa, anh ta vẫn thường xuyên bị bất ngờ bởi hiện tượng ngọn lửa ngược đáng sợ.

Tôi nhớ có lần đứng trước một cửa hàng đang bốc cháy trên Đại lộ Broadway vào một đêm nọ, khi ngọn lửa ngược thổi bay toàn bộ mặt tiền mà chẳng đưa ra một lời cảnh báo nào. Đó đơn giản là một vụ nổ của các loại khí được sinh ra do sức chứa nhiệt, buộc phải tìm đường thoát và đi theo đường kháng cự ít nhất — lên trên, xuống dưới, hoặc theo vòng tròn — chẳng quan trọng lắm, miễn là chúng thoát được. Trong trường hợp này, nó cuốn phăng các cửa chớp, cửa sổ và mọi thứ bay băng qua Đại lộ Broadway tựa như những vỏ trấu, rải rác trên đường phố những cuộn vải nặng trịch. Tiếng va chạm nghe như một tiếng sấm sét kinh hoàng. Nhiều người bị hất ngã nhào xuống vỉa hè đối diện, và hai cỗ xe ngựa cứu hỏa vốn đã quen với hầu như mọi loại sự cố tại các đám cháy bỗng hoảng loạn bỏ chạy tán loạn trong cơn khiếp đảm cuồng loạn. Đó chính là một luồng xung kích kiểu ấy đã hất ngã và làm bị thương nặng Tiểu đoàn trưởng M'Gill — một trong những người lính cứu hỏa kỳ cựu và giàu kinh nghiệm nhất, trong một vụ cháy trên Đại lộ Broadway vào tháng 3 năm 1890; và nó đã cướp đi sinh mạng của nhiều dũng sĩ hơn cả những trận hỏa hoạn khốc liệt nhất từng bùng phát. Cơn "phun lửa", theo cách gọi của lính cứu hỏa, xuất hiện một cách bất thình lình và từ góc khuất ít ngờ tới nhất. Chính nỗi sợ hãi đó, cùng với việc bị khói quật ngã nói chung, là lý do khiến những người lính cứu hỏa luôn di chuyển thành từng cặp hoặc từ hai người trở lên cùng nhau. Họ không bao giờ rời mắt khỏi nhau dù chỉ một khoảnh khắc nếu có thể tránh được. Nếu lỡ mất dấu, họ sẽ lập tức đi tìm người bị lạc. Sự chậm trễ dù chỉ trong tích tắc có thể chứng tỏ là chí mạng đối với nạn nhân.

Trung sĩ Samuel Banta thuộc đội Phố Franklin, khi phát hiện chiếc vòi rồng mà Lính cứu hỏa Quinn vừa cầm tại hiện trường vụ cháy ở Phố Park Place đang văng vung vẩy một cách vô định, liền liếc mắt nhìn quanh và thấy Quinn đang nổi úp mặt dưới căn hầm chứa đầy nước. Anh ta đã ngất đi, ngã nhào xuống đó, và đang chết đuối trong khi ngọn lửa vẫn đang hoành hành dữ dội ở phía trên và hai bên sườn. Banta liền nhảyỏm xuống theo để cứu và cố gắng nhô đầu anh ta lên mặt nước. Trong lúc đang bận rộn như vậy, anh liếc mắt lên và nhìn thấy luồng khí phản hồi sơ khởi của ngọn lửa ngược đang lao thẳng về phía mình. Viên trung sĩ lập tức lặn xuống và cố kéo theo người lính vòi rồng bất hạnh của mình cùng lặn; nhưng anh ta vùng vẫy và tự gỡ tung ra. Từ dưới mặt nước, Banta giơ một bàn tay lên và nó đã bị bỏng. Anh giơ bàn tay kia lên và nhận ra luồng hơi nóng đã quét qua khi nó rút về mà không bị xém lông. Sau đó, anh đưa Quinn ra ngoài cùng mình; nhưng đã quá muộn. Bị kẹp giữa dòng nước lũ và ngọn lửa, anh chẳng còn chút cơ hội nào. Khi tôi hỏi viên trung sĩ về điều đó, anh chỉ đáp gọn lỏn: “Người phụ trách vòi rồng đã rơi xuống hầm. Tôi đưa anh ta lên; thế thôi.” “Nhưng bằng cách nào?” tôi gặng hỏi. “Chà, tôi đi xuống qua lối tầng hầm,” viên trung sĩ mỉm cười đáp, tựa như đó là việc bình thường nhất trên đời.

Chính vị Banta này, khi Lính cứu hỏa David H. Soden bị vùi lấp dưới những bức tường đổ sập của một ngôi nhà trên Phố Pell, đã trườn qua một khoảng hở ở bức tường tầng hầm, lách mình giữa những đống xà bần đổ nát, và với hiểm nguy cận kề sinh mạng của chính mình, đã miệt mài làm việc ở đó bằng một chiếc cưa tay suốt hai tiếng đồng hồ dài đằng đẵng để giải cứu đồng đội, trong khi những lính cứu hỏa khác dùng dây thừng níu giữ những thanh xà bị cắt đứt để tạo cho anh một cơ hội. Nhiều lần trong lúc anh đang làm việc, quần áo của anh bắt lửa và người ta liên tục phải chĩa vòi rồng phun nước vào người anh. Nhưng anh đã đưa được người đồng đội của mình ra ngoài một cách bình an vô sự, và có lẽ là lần thứ hai mươi, tên anh được ghi vào bảng vàng danh dự. Các đồng đội của anh kể lại rằng, trong một lần trong số hai mươi lần đó, vụ sập một tòa nhà tại Phố Hall Place đã khiến một công nhân nằm bất động trên một đoạn tường chông chênh với chiếc chân gãy. Bức tường không thể chịu nổi sức nặng của chiếc thang, và việc tìm cách tiếp cận anh ta dường như cầm chắc cái chết, khi đó Banta đã chạy băng lên một thanh xà nghiêng vẫn còn một đầu bám chặt vào mối nối, nhảy cóc từ điểm tựa này sang điểm tựa khác trên bức tường — nơi mà ngay cả một con dê cũng khó lòng tìm nổi chỗ bám chân, tiếp cận nạn nhân và đưa anh ta xuống vác trên vai, trong khi miệng vẫn chửi rủa anh ta như một gã kỵ binh để tránh việc sự hiểm nguy của cuộc xuống dốc khiến nạn nhân mất đi thần kinh và kéo theo sinh mạng của cả hai.

Lính cứu hỏa sợ các vụ cháy tầng hầm hơn bất kỳ loại nào khác, và điều đó hoàn toàn có lý. Việc tạo ra một lối thoát khói ở đó vô cùng khó khăn, và hiểm nguy chết đuối cộng thêm vào nguy cơ bị ngạt thở một khi họ chính thức bắt tay vào việc. Nếu một người bị mất tầm nhìn hoặc không thể chạm tới các đồng đội ở dưới đó dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất, tỷ lệ năm ăn một là anh ta sẽ không bao giờ được nhìn thấy khi còn sống nữa. Khi ấy, một trận chiến khốc liệt diễn ra — thứ mà thành phố mới chỉ chứng kiến vào tháng Năm vừa qua tại vụ cháy kho giấy trên Phố Chambers. Cuộc chiến được định đoạt sâu thẳm dưới lòng đất, với lửa và nước lũ, cái lạnh thấu xương và các loại khí độc cùng liên minh chống lại lực lượng của Cục trưởng Bonner. Ngay bên cạnh là một kho bảo quản lạnh, chính là nguồn phát ra cái lạnh buốt giá. Một thứ gì đó đang cháy — tôi không rõ liệu người ta có bao giờ tìm ra chính xác đó là gì không — đã tỏa ra những làn khói ngạt thở khiến từng tốp lính cứu hỏa gục ngã. Từng hàng người nối tiếp nhau lảo đảo bước ra đường, đen nhẻm và thở hổn hển, rồi ngã quỵ ngay tại chỗ. Trạm cứu hỏa gần đó được biến thành một bệnh viện tạm chiến, nơi những người bất tỉnh được đặt nằm trên đống rơm trải vội. Các bác sĩ xe cứu thương quần quật cấp cứu cho họ. Ngay khi tỉnh lại, họ lập tức quay trở lại để góp một tay vào công việc cứu hộ. Trong cơn mê sảng, họ vẫn giãy giụa đòi quay lại. Sâu thẳm dưới lòng đất, một người đồng đội của họ đang nằm bất lực.

Chẳng có gì cao cả hơn trong sử sách của những cuộc chiến tranh hào hùng có thể sánh được với câu chuyện về cuộc đấu tranh mà những dũng sĩ này đã duy trì suốt nhiều giờ liền chống lại những bất lợi to lớn để giải cứu đồng đội của mình. Hết lần này đến lần khác, họ lao xuống cái hố khói chết chóc, để rồi chỉ nhận lấy thất bại. Trung sĩ Banta đã thử hai lần nhưng không thành công. Lính cứu hỏa King được kéo lên trong trạng thái bất tỉnh, và sau khi được hồi sức lại đã lập tức lao xuống thêm một lần nữa. Lính cứu hỏa Sheridan quay trở lại với hai bàn tay trắng, sống dở chết dở. Cuối cùng, John O'Connell thuộc Đội xe thang Số 1 đã thành công trong việc tiếp cận đồng đội và thắt một sợi dây quanh người anh ta, trong khi từ phía trên, mọi người xối nước ướt đẫm cả hai để ngăn họ không bị nướng chín. Họ kéo lên được một người đàn ông đang hấp hối; nhưng John G. Reinhardt khi đã chết lại có sức mạnh lay động lớn hơn cả một đội lính cứu hỏa còn sống. Câu chuyện về trận chiến giành giật sự sống cho anh sẽ còn được kể mãi trong các trạm cứu hỏa ở New York, và sẽ tiếp thêm sức mạnh cho những King, những Sheridan và những O'Connell của những thế hệ mai sau để lập nên những chiến công tương tự.

Làm thế nào mà những người lính cứu hỏa có thể nghe thấy đúng tín hiệu trong giấc ngủ của họ, trong khi họ vẫn ngủ say sưa qua vô số tiếng chuông liên quan đến đội khác chứ không phải đội mình, vẫn là một trong những điều bí ẩn có lẽ sẽ mãi mãi không có lời giải đáp. “Tôi không biết,” Cục trưởng Sở Bonner từng nói khi tôi hỏi ông. “Tôi đoán là nó cũng giống như mọi người khác thôi. Anh nghe thấy những gì anh bắt buộc phải nghe. Có một chiếc kẻng ngay trên giường tôi ở nhà, và tôi nghe thấy mọi tiếng đánh của nó, nhưng tôi lại không nghe thấy tiếng khóc của đứa trẻ. Vợ tôi nghe thấy tiếng đứa trẻ ngay cả khi nó chỉ nhúc nhích trong nôi, nhưng lại không nghe thấy tiếng kẻng.” Rất có thể ông ấy nói đúng. Việc một người lính cứu hỏa có thể nghe và đếm chính xác nhịp chuông ngay trong giấc ngủ của mình đã cứu sống hàng trăm con người, cùng vô số sinh mạng được cứu thoát kịp thời; bởi vì chính trong những khoảnh khắc đầu tiên của một đám cháy, người ta mới có thể giải quyết nó một cách dứt điểm. Tôi nhớ có một trường hợp mà việc không giải mã chính xác tín hiệu, hoặc sự cố rẽ nhầm đường đến đám cháy, đã cướp đi một sinh mạng — và trớ trêu thay, đó lại chính là người vợ của một trong những người lính cứu hỏa đã đáp lại tiếng còi báo động. Mọi thứ quá đỗi đau thương, quá đỗi bi thảm đến mức nó để lại trong tâm trí tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Đó là vụ hỏa hoạn mà Patrick F. Lucas đã giành được huy chương của năm đó bằng cách giật lại năm con người khỏi miệng hổ tại một khu chung cư trên Phố Dominick. Tín hiệu báo động vang lên tại doanh trại của đội xe thang ở Phố North Moore, nhưng hoặc là bị hiểu lầm hoặc là họ đã xuất phát sai hướng. Thay vì rẽ hướng đông ra Đại lộ West Broadway, chiếc xe thang lại rẽ về phía tây và phóng như bay về phía Phố Greenwich. Chỉ mất có vài giây, khoảng thời gian ngắn ngủi bị bỏ lỡ, nhưng chừng đó là quá đủ. Cổ họng Lính cứu hỏa Murphy như nghẹn đắng khi từ chỗ ngồi trên chiếc xe thang đang lao vút về phía đám cháy, anh nhận ra chính ngôi nhà của mình đang bốc cháy. Lên tới tầng năm, anh tìm thấy người vợ của mình đang bị kẹt lại trong phòng. Cô đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay anh khi anh bồng cô đến lối thoát hiểm. Lần này, ngọn lửa đã chiến thắng trong cuộc đua giành lấy một sinh mạng.

Trong lúc tôi đang viết những dòng này, tờ báo buổi sáng được nhét trước cửa nhà tôi lại kể câu chuyện về một người lính cứu hỏa — đang nằm dưỡng thương vì gãy mắt cá chân tại một bệnh viện trên khu phố phía Bắc — đã bật dậy khỏi giường, quên mất cả thương tích khi tiếng kẻng báo động vang lên đúng tín hiệu của anh, và cố gắng lao đi chữa cháy. Các tiếng còi báo hỏa được reo lên trong các bệnh viện để thông tin cho đội ngũ xe cứu thương. Người lính cứu hỏa tật nguyền nghe thấy tín hiệu giữa lúc đêm khuya vắng lặng, và trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, đã bật dậy khỏi giường, quờ quạng tìm chiếc cột tuột, và khi túm được chân giường, liền cố gắng trượt xuống bằng cách đó. Bó bột quanh mắt cá chân của anh đã bị nứt, vết thương cũ tái phát và anh bị thương nặng thêm.

Những người lính cứu hỏa New York có một câu nói đầy kiêu hãnh rằng họ "chiến đấu với giặc lửa từ bên trong." Điều đó đồng nghĩa với lòng dũng cảm không chút do dự, sự hy sinh tức thì và chiến thắng đạt được, tất cả gộp lại làm một. Việc cứu người lính lên mặt báo và giành được những lời tán dương, do hoàn cảnh bắt buộc, phần lớn được thực hiện từ bên ngoài, nhưng điều đó không vì thế mà bớt phần hiểm nguy. Thỉnh thoảng, dẫu rất hiếm khi, trong sự nghiêm trọng tột cùng ấy lại phảng phất một nét hài hước, hệt như trong một vụ cháy hiếm hoi tại Mulberry Bend cách đây vài năm. Người Ý có niềm tin — và có lý do — rằng hỏa hoạn mang lại vận rủi, thế nên họ không mua bảo hiểm và cũng rất ít khi xảy ra cháy. Nguyên nhân của vụ cháy này chính là chiếc bàn thờ gia tiên của gia đình Romolo. Ngọn đèn trên đó phát nổ, và căn hộ chung cư đã chìm trong biển lửa khi lính cứu hỏa tới nơi. Viên cảnh sát tuần tra khu vực đã cố gắng cứu bà Romolo; nhưng bà cứ bám chặt lấy chân giường và kiên quyết không chịu đi nếu thiếu những người còn lại trong gia đình. Thế là anh túm lấy đứa bé và lăn nhào xuống cầu thang đang bốc cháy cùng nó, với bộ râu và chiếc áo khoác đều bén lửa. Lối thoát duy nhất đã bị chặn đứng khi các xe cứu hỏa kéo đến. Cả nhà Romolo gào thét ở khung cửa sổ tầng cao nhất, đe dọa sẽ tự nhảy xuống. Không còn một giây nào để lãng phí. Nằm bẹp dí trên mái nhà với phần đầu nhô ra ngoài gờ mái, những người lính cứu hỏa đã dùng móc câu "câu" hai đứa trẻ ra khỏi cửa sổ. Những chiếc thang được dựng lên kịp thời để cứu người cha và người mẹ.

Sự tháo vát linh hoạt cũng như lòng gan dạ bất khuất và kỹ năng thể thao điêu luyện của những người cứu hộ luôn gợi lên sự ngưỡng mộ nhiệt thành. Hai trường hợp nổi bật lên trong ký ức của tôi giữa rất nhiều câu chuyện khác. Một trong số đó có nhân vật chính là Lính cứu hỏa Howe — người từng nhiều lần lập chiến công hiển hách. Sự việc xảy ra vào buổi sáng ngày 2 tháng 1 năm 1896, khi Câu lạc bộ Geneva trên Đại lộ Lexington bị thiêu rụi hoàn toàn. Sáng hôm đó, Lính cứu hỏa Howe lái chiếc Xe thang Số 7 đến hiện trường vụ cháy, để rồi phát hiện ra hai vị khách trọ đang đứng ở cửa sổ tầng ba, bị bao vây bởi những ngọn lửa đã bắt đầu xuất hiện phía sau họ. Theo sau là Lính cứu hỏa Pearl, anh chạy xộc vào tòa nhà liền kề, và chẳng mấy chốc xuất hiện ở một cửa sổ trên tầng ba — nơi bị ngăn cách với ô cửa sổ mà hai người đàn ông đang mắc kẹt bởi một khoảng tường trống rộng chừng bốn hoặc năm feet. Nơi đó chẳng có điểm tựa nào khác ngoài một chiếc móc gỉ sét, nhưng thế là quá đủ. Vắt vẻo trên bệ cửa sổ với một chân đạp lên chiếc móc, chân kia được đồng đội giữ chặt ở phía bên trong, thân người duỗi thẳng tắp dọc theo bức tường, Howe đã có thể với tới hai người đàn ông và lần lượt văng từng người một qua ô cửa sổ của chính mình để đến nơi an toàn. Ngay khi người thứ hai vừa chui qua, đội ngũ ở mặt đường phía dưới đã cất tiếng hò reo vang vọng cả những tiếng vang ngủ quên trên phố. Howe cúi xuống nhìn, gật đầu và bám chặt hơn; và chính khoảnh khắc đó, hiểm nguy lớn nhất đã ập đến.

Một khuôn mặt thứ ba đã xuất hiện ở khung cửa sổ đúng lúc ngọn lửa quét qua. Howe nhắm tịt mắt để bảo vệ chúng và gồng mình bám vào chiếc móc cho nỗ lực cuối cùng. Nó gãy đứt; và người đàn ông, bị hoảng loạn mất hồn mất vía, lao đầu cắm cổ từ cửa sổ rơi thẳng xuống cổ Howe.

Thân hình người lính cứu hỏa oằn xuống và chao đảo. Người đồng đội ở bên trong cảm nhận được sức nặng đang kéo căng bèn dắm chặt gót chân vào các tấm ván sàn. Anh suýt bị kéo văng ra khỏi cửa sổ, nhưng vẫn bám trụ lại bằng một nỗ lực tối thượng. Đúng lúc anh nghĩ rằng tận thế đã đến, anh cảm thấy sức nặng dường như vơi bớt. Chiếc thang đã kịp vươn tới chỗ Howe vào đúng thời khắc ngàn cân treo sợi tóc để làm điểm tựa cho anh, nhưng trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm cứu lấy bản thân và người kia, anh đã hất ngược vị khách của mình qua vai với một lực mạnh đến mức anh lao rầm rầm xuyên qua, phá nát cả khung cửa và mọi thứ, rồi ngã nhào trong thương tích bầm dập nhưng an toàn lên người Lính cứu hỏa Pearl — kẻ đang nằm rạp dưới sàn nhà trong trạng thái nằm phục và thở hổn hển.

Trường hợp còn lại vẫn khiến người New York rùng mình mỗi khi nhớ đến. Trong toàn bộ lực lượng, nó từng được ca tụng là hành động dũng cảm nhất từng được thực hiện bởi một người lính cứu hỏa — một hành động đã giúp Đội viên trưởng William Quirk giành được huy chương năm 1888. Anh là phó chỉ huy của Động cơ Số 22 khi vào một buổi sáng tháng Ba, khu chung cư Elberon Flats trên Phố 85 Đông bốc cháy. Gia đình Westlake gồm người mẹ, con gái và hai con trai đang ở trên tầng năm, bất lực và tuyệt vọng. Quirk chạy vù lên tầng bốn bằng thang trèo, móc nó vào bệ cửa sổ phía trên và đưa hai cậu con trai cùng cô con gái xuống đất. Nhưng những ngọn lửa đột ngột bùng lên từ tầng dưới, cắt đứt hoàn toàn đường rút lui của họ. Đội trưởng của Quirk đã nhìn thấy hiểm nguy và gào lên giục anh quay đầu lại khi vẫn còn kịp. Nhưng Quirk chẳng có ý định quay đầu. Anh liếc mắt ước lượng khoảng cách và rủi ro, nhìn thấy đám đông đang điên cuồng níu chặt lấy tấm lưới cứu sinh dưới cửa sổ, rồi ra lệnh cho họ lần lượt nhảy xuống. Họ đã nhảy và được cứu sống. Cuối cùng, chính anh cũng nhảy xuống sau một nỗ lực vô ích nhằm cứu người mẹ. Bà ấy đã qua đời từ trước đó. Anh tóm được vạt áo của bà, nhưng thi thể tuột khỏi tầm tay và rơi rầm xuống mặt đường từ độ cao năm mươi feet phía dưới. Bản thân anh cũng bị thương khi nhảy xuống. Những tình nguyện viên căng lưới ngước nhìn lên và hoảng sợ; họ buông tay, và người lính cứu hỏa gan dạ đã bị gãy chân cùng tổn thương lưng sau cú ngã đó.

"Tựa như tiếng hò hét hỏa hoạn trong đêm" luôn đánh động trí tưởng tượng nghèo nàn nhất bằng cảm giác sợ hãi bất thình lình. Đã có những đêm tại thành phố này khi tiếng thét ấy dâng trào thành một thứ âm thanh hỗn độn của sự kinh hoàng và tuyệt vọng đến mức khiến cả những trái tim gan lì nhất cũng phải run rẩy — khi đối với những người làm công việc dập lửa, dường như ngày tận thế của vạn vật đã cận kề. Một đêm như thế chính là đêm tòa nhà "Cohnfeld's Folly" trên Phố Bleecker bốc cháy vào ngày 17 tháng 3 năm 1891. Vụ cháy cửa hàng lớn đó đã cuốn theo sự hủy hoại, hoàn toàn hoặc một phần, của mười tòa nhà xung quanh, và điều động gần như một phần ba lực lượng Cứu hỏa của thành phố. Trong khi ngọn lửa vẫn hoành hành dữ dội chưa thể khống chế — trong khi những bức tường đổ sập với những tiếng động và âm thanh sấm sét kinh hoàng, đường phố đặc kín những chiếc xe cứu hỏa phóng như bay và xe cứu thương chở những lính cứu hỏa bị thương với tiếng kẻng cấp bách inh ỏi; trong khi các nhân viên tuần tra bảo hiểm đang bị ngạt thở trong những tòa nhà cách đó cả một dãy phố bởi làn khói treo lơ lửng như một tấm khăn tang bao trùm thành phố — một thảm họa hỏa hoạn khác lại bùng phát ở khu vực buôn bán vải sợi, và ba cuộc gọi báo động vang lên từ Phố 17 Tây. Chín đám cháy khác tiếp tục phát tín hiệu, và trước khi trời sáng, tất cả các đội còn lại đều được điều động đến Phố Allen, nơi bốn người đã bị thiêu chết trong một tòa nhà chung cư. Đó chính là những đêm cuồng loạn thử thách tâm can của những lính cứu hỏa, và chưa từng có lần nào người ta thấy họ chùn bước. Trong trận bão tuyết lớn, khi đường phố tê liệt không thể qua lại và hệ thống bị ngưng trệ, các vụ cháy trong thành phố trung bình lên tới chín vụ một ngày — tổng cộng bốn mươi lăm vụ trong năm ngày từ 12 đến 16 tháng Ba — và không có lấy một vụ nào vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Các ủy viên phòng cháy đã chính thức ghi nhận niềm tự hào của họ về thành tích đó, và họ hoàn toàn có quyền làm thế. Quả thực đó là một điều đáng để tự hào.

Một đêm như thế dường như đã được báo trước vào thời điểm ngân hàng Manhattan và ngân hàng State ở góc bên kia đại lộ Broadway, cùng ba hoặc bốn tòa nhà khác bị thiêu rụi, và khi tiếng kẻng định mệnh "hai số chín" vang lên, điều động chín phần mười tổng lực lượng ở phía nam Công viên Trung tâm đến khu vực đang bị đe dọa. Nhưng may thay, điều đó đã không xảy ra hoàn toàn. Ngân hàng được cho là chống cháy đã sụp đổ dưới luồng hơi nóng tàn phá chẳng khác nào những tờ giấy vụn; tiếng gào thét vang lên rằng toàn bộ các đội lính cứu hỏa đang thiệt mạng bên trong đó; và tiếng còi báo động đã vang tới Trụ sở Cảnh sát ở dãy phố bên cạnh — nơi người ta đang kiểm đếm các phiếu bầu cử. Mười ba lính cứu hỏa, bao gồm cả phó cục trưởng sở, một tiểu đoàn trưởng và hai đội trưởng, đã lê lết hoặc được khiêng ra từ ngân hàng đang cháy với những mức độ thương tích khác nhau. Những bậc thang bằng đá của chiếc cầu thang chống cháy đã đổ sập cùng với họ hoặc đè lên người họ. Những người đồng đội đang gặp hiểm nguy với đường rút lui bị cắt đứt đã tuột xuống theo vòi rồng và thang trèo. Những người cuối cùng, là ê-kíp thuộc Đội xe cứu hỏa Số 3, đã chạm tới mặt đường, và tất cả đều được cho là đã thoát ra an toàn, thì phó đội trưởng Daniel Fitzmaurice bỗng xuất hiện tại ô cửa sổ tầng năm. Ngọn lửa ập vào ô cửa khiến anh phải lùi lại, nhưng anh đã tìm thấy chỗ bám ở một ô cửa sổ khác, ngay sát tòa nhà liền kề về phía Bắc. Việc tiếp cận anh từ bên dưới trong khi toàn bộ tòa nhà đang chìm trong biển lửa là điều bất khả thi. Chẳng còn lối thoát nào khác, ngoại trừ một gờ lan can kéo dài đến tận một nửa khoảng cách tới ô cửa sổ của anh; thế nhưng nó lại quá hẹp để có thể đứng chân.

Rồi một cảnh tượng phi thường diễn ra trước mắt hàng ngàn con người. Ở tòa nhà bên cạnh có một số nhân viên tuần tra bảo hiểm đang che chắn hàng hóa nhằm bảo vệ chúng khỏi bị nước tàn phá. Một trong số họ — Nhân viên tuần tra John Rush — bước ra gờ tường và nhích dần về phía một mỏm đá nhô ra từ tòa nhà ngân hàng. Theo sau là Nhân viên tuần tra Barnett, giữ chặt anh ta và ép sát người anh vào tường. Phía sau anh ta lại là một người khác, với một người nữa bám chặt lấy bên trong căn phòng — nơi chuỗi người sống được neo giữ bởi tất cả những người còn lại. Rush, ở tận rìa của gờ tường, cúi người xuống và đưa tay cho Fitzmaurice. Người lính cứu hỏa túm lấy nó và nhích ra mỏm đá. Barnett, giữ chặt người cứu hộ, trao cho anh ta thứ mà anh cần — một vật để bám vào. Một khi anh đã đặt chân lên gờ tường, chuỗi người lại tự cuộn lại hệt như cách nó đã được thà ra. Chậm rãi, từng inch một, họ lùi lại, mỗi người dùng toàn bộ sức lực đẩy người tiếp theo ép phẳng vào tường, trong khi đám đông dưới phố nín thở, và ngay cả những chiếc máy bơm cũng ngừng phì phò, cho đến khi tất cả đều an toàn.

John Rush hiện nay là một lính cứu hỏa, thành viên của đội "Số 33" ở Phố Great Jones. Hồi đó anh là nhân viên tuần tra bảo hiểm. Tổ chức đó không mang tính chính thức. Mục đích chính của họ là cứu tài sản; nhưng trước tình thế khẩn cấp, lính cứu hỏa và nhân viên tuần tra hòa làm một thể thống nhất, tuân theo một thủ lĩnh duy nhất.

Việc tinh thần từng làm nên sự vĩ đại của Lực lượng Cứu hỏa New York cũng đồng thời truyền cảm hứng cho những người anh em thương mại của họ đã được chứng minh nhiều hơn một lần, nhưng chưa bao giờ rõ nét hơn trong trận hoả hoạn đáng nhớ tại Khách sạn Royal — sự cố cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Không một bản ghi chép nào về những cuộc cứu hộ anh dũng trong hỏa hoạn, dù có chắp vá đến đâu, lại có thể bỏ qua chiến công kinh ngạc, hoặc những chiến công, của Trung sĩ (nay là Đại đội trưởng) John R. Vaughan vào buổi sáng tháng Hai sáu năm trước. Tiếng còi báo động vang lên tại trạm tuần tra số 3 lúc 3 giờ 20 phút sáng Chủ Nhật. Trung sĩ Vaughan, vội vã chạy đến đám cháy cùng các đồng đội, phát hiện toàn bộ khách sạn năm tầng đang chìm trong biển lửa từ mái cho tới tầng hầm. Ngọn lửa đã phóng thẳng lên giếng thang máy — nơi cầu thang quấn quanh đó, và ngay từ phút đầu đã khiến việc tẩu thoát trở thành bất khả thi. Đàn ông và phụ nữ đang nhảy và treo lơ lửng ngoài các ô cửa sổ. Một người, rơi xuống từ độ cao lớn, suýt chút nữa đã giết chết viên trung sĩ khi anh ta đang cố bước vào tòa nhà. Lao vút vào ngôi nhà bên cạnh và rướn toàn bộ thân mình ra khỏi cửa sổ, trong khi một thành viên trong đội bám chặt lấy một chân của anh — hệt như Lính cứu hỏa Pearl đã làm với Howe trong cuộc giải cứu lẫy lừng tại Câu lạc bộ Geneva — anh thực hiện một nút thắt xiết với chân kia vào những sợi dây điện chạy dọc theo bức tường, tin tưởng vào đôi giày cao su sẽ bảo vệ mình khỏi dòng điện, và biến cơ thể mình thành một cây cầu sống để ba người đàn ông và một phụ nữ — những kẻ đang đối mặt với cái chết cận kề — có thể băng qua an toàn từ ô cửa sổ cuối cùng của khách sạn đang cháy, đồng thời dùng bàn tay rảnh rỗi để dìu họ bước đi. Ngay khi người cuối cùng bước qua, những chiếc thang đã được ném dựng lên bức tường, và những gì có thể làm ở đó đều đã được thực hiện.

Trung sĩ Vaughan trèo lên mái nhà. Khói ở đó dày đặc đến mức anh chẳng thấy rõ gì mấy, nhưng xuyên qua lớp khói, anh nghe thấy tiếng kêu cứu và nhận ra hình dáng một người đàn ông đang đứng trên bệ cửa sổ ở tầng năm, nhìn thẳng xuống khoảng sân trong của khách sạn. Khoảng sân nằm ở giữa họ. Ra lệnh cho các đồng đội đi theo — tổng cộng có năm người — anh chạy vòng xuống con phố bên cạnh để lên mái của ngôi nhà tạo thành một góc với phần cánh của khách sạn. Nơi đó, người đàn ông đang đứng ở phía dưới anh, chỉ cách một cú nhảy, nhưng đó là cú nhảy mà không một kẻ phàm trần nào có thể thực hiện và sống sót. Khuôn mặt và đôi bàn tay của anh ta đen nhẻm vì khói. Vaughan nhìn xuống và tưởng lầm anh ta là người da đen. Anh ta hoàn toàn bình tĩnh.

"Vô ích thôi," anh ta vừa nói vừa ngước lên. "Đừng thử nữa. Anh làm không được đâu."

Viên trung sĩ ngẩn người nhìn quanh với vẻ đầy tiếc nuối. Không có lấy một thanh gỗ hay một sợi dây nào lọt vào tầm mắt. Mọi thứ đã được sử dụng hết ở phía dưới. Tuyệt đối chẳng có gì cả. "Nhưng tôi không thể mặc kệ anh ta được," anh kể lại với tôi nhiều tháng sau đó, khi anh đã xuất viện, bình phục hoàn toàn và quay trở lại làm việc — "tôi thực sự không thể, khi anh ấy đứng đó một cách tĩnh lặng và dũng cảm như thế." Anh nghiêm giọng nói với người đàn ông:

"Bây giờ tôi muốn anh làm chính xác theo những gì tôi bảo. Đừng tóm lấy tôi, nhưng hãy để tôi tóm lấy trước." Anh đã nhận ra người đàn ông đang mặc một chiếc áo khoác dày và đã vạch sẵn kế hoạch trong đầu.

"Đừng thử," người đàn ông nài nỉ. "Anh không cứu được tôi đâu. Tôi sẽ ở đây cho đến khi quá nóng; rồi tôi sẽ nhảy."

"Không, anh không được làm thế," viên trung sĩ đáp lại khi anh nằm dài trên mái nhà, rướn người nhìn xuống. "Dưới kia là một cái sân khá cứng đấy. Tôi sẽ tóm được anh, hoặc tự đi chầu diêm vương luôn."

Bốn người ngồi đè lên đôi chân của viên trung sĩ khi anh đu lơ lửng phần thân trên xuống ngang eo; nhờ thế anh gần như có thể với tới người đàn ông ở cửa sổ với hai bàn tay vươn dài.

"Giờ thì nhảy đi — nhanh lên!" anh ra lệnh; và người đàn ông liền nhảy. Anh ta tóm lấy cổ tay của cả hai theo đúng chỉ dẫn, và viên trung sĩ túm được cổ áo khoác của nạn nhân.

"Kéo lên!" anh thét lớn với bốn người trên mái nhà; và họ vắt kiệt sức lực để kéo. Thân người của viên trung sĩ không hề nhúc nhích. Uốn cong người cho đến khi phần sống lưng kêu cót két, anh treo lơ lửng bên mép vực, chịu đựng trọng lượng hai trăm linh ba pound đang trĩu nặng và kéo giật xuống. Mồ hôi lạnh túa ra trên trán các thuộc cấp khi họ hết lần này đến lần khác cố gắng mà không nhích lên nổi dù chỉ một inch. Máu rỉ ra từ lỗ mũi và tai của Trung sĩ Vaughan. Cách đó sáu mươi feet phía dưới là khoảng sân lát đá; đối diện anh là ô cửa sổ, nơi anh nhìn thấy ngọn lửa ngược đang ập tới, cuồn cuộn với làn khói rực lửa và xoáy tít. Ngay khoảnh khắc đó, anh tưởng như mọi hy vọng đã tiêu tan.

Nhưng rồi trong chớp mắt, một ý lóe lên trong đầu anh. Để giảm bớt trọng lượng chết chóc khủng khiếp đang giật xé các cơ bắp của mình, anh bắt đầu văng người đàn ông qua lại tựa như một quả lắc đồng hồ, đầu chạm vào đầu. Anh có thể văng anh ta lên! Một tiếng thét bị bóp nghẹt cảnh báo các thuộc cấp. Họ trườn sát hơn về phía mép vực mà không buông lỏng tay nắm trên người anh, dán mắt trân trân theo dõi quả lắc người ngày càng vung rộng hơn, xa hơn, cho đến khi, với một nỗ lực tối thượng, nó văng tới tầm với của họ. Họ túm lấy vạt áo khoác, bám chặt, kéo giật vào trong, và chỉ trong khoảnh khắc đã nhắc bổng anh ta qua khỏi gờ mái.

Cả sáu người nằm rạp xuống mái nhà, thở không ra hơi, mắt mờ đi, khuôn mặt ngước lên bầu trời mùa đông. Tiếng ồn ào ngoài phố vọng lên như một âm vang nhạt nhòa; dòng nước phun từ hàng chục cỗ máy bơm ở phía dưới rỏ xuống người họ, đông cứng lại và phủ lên họ một lớp băng giá. Ngay cả tiếng gầm rú của đám cháy dường như cũng ở rất xa. Viên trung sĩ là người hồi phục đầu tiên. Anh bồng người đàn ông mình vừa cứu xuống dưới và chứng kiến anh ta được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Lúc đó anh mới nhận ra rằng anh ta không phải người da đen; lớp mồ hôi nhọ nồi đã bị cọ sạch khỏi khuôn mặt. Ngày thứ Hai đã ló rạng trước khi anh tỉnh lại, và nhiều ngày trôi qua trước khi người được cứu nhận ra ân nhân của mình. Lúc đó Trung sĩ Vaughan đã phải nằm viện điều trị. Anh đã quay lại làm việc và hoàn thành nốt nhiệm vụ; nhưng những gì anh phải trải qua vượt quá sức chịu đựng của con người. Mãi đến mùa xuân anh mới quay lại doanh trại, để rồi nhận ra mình đã được thăng chức, cưng chiều và tung hô hết mực.

Từ sự cao cả đến sự nực cười chỉ cách nhau một bước chân nhỏ bé. Giữa vô số những người đổ về trạm tuần tra bảo hiểm để chiêm ngưỡng anh hùng của vụ hỏa hoạn lớn, có một ngày xuất hiện một người phụ nữ. Cô ấy trẻ trung và xinh đẹp, là người yêu của người đàn ông đứng ở bệ cửa sổ dạo nọ. Anh ấy là một luật sư, sau này trở thành nghị sĩ tiểu bang Pennsylvania. Cô muốn trung sĩ lặp lại chính xác những lời anh đã nói với anh ta trong khoảnh khắc kinh hoàng đó khi anh giục anh ta nhảy — hướng về sự sống hay cái chết. Cô đã nghe thấy những lời đó, và cô muốn trung sĩ lặp lại chúng cho cô nghe, để cô có thể chắc chắn rằng anh chính là người đàn ông đã thực hiện điều đó. Anh ấp úng và ngập ngừng — tìm cách thoái thác. Cô kiên nhẫn chờ đợi, không chút khoan nhượng. Cuối cùng, trong cơn tuyệt vọng, mặt đỏ bừng như lửa đốt, anh thốt lên "một tràng những từ ngữ tục tĩu". "Cô biết đấy," anh ngượng ngùng giải thích khi kể lại câu chuyện, "khi tôi ở trong một hoàn cảnh như thế, tôi không thể kìm chế được."

Khi cô nghe thấy những từ ngữ mà vị hôn phu của mình đã kể cho cô từ trước, cô liền ngả đầu vào ngực người lính cứu hỏa mà khóc nức nở. Viên trung sĩ đứng chôn chân chết lặng. "Phụ nữ thật khó hiểu," anh nói.

Cuộc đời của một người lính cứu hỏa là thế đấy. Chẳng có gì lạ khi ngay cả những chú ngựa vốn là bạn của họ trong doanh trại, là đồng đội tại hiện trường hỏa hoạn, chia sẻ với họ mọi cay đắng ngọt bùi, cũng thấm nhuần tinh thần ấy. Thật kỳ lạ nếu chúng lại không như vậy. Với trí thông minh của loài vật và lòng ái mộ vượt trên cả loài vật, những sinh vật tuyệt vời ấy dõi theo vận mệnh của những người chủ, làm tròn phần việc của mình trong bất cứ yêu cầu nào đặt ra. Trong con số tổng kết cuối cùng rằng trong vòng ba mươi năm, khi dân số ngày càng tăng và số lượng các vụ hỏa hoạn không ngừng gia tăng, nhưng mức độ tổn thất trung bình trên mỗi vụ cháy lại giảm đều đặn một cách ổn định, chúng cũng đóng góp một phần công sức không nhỏ vào thành quả ấy. Năm 1866, có 796 vụ cháy tại New York, với mức tổn thất trung bình là 8075,38 đô la cho mỗi vụ. Năm 1876, với 1382 vụ cháy, tổn thất chỉ còn 2786,70 đô la mỗi vụ. Năm 1896, 3890 vụ cháy chỉ có mức trung bình là 878,81 đô la. Điều đó có nghĩa là mỗi năm có nhiều đám cháy được ngăn chặn kịp thời hơn là để chúng lan rộng — bị dập tắt ngay từ trứng nước, đúng như cách mà một đám cháy nên được xử lý. Khi phán quyết "trung thành cho đến chết" được gắn liền với kỷ lục đó, chẳng còn gì để phải bàn thêm nữa. Những người lính cứu hỏa hiểu rõ bao nhiêu trong số đó là công lao của những người đồng đội bốn chân của họ. Có một vết nhơ duy nhất trên bức tranh tươi đẹp ấy là việc thành phố — vốn mang ơn những chú ngựa này quá nhiều — lại chưa từng thấy cần thiết phải bày tỏ lòng biết ơn bằng cách mang lại sự an ủi cho quãng đời xế chiều già nua mệt mỏi của chúng. Khi một người lính cứu hỏa già đi, ông được cho về hưu với một nửa mức lương trong suốt phần đời còn lại. Còn khi một chú ngựa đã cùng những cỗ xe nặng nhọc lao vào các đám cháy suốt cả ngày lẫn đêm trong khoảng mười hoặc mười lăm năm bị kiệt sức, nó sẽ bị... bán đi, có thể cho một kẻ buôn thúng bán bưng, hoặc một nhà thầu, để làm trâu làm ngựa cho hắn cho đến khi chỉ còn dùng được để làm xương cốt! Thành phố thu về vỏn vẹn vài ngàn đô la một năm từ sự phản bội trơ trẽn này, và đút túi đồng tiền máu đó mà chẳng hề mảy may phản đối. Tại New York lúc này, vẫn còn chỗ cho một phong trào nhằm đảm bảo cho người bạn trung thành của người lính cứu hỏa phần thưởng biết ơn là một trang trại yên bình, một máng cỏ đầy ắp và một đồng cỏ xanh tươi cho đến cuối cuộc đời của chúng, khi chúng không còn đủ trẻ trung và mạnh mẽ để "chạy theo những cỗ máy" nữa.

❀ ❀ ❀

Chú thích 2: Được viết vào năm 1898.

Chú thích 3: Rooney từng đeo huy chương Bennett vì cứu sống một người phụ nữ trong vụ hỏa hoạn thảm khốc tại tòa nhà cũ của tờ "World" vào ngày 31 tháng 1 năm 1882. Chiếc thang mà anh đứng khi đó quá ngắn. Rướn người trên bậc thang cao nhất, anh giục người phụ nữ nhảy xuống, rồi đón lấy và ôm chặt cô khi cô rơi xuống.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.