Những Đứa Trẻ Khu Nhà Ổ Chuột

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Giữa Mùa Đông Ở New York

❊ ❊ ❊

Ấn tượng đầu tiên của tôi về thủ phủ nước Mỹ bắt nguồn từ một bức tranh trong cuốn sách ảnh thời thơ ấu, mang tựa đề "Mùa đông ở New York." Tranh vẽ một hoặc nửa tá đoàn xe trượt tuyết, trùm kín tai bằng đồ lông, đang đua nhau với quyết tâm dữ dội hướng về một nơi chốn nào đó nằm khuất sau trang sách, bao bọc trong một vẻ huyền bí kích thích trí tưởng tượng trẻ thơ. Bởi với tôi, rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà tất cả họ đều đi chung một hướng. Hẳn có một phần thưởng nào đó ở tít đằng xa giữa cánh đồng tuyết đang vẫy gọi họ tiến bước. Sách không hề đả động đến phần thưởng ấy là gì. Nó chỉ củng cố thêm ấn tượng — được tô đậm thêm bởi sự xuất hiện của một tên da đỏ nửa thân trần đang run lẩy bẩy đến đáng thương ở tiền cảnh — rằng New York nằm đâu đó trên vòng cực Bắc và là thiên đường hoàn hảo cho một cậu bé khỏe mạnh, loài người vốn thích tuyết tự nhiên như vịt thích nước. Tôi không biết cảm giác của mình hồi đó sẽ ra sao nếu phát hiện ra rằng rất có thể họ đang hướng đến quán của Gabe Case cùng chai rượu sâm-panh luôn chờ sẵn cho cỗ xe trượt tuyết đầu tiên trên đường. Rất có thể đó sẽ là một nỗi thất vọng tràn trề; bởi trí tưởng tượng của tôi, lúc nào cũng bận rộn với Uncas, Chingachgook và Natty Bumppo, chắc chắn đã chuẩn bị sẵn một cuộc săn bò rừng, một trận phục kích, hoặc ít ra là một đám cháy lớn ở tận cuối con đường. Nhưng cuộc đời vốn là vậy. Những niềm hy vọng ấp ủ nhất rồi cũng phải lần lượt nhường bước trước những thực tế tẻ nhạt của đời sống thường nhật. Tôi nhớ rõ xiết bao cảm giác nhói đau khi lần đầu tiên bước dọc phố Broadway, bên hông đeo một khẩu súng lục hải quân to tướng, để rồi nhận ra đó chỉ là một con đường lát đá, được lát hẳn hoi, bóng dáng bò rừng thì không thấy đâu, và cũng chẳng có lấy một bóng người da đỏ hay cái tổ hải ly nào.

Thế nhưng, cuộc đời cũng có những sự bù đắp của nó. Ở tuổi năm mươi, tôi sẵn sàng từ bỏ vòng cực Bắc cũng hào hứng như khi tôi mười tuổi từng đặt kỳ vọng vào nó, dẫu cho giá than đang lâm vào hoàn cảnh kinh niên giống hệt chiếc quần rắc rối của đứa con trai nhỏ khi cậu bé than thở: "Ôi trời ơi! Quần của con cứ kéo lên chứ không chịu kéo xuống." Và quán của Gabe Case là một sự thay thế vô cùng dễ chịu cho những vụ phục kích, bởi tôi đã bỏ lại khẩu súng lục cùng phần còn lại của vũ khí. Tôi lắng nghe những câu chuyện của người cao tuổi nhất về những mùa đông khi "tuyết dày đến tận cửa sổ tầng hai ở phố Bowery," với niềm hy vọng thiết tha rằng chúng sẽ không bao giờ quay trở lại, và thầm hả hê trước lời than vãn của cụ rằng các mùa đã đổi thay và không còn như trước nữa. Người nào say sưa tuyên bố rằng New York đang sở hữu khí hậu khu nghỉ dưỡng mùa đông tuyệt vời nhất thế giới chính là bạn tôi, và tôi chẳng màng nếu mình không bao giờ phải nhìn thấy một quả bóng tuyết nào nữa. Ồ, phải chứ! Dù Kẻ Giết Hươu (Deerslayer) và tôi vẫn gắn bó như xưa, tôi e rằng các bằng chứng đều cho thấy tôi đang già đi.

Giữa lúc đang hân hoan thì thần Boreas xuất hiện, chẳng hạn như mùa đông năm ngoái, và thổi bay lâu đài cát của tôi. Ngay khi chúng ta tưởng rằng mình đã có thể yên tâm gọi trận bão tuyết lớn vừa qua là một hiện tượng quái đản, chưa từng có, và đang đinh ninh chìm đắm trong ký ức về việc chúng ta từng hái hoa vio-lét trong những khu rừng ở Queens hay đập muỗi trong nhà vào tuần lễ Giáng sinh, thì mùa đông khắc nghiệt lại kéo đến, đóng băng các dòng sông và vùi lấp chúng ta ngập tới cổ trước khi bữa tối Lễ Tạ ơn kịp nguội. Khi ấy, những mùa giải mà chai rượu được thèm thuồng của Gabe vẫn nằm vô chủ trên kệ với những dải ruy-bangk rực rỡ cho tận mãi năm mới, và khi ấy được giành lấy theo đúng nghĩa đen "trong đường tơ kẽ tóc" trên một con đường gần như chẳng có lấy một chút trắng xóa của tuyết, bỗng trở thành một câu chuyện dài đã cũ, và chúng ta nhận ra rằng vĩ độ tự nó không làm nên nhiệt độ. Suy cho cùng, chỉ trong những mùa đông hy hữu, chúng ta mới được sánh ngang với Naples trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Greenland và dòng hải lưu cực tuyến chẳng bao giờ mất nhiều thời gian để khẳng định quyền đòi hỏi của chúng và của ông già Noel đối với con đường tiến thẳng không gì cản nổi đến lò sưởi của chúng ta.

Và giờ đây, ngẫm lại mà xem, ai lại nỡ cất lời từ chối họ chỉ vì một tấn than, hay hai mươi tấn? Dù có già đi, người ta vẫn thấy mình trẻ lại qua những đứa con. Ngay khoảnh khắc này đây, có một đứa trẻ bé xíu đang trượt tuyết dưới cửa sổ nhà tôi với những tiếng thét đầy thích thú trong đợt tuyết đầu mùa, dẫu cho cuộc bầu cử tháng Mười Một mới chỉ trôi qua được vỏn vẹn một tuần, và đang ném bóng tuyết vào cô hầu phòng đúng theo phong cách của những ngày xưa tốt đẹp, trong khi anh nhân viên cửa hàng tạp hóa đang dậm chân phành phạch ở cổng sau và cười vang thích thú trước hoàn cảnh của cô với một âm điệu mà chỉ có Giá Rét (Jack Frost) mới giữ nổi. Hôm nay, hàng trăm ngàn đôi mắt của lũ trẻ đang liếc trộm qua cửa sổ lớp học, sợ rằng cơn bão sẽ dứt trước khi chúng được tan trường, và tôi dám cá rằng chẳng mấy ai thèm chú ý đến bài học buổi sáng nữa. Ai lại đổi chiếc xe trượt tuyết thân dài, đường trượt băng và niềm vui cuồng phong của những chuyến trượt dốc lấy mùa hè vĩnh cửu cùng hoa mộc lan vào tháng Giêng? Riêng tôi thì không — chưa đâu. Suy cho cùng, bản chất con người vốn dẻo dai hơn vẻ bề ngoài khi ngồi bên đống lửa phòng nghiên cứu. Tôi chưa từng tuyên bố trước hội đồng các phó tế lý do tại sao mình lại kiên quyết bảo vệ vị mục sư mà chúng ta đã mời về giáo xứ nhỏ của mình vào mùa đông năm ấy — với các phó tế, sự thận trọng đôi khi lại là phần khôn ngoan nhất của lòng dũng cảm — nhưng tôi không hề hổ thẹn vì điều đó. Đó là đêm chúng ta đang đi bộ về nhà, và người hàng xóm Connery cho chúng ta đi nhờ chiếc xe trượt mới của anh trên con đường dốc tuyệt đẹp ấy — toàn bộ hội đồng, cả nam lẫn nữ — chính khoảnh khắc đó tôi đã đánh giá con người thật của ông — cái chân cứng cỏi xoải về phía sau giữ cho hướng đi của chúng ta thẳng như kẻ chỉ, vượt qua mọi khúc gỗ và rạn đá với kỹ năng của một hoa tiêu trên sông, không hề nao núng lấy một lần. Chính cái chân ấy đã làm nên chuyện; nhưng ngẫm lại, nó chính là tấm gương phản chiếu toàn bộ con người ông.

Sự khó chịu và khổ sở thường là những ý nghĩ gắn liền với mùa đông khắc nghiệt ở một thành phố lớn như New York, và ở đó có rất nhiều điều như thế — sự khó chịu chung cho tất cả chúng ta và nỗi thống khổ của người nghèo. Chỉ riêng việc thống kê rằng mùa ngoái Ban Vệ sinh Đường phố đã chở đi và đổ xuống sông 1.679.087 thước khối tuyết với giá ba mươi xu một thước, để rồi sau đó hứng chịu vô số lời chỉ trích gay gắt vì để chúng ta ngập trong bùn lầy tuyết tan, cũng đủ để đo lường mức độ của vấn đề và khiến những người đóng thuế phải suy ngẫm. Nỗi thống khổ trong các khu nhà tập thể của người nghèo là có thật, nhưng ngay cả đám mây đen ấy cũng có lớp lót bạc của nó. Nó khơi gợi lên ở những kẻ dư dả lòng trắc ẩn sâu sắc chẳng kém gì tình nghĩa vẫn luôn tồn tại ở những người có ít hoặc chẳng có gì, những người coi nhau là anh em mà chẳng cần đến sự nhắc nhở của một đợt rét đậm hay trận bão lớn nào mới nhận ra điều đó. Trong đợt rét đậm lớn vừa qua, lượng tiền đổ vào quỹ của các hội từ thiện lớn đến mức họ không thể tiêu thụ hết cho công tác cứu trợ khẩn cấp; và việc quảng cáo bừa bãi trên các tờ báo giật gân về nạn đói được cho là đang hoành hành đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ đại diện của các trung tâm xã hội và Hội Tổ chức Từ thiện, những người vẫn tiếp xúc trực tiếp với người nghèo. Câu hỏi muôn thuở rằng liệu một trận tuyết lớn có bù đắp nổi cho người nghèo những khổ sở mà nó gây ra hay không đã được thảo luận rộng rãi vào thời điểm đó, nhưng cuối cùng vẫn bỏ ngỏ như mọi khi. Sự thật giản dị là nó mang lại miếng cơm manh áo cho những kẻ luôn đứng bên bờ vực. Nó đẩy họ vào guồng quay công việc, và những tình nguyện viên từ thiện thấy được kết quả qua tiền công kiếm được, dẫu chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Tổn thất lớn hơn nhiều do tuyết gây ra, thứ mà các tình nguyện viên không nhìn thấy được, lại giáng lên những người có việc làm ổn định — và do đó không nằm trong tầm quan tâm của họ — khi mọi loại hình lao động ngoài trời khác ngoài việc xúc tuyết đều phải đình trỉ.

Nhìn chung, tôi không tin rằng ngay cả một đợt rét đậm bất thường ở New York lại đem đến cho người nghèo nỗi thống khổ tuyệt vọng như ở các thành phố Cựu thế giới, chẳng hạn như London. Có cái gì đó trong bầu trời quang đãng và không khí trong lành của thành phố chúng ta giúp giữ cho tinh thần luôn phơi phới để chống lại bất cứ thứ gì ngoại trừ cơn đói thực sự. Sau những ngày đêm mầy mò trong những con hẻm tối tăm ở London, trong tôi vẫn đọng lại ấn tượng về những căn phòng đen đúa ngập muội than, những người phụ nữ mắt đỏ hoe vì nản lòng cứ thổi mãi vào những đống lửa sắp tắt, một khung cảnh não nề hơn bất cứ thứ gì tôi từng gặp ở những khu nhà tồi tàn ảm đạm nhất nơi đây. Còn bên ngoài, đường phố vùi mình trong sương mù và bùn lầy chẳng thể mang lại chút khuây khỏa nào cho tâm hồn.

Tôi đã chứng kiến đủ thứ khốn cùng trong các khu nhà tập thể của New York; nhưng dẫu bóng tối có sâu thẳm đến đâu trong bức tranh mùa đông nơi đây, nó cũng không hề tối tăm nhường ấy. Những cậu bé bán báo và những người đeo biển quảng cáo đang sưởi ấm bên những ô thông gió dưới hầm trên phố Twenty-third và nhiều nơi khác, phần lớn đều sẵn sàng tung ra những câu đùa cợt với người qua đường, hoặc nhún nhảy một điệu nhảy ngắn để khuây khỏa nỗi lòng và lưu thông máu huyết. Ngay cả gã lang thang bám mình vào những thanh cửa sổ của nhà máy điện trên phố Houston và đại lộ Broadway cũng thoải mái đối đáp vô hại với kỹ sư dưới tầng sâu, rồi khúc khích cười vì thấy mình lấn lướt hắn. Dưới đó lúc nào cũng là tháng Bảy, mặc cho vua bão có gào thét hung hăng thế nào trên mặt đất. Những ô cửa sổ ở góc phố Mercer của tòa nhà lúc nào cũng mở — hoặc chẳng có cửa sổ nào cả. Khoảng trống giữa các thanh sắt vừa khít một cánh tay người, và kết quả là vào những đêm lạnh giá, lúc nào cũng có chừng ấy bàn tay chĩa xuống chỗ người kỹ sư và những chiếc lò hơi, ứng với bấy nhiêu khoảng trống trên hàng rào sắt. Những kẻ lang thang cứ treo mình ngủ như thế suốt đêm, lần lượt sưởi ấm mặt trước rồi mặt sau.

Sự hài hước trước những hoàn cảnh trớ trêu vốn là một trong những đặc tính của người dân chúng ta chưa bao giờ bộc lộ rõ nét bằng những khi mùa đông đóng băng sông ngòi và bến cảng, gây ra không biết bao nhiêu rắc rối và phiền toái cho đội ngũ lao động đông đảo hàng ngày tràn vào New York vào buổi sáng và lại rút đi khi hoàng hôn buông xuống. Chuyến đi năm phút băng qua sông đôi khi kéo dài đến cả tiếng đồng hồ, và một khi con thuyền đã ra giữa dòng thì chẳng ai biết chắc mình sẽ cập bến ở đâu. Có lần, tôi đã trải qua gần sáu giờ đồng hồ trên một chiếc phà vượt sông Đông (East River), cố gắng sang phố Fulton ở Brooklyn, trong khoảng thời gian đó chúng tôi đã đi vòng quanh đảo Governor và có một chuyến ngoạn ngoãn bất đắc dĩ xuống vịnh. Đó là thời điểm diễn ra phiên tòa xử vụ Beecher, và trên phà có rất nhiều luật sư của cả hai phe, khiến tòa án hôm đó phải hoãn lại trong lúc chúng tôi xét xử vụ án ngay giữa những tảng băng trôi. Dẫu thời gian lãng phí là rất lớn, tôi lại chẳng hề thấy một dấu hiệu bực bội nào ở các hành khách xuyên suốt chuyến đi ấy. Ai nấy đều cố gắng tận dụng tối đa một tình thế ngặt nghèo.

Đã bao lần kể từ đó, tôi đứng chen chúc giữa đám đông đói lả và mệt mỏi ở phà phố Thirty-fourth suốt hàng giờ liền, ngắm nhìn những nỗ lực vô vọng của người hoa tiêu tìm cách cập bến, trong khi từng đoàn tàu cứ thế rời ga mà chẳng có lấy một bóng hành khách, để rồi lắng nghe những tiếng cười lẫn tiếng rên rỉ báo hiệu mỗi lần thất bại. Để rồi cuối cùng, khi con thuyền chạm vào đầu bến và từng người một trèo lên những chiếc cọc bập bênh, dò dẫm tìm đường vào bờ trong hiểm nguy, những tiếng hò reo vang lên dõi theo từng bước chân họ, khi mọi người cùng nhau đưa ra lời khuyên nhủ, khích lệ, và đón nhận nó bằng một thái độ đầy hào sảng!

Trong hai trận bão tuyết lớn của một mùa đông gần đây, khi giao thông bị gián đoạn trong một thời gian, và trong trận đại bão tuyết năm 1888, khi mọi hoạt động hoàn toàn ngưng trệ, ngay cả trên tuyến đường sắt trên cao, và tin tức từ Boston chỉ đến được với chúng ta qua tuyến cáp ngầm vòng qua London, người ta chỉ bắt gặp những đám đông vừa đi vừa cười đùa, ném bóng tuyết lội bì bõm qua những đống tuyết dày. Cứ như thể một sự giải thoát thực sự đã đến khi áp lực của cuộc sống hiện đại được gỡ bỏ và nhịp sống chậm chạp của thế hệ cha ông tạm thời quay trở lại. Ở vùng Queens, nơi chúng tôi bị kẹt lại vì tuyết suốt mấy ngày, chúng tôi rủ nhau đi đào tuyết giải cứu cho nhau và cư xử chẳng khác nào một lũ trẻ, một khi đã chắc chắn rằng văn phòng sẽ phải tự lo lấy trong một thời gian.

Tuy nhiên, người ta không cần phải đến những khu ngoại vi nếu muốn nắm bắt tinh thần con người thực thụ đang tràn ngập thành phố trong một trận bão tuyết, hay đến những đại lộ nơi người giàu sinh sống — dẫu tuyết đối với họ quả thực là một thứ xa xỉ thực sự; hay thậm chí ra tận các con sông, dẫu chúng có sức hút đến nhường nào trong vẻ đẹp hoang dã và hùng vĩ của những chuỗi trang trí Bắc Cực từ đỉnh cột buồm và dây rigging; với những chiếc tàu hơi nước cập cảng, khoác lớp áo giáp trắng ngời, dò dẫm lách qua cácảng băng trôi thận trọng như thể chúng đang hải hành ở vịnh Baffin chứ không phải sông Hudson; cùng những đàn mòng biển bay lượn nhanh như cắt, con thì trắng muốt không tì vết, con thì gỉ sét và đầy bụi bặm chẳng khác nào những kẻ dọn rác mà chúng tạm thời thay thế một cách bất lực, tất cả đều hau háu chực chờ giật lấy từ dòng nước thứ thức ăn mà chúng không còn tìm thấy được ở bên ngoài mũi đất Hook. Tôi rất muốn bạn nán lại cùng tôi trên sông cho đến khi cơn bão tan, để ngắm nhìn những ánh hoàng hôn tuyệt diệu nhuộm thắm bầu trời phía tây bằng sắc xanh và vàng mà không họa sĩ nào sánh kịp; và khi màn đêm buông xuống, để chiêm ngưỡng những ánh đèn lóe lên từ các tòa cao ốc qua từng tầng từng tầng một, cho đến khi tưởng chừng như xứ sở thần tiên trong những giấc mơ tuổi thơ đang hiện ra trước mắt trên mặt nước u hoài, trong tầm tay với của con người phàm trần.

Dù những cảnh tượng ấy đẹp đẽ biết bao, tôi vẫn chẳng dẫn bạn đến nơi nào trong số đó để cho bạn thấy tinh thần mùa đông ở New York. Không phải đến "con đường," nơi cuộc chiến truyền thống giành chai rượu sâm-panh cỡ lớn vẫn đang diễn ra; hay đến con đường xa hơn về phía đông nơi những người trẻ tuổi — và cả người già nữa — tổ chức những chuyến xe rơm đi City Island, để thưởng thức món súp nghêu (clam chowder) mà người ta đồn rằng chẳng nơi nào trong hay ngoài Manhattan có được. Thay vào đó, tôi sẽ dẫn bạn dấn sâu vào những khu nhà tập thể, nơi có lẽ bạn từng nghĩ chỉ có sự khốn khổ và u tối, và bảo bạn hãy quan sát những gì đang diễn ra ở đó.

Suốt đêm tuyết rơi đều đặn và lặng lẽ, len lỏi vào từng ngóc ngách và sục sạo mọi góc tối, cho đến khi ngày mới rạng trên một thành phố được khoác tấm áo choàng trắng tinh khôi, mọi bụi bẩn, sự nhếch nhác và xấu xí đều biến mất, và mọi âm thanh chói tai của những con phố nghèo nàn đều chìm vào yên lặng. Người chủ tiệm mở cửa và rùng mình khi nghĩ đến công việc xúc tuyết đang chờ, lại thêm viên cảnh sát với "tờ thông báo" giục giã; hắn càng rùng mình hơn khi nghe tiếng thằng nhóc trên cầu thang cất lên tiếng thét đắc thắng mang theo điềm báo rắc rối, và siết chặt lấy cái chổi hơn. Nhưng sự lo lắng của hắn là thừa thãi. Thằng bé còn bận giải quyết những ân oán khác. Băng đảng của nó đã nung nấu từ lâu mối hận thù với lũ trẻ ở dãy nhà kế tiếp hoặc xa hơn nữa, chỉ chờ trận bão đầu tiên để rửa hận bằng tuyết, và ngày mới mở màn bằng một cuộc giao tranh chớp nhoáng giữa hai phe đối địch. Trong trường học, các kế hoạch tác chiến đã được hoàn thiện, và khi tan trường, chúng chạm trán nhau tại Vườn Trắng, nơi trong danh bạ được gọi là Quảng trường Tompkins, bãi đấu trường truyền thống của vùng Lower East Side; và một trận chiến mà Homer hẳn sẽ rất thích thú ca ngợi đã diễn ra ở đó.

Biết bao cậu thiếu niên đã ngã xuống trên những chiến lũy được đắp vội vàng, chỉ để vùng dậy và chiến đấu tiếp cho đến khi một quả bóng tuyết "thấm đẫm nước," được vắt kiệt trong rãnh nước rồi đem phơi cho cứng lại trong cái giá lạnh, đập trúng mắt và đẩy lùi hắn về tuyến sau, một tên bại tướng lảo đảo, gào thét, nhưng lại kiêu hãnh vì vết thương của mình hơn bất kỳ cựu chiến binh nào với những vết sẹo trận mạc, đúng lúc băng đảng của anh ta chiếm lấy bàn nhạc cụ bằng một đợt tấn công chớp nhoáng và đánh đuổi đám trẻ phố Seventh ra khỏi khu vườn trong sự chạy trốn nhục nhã. Đêm đó, băng đảng ăn mừng chiến thắng bằng một đống lửa lớn rực rỡ, trong khi phe bại trận, ngắm nhìn lễ hội từ đằng xa, đang âm thầm liếm láp những vết bầm tím cùng cơn thịnh nộ, và triệu tập thêm lực lượng cho ngày mai. Và vào đêm hôm sau, kìa! Đống lửa trại lại bùng cháy ở phố Seventh chứ không phải phố Eleventh. Vận may trong chiến tranh vốn nổi tiếng là bấp bênh. Bàn nhạc kể từ dạo ấy đã bị chiếm đoạt không biết bao nhiêu lần kể từ khi cảnh sát dùng vũ lực đánh dạt đám đông bạo loạn vào những năm bảy mươi, nhưng chẳng có đám đông nào sau đó vượt qua được nhóm người từng đòi "bánh mì hay máu." Có lẽ những trận chiến bóng tuyết ấy chính là một dạng van an toàn cho dòng máu trẻ trung để ngăn chúng không sa vào những trò nghịch ngợm tồi tệ hơn về sau. Trên đời này còn có những thứ tồi tệ hơn việc để lũ trẻ thỏa sức tung hoành ở nơi chẳng có tai họa nào lớn hơn một vết thâm tím quanh mắt hay một ngón tay trẹo khớp.

Ở góc khuất không diễn ra trận chiến và trong hàng trăm khoảng sân sau, những nhóm trẻ em nhỏ hơn đang bận rộn lăn những quả bóng tuyết khổng lồ thành một người tuyết vĩ đại với cây chổi làm súng và những mẩu than ăn cắp được làm mắt và mũi, đồng thời thực hiện các cuộc tấn công giả vào người tuyết ấy và vào lẫn nhau, hệt như những đứa trẻ cưng diện đồ xoăn tít và quần tất đang làm trên các con phố ở khu thượng lưu, nhưng với sự hào hứng trong trò chơi lớn hơn nhiều. Những tiếng thét thích thú của chúng vút lên những ô cửa sổ cao của các khu nhà tập thể, nơi các bà mẹ đang trao đổi quan điểm với hàng xóm về thời gian kéo dài của "đợt rét" này, cũng như cơ hội tìm được việc hoặc mất việc của John hay Pat vì thế. Người tuyết cứ đứng đó mãi cho đến tận lâu sau khi mọi nghi ngờ về những vấn đề nan giải này đã được định đoạt, chậm chạp rơi vào cảnh tàn tạ bất lực mặc cho những lần vá víu chắp vá thỉnh thoảng diễn ra. Nhưng từ lâu trước thời điểm ấy, lớp băng giá tiếp sau tuyết đã mở đường cho trò trượt xe trên những con phố dốc, và tạo ra vô số "đường trượt" ở những con phố bằng phẳng, mang lại niềm vui tột độ cho lũ trẻ và sự khốn đốn cho những bậc trưởng bối không mảy may nghi ngờ. Dẫu đã bước sang tuổi năm mươi với đầy vẻ trang trọng, tôi thú nhận rằng cho đến tận ngày nay mình vẫn không thể cưỡng lại được một "đường trượt" giữa phố nghèo, với chuỗi dài không dứt những đứa trẻ lao vun vút xuống đó kèm theo những tiếng hò reo vang dội. Tôi đành phải nhập cuộc, nào kính, nào ô, bất chấp rủi ro có thể ngã kềnh ra thành một đống cùng lũ trẻ.

Có một đường trượt như thế trên Đại lộ First (First Avenue), trên con đường tôi thường đi khi về nhà. Nó bắt đầu từ một trụ nước cứu hỏa — mà tôi nghi ngờ là có dính dáng ít nhiều theo cách này hay cách khác đến sự ra đời của nó — và kéo dài suốt nửa dãy nhà. Nếu một số đồng nghiệp đáng kính của tôi trong các ủy ban thuần phong mỹ tục không thể chê trách nào đó mà nhìn thấy tôi "lao xuống" không chỉ một, mà là hai hay ba lần, với một tên nhóc rách rưới bám chặt vào mỗi vạt áo khoác của tôi, tôi e rằng — tôi e rằng nói một cách nhẹ nhàng là mình có thể mất đi vị thế xã hội. Nhưng lũ trẻ thích thế, và tôi cũng vậy, thích gần bằng đám nhóc ở dãy nhà kế tiếp thích trò "trượt một chiếc giày" dưới rãnh nước, với những miếng gỗ nhỏ được luồn qua dây giày để giữ cho giày bám chặt vào chân.

Trong tầm nhìn của đường trượt ấy, sau một trận bão lớn, tôi đi qua giữa những bức tường tuyết cao ngất ngưởng trước một ngôi trường công lập mà trong nhiều năm là trường duy nhất trong thành phố có sân chơi ngoài trời. Nó đã được giành lại từ cõi chết cho lợi ích của người sống, thông qua việc trưng thu một nghĩa trang cũ sau nhiều năm nỗ lực. Kể từ đó, ngôi trường luôn là một trong những nơi tươi sáng và thành công nhất trong thị trấn. Những đống tuyết phô bày sự khéo tay của lũ trẻ, tất cả đều đến từ các khu nhà tập thể xung quanh. Chúng được tạo hình thành những bức tường đều đặn với các công sự được đắp vẽ khéo léo và đôi khi mang đậm giá trị nghệ thuật. Có một mùa đông, các bức tường cao hơn cả đầu người và các lối đi giữa chúng chật hẹp đến mức một tai nạn kỳ lạ đã xảy ra, suýt chút nữa thì mất mạng. Một chiếc xe ngựa mui kín chở đầy bia gừng đã bị kẹt giữa các bức tường ấy và lật nhào. Những chai bia phát nổ, và cậu con trai của người đánh xe, kẻ đang ở bên trong và không thể thoát ra ngoài, chỉ được giải cứu với vô vàn khó khăn thoát khỏi mối nguy kép là bị ngạt thở và chết đuối trong dòng nước lũ bất ngờ.

Nhưng trò trượt dốc mới thú vị làm sao! Cứ để bất cứ ai muốn ngắm nhìn một New York dân chủ thực thụ đang vui đùa thực hiện một chuyến đi vào một đêm như thế qua các con phố ở khu thượng lưu đổ dốc đông tây vào các mạch máu giao thông lớn, và quan sát những cảnh tượng ở đó khi tuổi trẻ nước Mỹ đang ở thờio kỳ huy hoàng nhất. Chỉ ở những nơi có nguy cơ từ các giao lộ đường sắt thì cảnh sát mới can thiệp để chặn đứng cuộc vui. Ở tất cả các dãy nhà khác, họ khôn ngoan nhắm một mắt, hoặc nhìn sang hướng khác. New York đầy rẫy những đường trượt dốc vô cùng tráng lệ, và chẳng có đường nào trong số đó là không phải hoạt động quá tải khi tuyết phủ mặt đất. Vẫn còn những tiềm năng ở các sườn dốc của "Acropolis" và Đại lộ Cathedral Parkway chưa được khai thác triệt để; nhưng bất cứ nơi nào dân cư đông đúc, họ đều đổ xô ra ngoài không tiếc công sức để tận hưởng niềm vui bất cứ khi nào và ngay khi cơ hội đến.

Có một ngọn đồi ở Đại lộ A (Avenue A), gần Công viên East River, mang tính tiêu biểu trên nhiều phương diện. Đến đó là lũ trẻ nhà nghèo với những chiếc xe trượt tự chế và kiểu trượt "cắm đầu" làm từ những mẩu ván, đôi khi chẳng có cả thanh trượt, và những cô tiểu thư từ các dinh thự sang trọng đối diện công viên cùng dọc theo phố Eighty-sixth, trong trang phục trượt tuyết với mũ và tua rua, được tháp tùng bởi những chàng trai trẻ của họ, những người có vẻ hơi chảnh chọe trước khung cảnh hỗn tạp ấy. Nhưng họ nhanh chóng quên đi điều đó trong niềm vui của trò chơi. Họ cứ thế lao xuống, giàu có hay nghèo hèn, trai hay gái, đàn ông hay phụ nữ, với những tiếng thét phấn khích khi tuyết dường như bay bổng dưới chân họ, và những ánh đèn lấp lánh ở phía xa trên đại lộ cứ đến gần hơn với tốc độ chớp nhoáng. Hai bên đường trượt là một đám đông hào hứng gồm các bậc trưởng bối, những người cười vang và vỗ tay tán thưởng như nhau dành cho chiếc xe trượt tồi tàn lẫn chiếc xe linh hoạt mang dòng dõi cao quý hơn, giục giã đoàn người đang nối đuôi nhau thở hồng hộc leo lên con dốc đứng để tiếp tục xếp hàng. Cho đến tận khuya, đại lộ vẫn vang vọng tiếng cười vui của lễ hội mùa đông bình dân.

Trên những con phố có đường tàu chạy qua, người chủ tiệm vẫn đang chiến đấu "giữa những lúc bận rộn" với đợt tuyết cuối cùng trong ngày, thầm cầu mong đây sẽ là đợt tuyết cuối cùng của mùa, thì vù! Chiếc xe quét tuyết cỡ lớn lao tới dọc theo đường ray, cuốn lên một trận cuồng phong tuyết và bụi bẩn làm văng tung tóe lên người hắn và những viên đá lát vừa mới được quét sạch những hòn đất nhỏ bay ra từ chổi quét của nó, cho đến khi mất kiên nhẫn, và cuối cùng bị cuốn hút bất chấp ý muốn bởi tinh thần của trò chơi, hắn vứt chổi và xẻng xuống để nhập bọn với lũ trẻ ném ngược lại chiếc xe quét tuyết. Người lái tàu rụt cổ lại, gù lưng và cười toe toét. Trận cuồng phong lướt qua, theo sau là một trận mưa bóng tuyết, rồi khuất dần trong không gian mờ ảo.

Một trong những cảnh tượng ấn tượng nhất của mùa đông ở New York đã phôi pha cùng rất nhiều thứ đẹp đẽ khác trong thời đại thực dụng này, và sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy trên đường phố của chúng ta nữa. Chiếc xe cày ngựa cổ xưa từng xuất hiện với tiếng lách cách, rầm rầm và tiếng chuông reo vang dội, do năm cặp ngựa lớn kéo, những con tuấn mã tuyển chọn từ chuồng ngựa, bao trùm trong làn mây hơi nước, và chưa bao giờ thất bại trong việc thu hút đám đông mỗi khi nó đi qua, nay không còn nữa. Sự lao đi và uốn lượn của dải ngựa kéo dài, tiếng roi quất mạnh mẽ của người đánh xe cùng những tiếng thét cảnh báo "Jack" hay "Pete" phải kéo và giữ đều nhịp, tiếng thịch thịch đều đặn của chiếc máy rải cát, sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy và nghe thấy nữa. Thay thế cho chiếc xe cày ngựa là chiếc xe quét tuyết chạy điện, một thiết bị ít bóng bẩy hơn nhưng lại hiệu quả hơn rất nhiều.

Bản thân chiếc xe cày đã biến mất. Nó đã bị các công ty đường sắt cho về hưu vì cho là kém thực tế, ngoại trừ việc dọn dẹp những khối lượng tuyết lớn — thứ mà ngày nay không còn được phép tích tụ nữa nếu có thể tránh được. Lưỡi cày chỉ có thể hạ xuống cách mặt đất chừng bốn hoặc năm inch, trong khi những chiếc chổi bánh xe của xe quét lại "quét lọt giữa mọi hòn đá," làm sạch trơn tru mọi ngóc ngách. Thiếu đi sinh khí của chiếc cày ngựa, nó mang lại cảm giác về một sức mạnh tập trung vượt xa bất cứ thứ gì trong màn trình diễn công phu của người tiền nhiệm.

Sự thay đổi này gợi lên một cách khá phù hợp quá trình tiến hóa của chiếc chiến hạm buồm cổ kính thành cỗ máy chiến tranh hiện đại không buồm và đầy vẻ lạnh lùng, và ý niệm ấy càng được củng cố bởi thiết kế mang đậm tính chiến thật của chiếc xe quét điện. Thật dễ dàng để tưởng tượng những gờ sắt quét tuyết khỏi đường ray chính là những chiếc đầm dùng cho trận chiến cận chiến, và những tấm bạt che chắn chổi quét chính là lưới chống ngư lôi để phòng thủ trước kẻ thù ẩn giấu. Người lái tàu ở phần vận hành của chiếc xe quét trông chẳng khác nào người thuyền trưởng trên đài chỉ huy của một chiến hạm, và anh ta điều khiển với sự bình tĩnh thản đáng kinh ngạc trước những cuộc tấn công vặt vãnh của đám du kích đường phố.

Từ khoảnh khắc một cơn bão bùng phát cho đến khi bông tuyết cuối cùng rơi xuống, các xe quét tuyết hoạt động không ngừng nghỉ trên các đường ray của hệ thống đường sắt, mỗi chiếc phụ trách một phân khu riêng có nhiệm vụ giữ cho thông thoáng. Đường ray là tất cả những gì các công ty phải bận tâm. Từng có một đạo luật, hoặc một quy tắc, hoặc một sự ngầm hiểu nào đó — chẳng ai có vẻ biết chính xác là gì — rằng họ cũng phải quét sạch tuyết ở khu vực giữa các đường ray và hai bên rộng hai thước để đổi lấy quyền kinh doanh nhượng quyền; nhưng trên thực tế, điều này tỏ ra bất khả thi. Nó chưa bao giờ được thực hiện. Dưới thời cố Đại tá Waring, Ban Vệ sinh Đường phố đã đạt được thỏa thuận với các công ty đường sắt, theo đó họ sẽ dọn sạch một số con đường nằm ngoài tuyến của họ, được tính toán có diện tích bề mặt tương đương với phần diện tích mà lẽ ra họ phải dọn dẹp nếu tuân thủ quy tắc cũ. Đổi lại, ban này sẽ thu gom những đống tuyết do xe quét của họ vun lại, trừ khi một đợt tan băng tự nhiên đến kịp trước.

Việc dọn tuyết sau một trận bão lớn khỏi các đường phố New York, hoặc thậm chí chỉ một số lượng đáng kể trong số đó, là một nhiệm vụ mà so với nó, việc dọn dẹp chuồng ngựa của vua Augeas chỉ là một chuyện nhỏ nhặt tầm thường. Khi đối phó với rác rưởi, người ta đôi khi đã áp dụng biện pháp của Hercules với mức độ thành công ít nhiều; nhưng ngay cả việc đổi hướng dòng sông Đông chảy qua các đường phố cũng chẳng thể cuốn trôi đi lớp tuyết trên đó. Dẫu trong mùa đông khắc nghiệt vừa qua, ban này đã có lúc huy động tới bốn ngàn công nhân phụ và tất cả những chiếc xe có thể huy động được trong thành phố, để chở đi — như tôi đã nói — một khối lượng khổng lồ lên tới hơn một triệu rưỡi thước khối tuyết, thì mọi người dân đều biết rõ, và đã lớn tiếng làm chứng vào thời điểm đó, rằng tất cả những nỗ lực ấy hầu như chỉ mới gãi ngứa mặt đất. Vấn đề này là một trong số rất nhiều bài toán lớn của đời sống đô thị hiện đại mà thời đại phát minh của chúng ta buộc phải để lại cho thế kỷ mới đang ló dạng mà chưa có lời giải.

Trong biên chế của Ban Vệ sinh Đường phố, chiếc xe cày tuyết vẫn giữ vững vị thế hữu dụng lâu đời của nó. Có mười một chiếc được cất giữ để phục vụ riêng cho Manhattan và Bronx. Nhiệm vụ mà chúng được giao phó là dọn dẹp trong thời gian ngắn nhất, không phải những đại lộ lớn có xe điện chạy qua, mà là những con đường nhánh dẫn từ đó đến các trạm xe cứu hỏa và xe tải, nhằm mở một lối đi cho các phương tiện ứng phó với tình trạng khẩn cấp chắc chắn sẽ xảy ra. Trên những con đường đã được mở ấy, các xe cứu hỏa sẽ lao thẳng ra đường ray khi có lệnh xuất động và đi theo các đường ray đó để đến chỗ hỏa hoạn.

Một đợt rét đậm chắc chắn sẽ kéo theo một chuỗi các vụ hỏa hoạn. Các lò sưởi bị bắt phải hoạt động hết công suất suốt cả ngày và được chất đầy than để giữ ấm qua đêm. Ngọn lửa cuối cùng cũng tìm ra điểm yếu trong ống khói, và rắc rối bùng phát. Đó là lúc các lính cứu hỏa phải trổ hết tài nghệ, và cũng là lúc họ chứng minh được bản lĩnh của mình. Trong cả ba trận bão tuyết lớn trong ký ức của tất cả chúng ta, chưa có ngọn lửa nào "thoát khỏi" tầm kiểm soát của họ. Trong cơn bão năm 1888, khi các con phố gần như không thể đi lại trong suốt ba ngày ròng, họ được gọi đi chiến đấu với bốn mươi lăm vụ hỏa hoạn, bất kỳ vụ nào trong số đó cũng có thể đe dọa cả thành phố nếu để cho nó vượt ngoài tầm kiểm soát; nhưng họ đã dập tắt tất cả ngay trong những bức tường nơi chúng bùng phát. Sự việc cũng diễn ra tương tự trong mùa đông khắc nghiệt mà tôi vừa nhắc tới. Trong một trận bão tuyết, các thành viên của Đội Xe tải số 7 (Truck 7) chỉ được ngủ vỏn vẹn bốn tiếng trong suốt bốn ngày. Những lúc không đi dập lửa, họ bị buộc phải xắn tay áo vào xúc tuyết để giúp Ban Vệ sinh Đường phố đang tê liệt dọn đường cho xe tải của họ. Hoàn cảnh của họ thực ra cũng chẳng khác gì tất cả những người còn lại.

Những gì Đại tá Roosevelt từng nói về đội Kỵ binh Xứ sở (Rough Riders) của ông sau trận chiến trong các chiến hào trước thành Santiago — rằng thử thách bản lĩnh của con người là đánh thức họ dậy lúc ba giờ sáng, đói rét, để chiến đấu với kẻ thù tấn công trong bóng tối, rồi bắt tất cả họ cùng xông lên một hướng — cũng hoàn toàn đúng với các lính cứu hỏa, và giống như đội Kỵ binh Xứ sở, họ chưa bao giờ gục ngã khi thử thách xuất hiện. Cảnh những người lính cứu hỏa lao ra tuyến đầu theo tiếng chuông báo động, tiến vào đối đầu với cái chết rình rập chẳng kém gì những người đối mặt với đạn pháo Mauser, nhưng lại thiếu vắng mọi yếu tố của một cuộc chiến tranh hào hùng — nào cờ hoa, tiếng hò reo và tất cả những thứ khơi ngọn lửa trong lòng người lính để thúc giục họ tiến lên — bám víu trong trạng thái nửa thân trần, với những ngón tay tê cóng vào thang hết mức có thể trong lúc cố mặc những bộ quần áo đã cứng đơ vì lạnh, là một trong những hình ảnh khiến người ta kiêu hãnh vì được làm người. Được chứng kiến họ hành động, những giọt nước đóng băng nhỏ giọt từ mũ sắt và áo khoác, đứng trên cao trên thang, đôi khi bị đóng băng cứng ngắc vào từng nấc thang, vậy mà vẫn giữ cho dòng nước phun ra ổn định như thể tia nước từ vòi phun không hề xối lên người họ như những trận mưa đá buốt giá, sẽ dễ dàng khiến một người cảm thấy vô cùng biết ơn vì số phận không bắt mình phải đi dập lửa vào mùa đông. Mới chỉ cách đây vài mùa đông, trong vụ hỏa hoạn tại một nhà kho trên phố South, hai người thợ vòi rồng đã phải dùng rìu để chặt khỏi chiếc thang, bởi lớp giáp băng hình thành xung quanh và trên người họ trong lúc làm việc đã quá dày đặc.

Vẻ đẹp khủng khiếp của một cảnh tượng như thế vẫn còn in đậm trong ký ức tôi. Đó là buổi sáng khi Đại đội trưởng Bresnan và Tiểu đội trưởng Rooney cùng nửa tá lính của họ đã ngã xuống trong vụ sập mái của một nhà máy đang bốc cháy. Những người lính tuyến dưới đã dùng rìu tự chặt đường mở lối ra ngoài khoảng không. Vị đại đội trưởng và tiểu đội trưởng bị mắc kẹt dưới bồn chứa nước lớn, nơi các cột gỗ chống đỡ đã bị lửa thiêu rụi, và đã thiệt mạng. Họ vẫn nằm đó dưới đống đổ nát khi tôi tới nơi. Ngọn lửa đã được dập tắt. Dòng nước tràn qua mép bồn chứa đã đóng băng thành những cột băng khổng lồ rủ xuống như một tấm vải liệm màu trắng vĩ đại che phủ quan tài của hai người anh hùng đã khuất. Đó là một nhà máy sản xuất thiết bị khí đốt, và hàng trăm ống dẫn nước, bị vặn xoắn thành đủ loại hình thù kỳ dị bằng băng lấp lánh, đã mang lại một hiệu ứng vô cùng kỳ quái cho khung cảnh tang thương. Tôi vẫn có thể nhìn thấy Đại đội trưởng Gicquel, mặt mày nhọ nhem khói bụi, với dòng nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt nam tính vạm vỡ của ông — tội nghiệp Gicquel! Chẳng lâu sau đó anh đã đi theo những người đồng đội của mình trong biết bao trận chiến cam go — chỉ tay về phía đống đổ nát với những lời nghẹn ngào: "Họ ở trong đó!" Họ đã chiến đấu trận chiến cuối cùng và giành chiến thắng, hệt như họ vẫn luôn làm thế, dẫu cho họ có phải đánh đổi cả sinh mạng cho chiến thắng ấy. Chẳng có cái kết nào vĩ đại hơn thế mà một lính cứu hỏa có thể khao khát.

Mùa đông ở New York mang đến những nhọc nhằn và gian khổ, nhưng nó cũng chứa đựng cả những niềm vui cho cả người giàu lẫn người nghèo. Dù lạnh lùng và tàn nhẫn, nó vẫn tuyệt đẹp trong mọi khoảnh khắc cho đến khi con người nhúng bàn tay vấy bẩn của mình vào bức tranh phong cảnh mà nó vẽ nên trên đường phố và ngõ hẻm, nơi thi ca chưa từng trú ngụ vào mùa hè. Thành phố vĩ đại nằm im lìm dưới lớp chăn trắng mềm mại về đêm, với vô vàn ánh đèn lấp lánh thi thố cùng các vì sao, đẹp đến mức không gì sánh nổi. Hãy ra công viên ngắm nhìn ánh trăng soi rọi khu rừng và mặt hồ, khi những vị khách lang thang cuối cùng đã rời đi và tiếng móng ngựa đơn độc của viên cảnh sát đã lịm tắt dưới chân đồi; hãy lắng nghe tiếng thì thầm của hàng cây, rạng ngời sương giá từ hơi thở của thần Boreas: về những giấc mơ chúng mơ trong giấc ngủ dài, về bình minh đang tới, về ánh nắng ấm áp của mùa xuân, và rồi hãy bảo rằng cuộc sống ở thủ phủ nước Mỹ không đáng sống, ngay cả trong mùa đông, bất chấp giá than đắt đỏ ra sao, tôi sẽ bảo rằng bạn chẳng thích hợp với điều gì ngoài mưu phản, âm và chiến lợi phẩm; bởi trong tâm hồn bạn chẳng hề có lấy một nốt nhạc nào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.