[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Đêm Giáng sinh đang bao trùm khu Đông Cận. Bóng tối dần khép lại sau một ngày lạnh giá và khắc nghiệt. Ánh đèn hắt qua những ô cửa sổ đóng băng của tiệm bán đồ nguội và quán rượu ở góc đường chiếu lên những người đàn ông tay xách cặp đựng cơm trống rỗng đang vội vã rảo bước về nhà, áo khoác cài kín cổ, đầu cúi gằm trước cơn gió lạnh buốt thổi lồng lộng từ phía sông, như thể họ đang húc đầu rẽ lối đi dọc con phố.
Gió thổi tung cánh cửa quán rượu hé mở và rít lên qua khe cửa; nhưng ở trong đó dường như chẳng ai cảm thấy sợ hãi. Giữa những tràng cười vang dội, tiếng ly chén va vào nhau và tiếng xí ngầu lảng vảng trên quầy gỗ cứng vọng cả ra ngoài đường. Không chỉ một người qua đường vô tình bước vào tầm ảnh hưởng ấy lại run lên bần bật, để rồi hình ảnh người vợ và những đứa con nhỏ đang ngóng trông ở nhà bỗng chốc tan biến khi họ ghé vào làm một ly cho lại sức. Đèn đã tắt từ lâu khi những con phố chìm trong tĩnh lặng vang vọng những bước chân xiêu vẹo hướng về ngôi nhà, nơi niềm vui đón mừng Giáng sinh đã chuyển thành nỗi sợ hãi.
Nhưng vào giờ phút chạng vạng này, ngọn đèn vẫn cháy sáng rực rỡ, cố gắng hết sức xuyên qua cái lạnh buốt giá bên ngoài bằng những tia ấm áp và vui tươi. Ngay đoạn ánh sáng từ những ngọn đèn trong tiệm đồ nguội hắt những vệt loang lổ lên vỉa hè, hai cậu bé đang dán mũi vào cửa sổ. Hơi ấm và ánh đèn bên trong đã tạo ra những ô không gian tan băng nhỏ trên tấm kính mờ, hé lộ khung cảnh giàu có bên trong: những chồng cá trích hun khói, phô mai vàng óng, thịt xông khói cắt lát và những chiếc giò heo mập mạp, hào phóng; những hàng chai lọ đủ hình thù kỳ lạ trên kệ chứa đựng những món ngon tuyệt hảo nào thì không ai biết rõ, chỉ chắc chắn rằng nhìn bề ngoài thì chúng phải rất ngon.
Và mùi hương gia vị cùng đủ thứ đồ ăn thơm ngào ngạt phả vào hai đứa trẻ qua cánh cửa mở mỗi khi tiếng chuông lanh canh báo hiệu khách ra vào! Tuyệt vời nhất là ở trên cùng, góc khuất trên chiếc kệ cao, là những chồng bánh mật vuông vức với lớp đường trắng muốt như phủ sương, được buộc thành từng bó bằng những dải giấy xanh.
Gió thổi thốc qua những chiếc áo khoác vá víu và sờn rách của lũ trẻ khi chúng rướn sát vào cửa sổ, cố gắng thở hắt hơi lên mặt kính để làm cho những lỗ tẻo tò tò ấy to hơn, nhằm thu trọn vào tầm mắt chiếc bánh lớn đính hạt hạnh nhân; nhưng chúng chẳng màng gì đến giá lạnh.
"Jim!" Cậu bé nhỏ hơn cất giọng lanh lảnh sau một hồi dán mắt lâu hơn thường lệ; "Ê, Jim! Mấy cái kìa là của ông già Noel đấy. Thấy không?"
"Ông già Noel cái nỗi gì!" Cậu kia khinh khỉnh đáp, áp sát mắt vào khoảng kính trong. "Làm gì có lão già đần độn nào như thế. Bánh mật đấy chứ. Tao với thằng Tom đã từng được ăn một miếng rồi."
"Không có ông già Noel á?" Cậu nhóc nhỏ hơn cáu kỉnh vặn lại ngay chỗ lỗ tẻo tò. "Có chứ. Tao tận mắt thấy lúc lão đến hẻm nhà mình đợt—"
"Mấy đứa tụi mày cãi nhau cái quái gì thế?" Một giọng nói lạ hoắc cắt ngang.
Một cậu bé khác, to con hơn nhưng trông bẩn thỉu và bặm trợn hơn cả hai đứa, từ đằng sau bước đến lúc nào không hay. Dưới nách cậu kẹp một bọc báo "phát hành thêm" chưa bán hết. Tay kia thọc sâu đến tận khuỷu vào túi chiếc quần rách rưới.
Lũ trẻ rõ ràng đều biết mặt hắn, và đứa nhỏ nhất hớn hở nhận ngay hắn làm trọng tài.
"Thằng Jim nó bảo không có ông già Noel, mà tao thì tận mắt thấy—"
"Jim!" Thằng nhóc lớn hơn nghiêm giọng hỏi, trừng mắt nhìn kẻ tội đồ; "Jim! Mày ngốc thật đấy! Không có ông già Noel á? Mày đang bịp ai thế hả? Giờ thì nhìn tao đây này!"
Trong sự kinh ngạc tột độ, hai đứa nhỏ nhìn hắn biến mất qua cánh cửa dưới tiếng chuông lanh canh bước vào lãnh địa kỳ diệu của cá trích hun khói, mứt và bánh mật. Trân trối đứng nhìn qua lỗ tẻo tò, trước sự hiện diện bằng xương bằng thịt của chính ông già Noel cạnh nhành thông, hắn móc năm xu nhàu nát từ đáy túi đưa cho người phụ nữ đứng sau mấy chiếc lọ để đổi lấy một bọc bánh mật buộc dải ruy-bang xanh. Như trong mơ, chúng thấy hắn hiên ngang bước ra với chiến phẩm hằng ao ước.
"Này, nhóc!" Hắn nói, chìa hai chiếc bánh trắng phau và béo bở nhất cho đứa bênh vực ông già Noel; "Quà Giáng sinh của mày đây. Cút ngay về lán đi; còn mày nữa, Jim, đây là một cái cho mày, dù mày chẳng đáng được nhận đâu. Nhớ là để yên cho thằng bé đấy."
"Cái này chắc tao phải cạp tạm qua bữa tối thôi. Tao chưa bán được chỗ báo này, lão già nhà tao mà thấy mang về thể nào cũng lôi cổ ra đấm cho nhừ đòn."
Khi những bước chân lê lết của đám nhóc nhà nghèo vội vã rẽ qua góc phố chưa kịp khuất hẳn, miếng bánh cuối cùng trong bữa tối của cậu bé bán báo đã bị nuốt chửng sau tiếng thét "Báo đặc biệt đây!" khi cậu lao vút qua đường để chặn một người qua đường.
Càng về khuya, trời càng buốt giá và lộng gió hơn. Những bông tuyết khô rơi xuống đậu lại trên mặt đất, chậm chạp viền quanh mép vỉa hè, những ô cửa chớp và bậc cửa của các khu chung cư bằng một lớp trắng xóa dày dần, bị cơn bão từ mặt sông cuốn thốc lên. Trải dài sang hai bên là những con phố dài vô tận nằm giữa những tòa nhà cao ngất ngưởng, trông giống như những vách đá sừng sững đục thủng hàng ngàn con mắt sáng rực hé lộ ngọn lửa ấm cúng bên trong — một thành phố hùng vĩ của những kẻ sống trong hang động bị xiềng xích bởi nghèo đói và túng quẫn.
Bên ngoài vẫn còn dòng người hối hả qua lại. Cửa quán rượu đóng sầm liên tục, và những đứa trẻ chân trần xách vại bia nép chặt vào tường để tránh gió. Từ sâu trong một con hẻm cụt vẳng ra những âm thanh lạc điệu của một ban nhạc đồng thao lưu vong đang cất lên khúc ca mừng Giáng sinh cho người nghèo. Bị lệnh cảnh sát đuổi khỏi mặt phố, họ kiếm chác được chút tiền lẻ ít ỏi mừng Giáng sinh từ những ô cửa sổ mở ra phía sân sau. Áp vào không ít ô cửa kính là hình dáng trụi lá của một cây thông Noel tội nghiệp nào đó, dăm cành thông gai lượm nhặt được ở tiệm tạp hóa rồi cắm vào một cái xô cho "bọn trẻ" nhảy múa xung quanh, trên cành treo mấy xu kẹo và kim tuyến.
Từ căn gác đối diện thỉnh thoảng lại vọng lên những giai điệu dịu dàng của một bài hát tiếng Đức về Chúa hài đồng. Lễ Giáng sinh ở các khu chung cư phía Đông Cận bắt đầu từ lúc hoàng hôn trong "Đêm Thánh", trừ những nơi mà cái tên ấy chỉ mang ý nghĩa đe dọa hoặc chế nhạo. Ở hàng trăm ngôi nhà như thế, tiếng vo ve của vô số cỗ máy khâu do những nô lệ của xưởng may vận hành bằng đôi bàn chân mỏi nhọc và tấm lưng đau nhức đã át đi mọi âm thanh vui tươi yếu ớt đang cố gắng cất lên giữa tiếng ồn ào của cỗ máy nghiền khổng lồ ấy.
Đối với họ, Giáng sinh là gì nếu không phải là tên gọi của sự thống khổ, là lời nhắc nhở về người thân và tự do đã mất, về chế độ nô lệ kéo dài một nghìn tám trăm năm, mà sự tự do chỉ có thể đánh đổi bằng vàng. Phải, vàng! Thứ vàng vẫn còn quyền năng mua lấy sự tự do, mua lấy thiện cảm, vâng, và cả danh dự của kẻ áp bức cùng nhà cửa ruộng đất của hắn. Nghĩ đến đó, ánh mắt mỏi mệt bỗng sáng lên, tấm lưng đau ê ẩm thẳng lại, và đôi chân rã rời bỗng có thêm sức mạnh để hoàn thành nốt công việc dài dằng dặc khi thành phố đã chìm vào giấc ngủ.
Tại một lối đi hẹp nằm lọt thỏm giữa hai tòa chung cư lớn dẫn ra một căn lán ọp ẹp phía sau, Nibsy, cậu bé bán báo, khựng lại trong bóng râm của khung cửa và liếc dài xuống con hẻm tối thui.
Cậu thẫn thờ nghịch đống báo chưa bán hết — lúc này đã bẩn thỉu và rách rưới như chính quần áo của cậu — trước khi mạo hiểm bước vào, lách qua những chiếc thùng phuy và bãi rác ngổn ngang; đi ngang qua căn lán của người thợ đóng giày người Ý, nơi ngọn nến mỡ cắm trong chiếc cốc bia nứt vỡ đặt trước bức tranh "Mẹ Thiên Chúa" cho thấy ngay cả ông ta cũng biết hôm nay là Giáng sinh và muốn bày tỏ điều đó; đi ngang qua căn hộ của nhà Sullivan, nơi những cú đấm và lời nguyền rủa say xỉn hòa lẫn với tiếng thét của phụ nữ, thứ âm thanh mà Nibsy từng nghe bao đêm trước buổi tối này.
Cậu rùng mình dò dẫm bước qua cánh cửa, một phần vì linh tính điều gì đang chờ đón mình nếu "lão già" có nhà, phần vì cảm giác mơ hồ, khó chịu rằng dẫu sao thì đêm Giáng sinh cũng phải khác với những đêm khác, ngay cả trong con hẻm này; rồi tiến đến tận cùng ngõ cụt, tới bậc thềm long lèo cuối cùng dẫn vào chốn tối tăm nhơ nhớp của căn chung cư. Cậu lần mò leo lên ba tầng lầu, dừng lại trước một cánh cửa và lắng nghe, do dự hệt như khi đứng ở đầu hẻm; rồi với một cử động đột ngột, bất chấp, cậu đẩy cửa bước vào.
Một căn phòng trống trải và lạnh lẽo; một đống giẻ rách làm giường ở góc nhà, một đống khác nằm trong hốc tối được gọi một cách quá lố là phòng ngủ; dưới cửa sổ là một cây nến gãy và một chiếc rương bọc sắt, trên đó có một người phụ nữ mắt buồn rười rượi với những nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt đang ngồi gọt khoai tây trong chậu; giữa phòng là một cái lò sưởi han gỉ, cạnh đó là đống củi chẻ đống sẵn trên sàn. Một người đàn ông đang quỳ sấp mặt phía trước dùng chiếc mũ phớt cũ quạt cho lửa cháy. Mỗi luồng gió lùa làm ngọn lửa bùng lên, chiếc ống khói cũ kỹ xiêu vẹo lại phả ra từng trận khói đen ngòm ở mọi mối nối. Khi Nibsy bước vào, người đàn ông dừng tay, ngồim chồm hổm dậy và trừng trừng nhìn cậu — gương mặt của một tên côn đồ đồi bại, cau có đầy giận dữ.
"Lại muộn nữa à!" Lão gầm gừ; "Mà báo thì vẫn chưa bán hết. Tao dặn mày thế nào hả cái đồ ranh con này, nếu mày dám..."
"Tom! Tom!" Người vợ chen ngang, tuyệt vọng tìm cách xoa dịu cơn thịnh nộ của gã côn đồ. "Thằng bé có muốn thế đâu, với lại hôm nay là đêm Giáng sinh mà. Vì ơn Chúa..."
"Quỷ tha ma bắt mày với cái thói nhăng cuội và thằng ranh con của mày đi!" Gã đàn ông thét lên, cuồng nộ vì cơn giận. "Để tao dạy cho nó một bài học!" Vừa với tay sang bên cạnh, lão vồ lấy một khúc củi to đùng rồi ném thẳng vào đầu đứa trẻ.
Nibsy vẫn đứng sát ngay cửa, từ từ dịch chuyển về phía mẹ nhưng đôi mắt vẫn cảnh giác dè chừng gã đàn ông bên bếp lò. Ngay khi tay lão vừa với tới đống củi, cậu nhanh như cắt chồm về phía cầu thang và suýt soát né được vật thể bay tới. Khúc củi nện thẳng vào cánh cửa khi cậu sập mạnh lại phía sau, đủ mạnh để làm vỡ toác một tấm ván.
Cậu lao xuống ba tầng lầu chỉ trong mấy nhịp nhảy, băng qua con hẻm, vượt qua các thùng phuy và chướng ngại vật, chạy một mạch không ngừng nghỉ cho đến khi ra tới mặt phố, bỏ lại sau lưng những tiếng chửi rủa và la hét.
Trong lúc hoảng hốt bỏ chạy, cậu đã đánh rơi số báo chưa bán hết. Cậu buồn rầu thọc tay vào túi khi đi dọc con phố, kéo vạt áo rách bươm quấn lấy người cốt để che đi sự xấu hổ hơn là để chống lại cái lạnh.
Bốn xu là tất cả những gì còn lại sau món quà Giáng sinh đãi hai cậu bé ở khu lán trại; không đủ để mua bữa tối hay thuê chỗ ngủ; và trời thì càng lúc càng lạnh hơn.
Trên vỉa hè trước tiệm tạp hóa, một cuộc vui Giáng sinh muộn đang diễn ra. Bọn trẻ từ các khu chung cư trong hẻm và bên kia đường đang chơi trò bị bắt dê, mù quáng quờ quạng trong đám đông để túm lấy nhau. Chúng reo hò ầm ĩ gọi Nibsy nhập cuộc.
Chúng hét lên: "Bọn tao đang đón Giáng sinh đấy!"
Nibsy không nghe thấy chúng. Cậu đang mải suy nghĩ, suy nghĩ vẩn vơ trong lúc lật đi lật lại bốn đồng xu ở đáy túi. Cậu nghĩ không biết bao giờ Giáng sinh mới đến với mình, và ông già Noel của lũ trẻ có tìm được con hẻm nhà cậu, nơi đứa em bé bỏng đang ngủ say trong tầm tay của người cha độc ác hay không. Còn bản thân cậu, từ trước tới giờ cậu chỉ toàn nếm trải đòn roi và chửi rủa. Cậu có thể tự lo cho mình. Nhưng còn mẹ và em... Và rồi một nỗi lạnh giá rợn người ùa đến khi cậu nhận ra trời đã muộn và cậu phải tìm một chỗ để ngủ.
Cậu nhẩm tính trong đầu ưu nhược điểm của hai hay ba nơi mà cậu thường lui tới trốn "cớm" mỗi khi con hẻm trở nên quá nguy hiểm đối với cậu.
Đó là chiếc sà lan chở cỏ khô dưới bến cảng, với tay gác gian đôi khi say xỉn nên tạo cơ hội cho lũ trẻ lẻn vào. Xác suất kiếm được chỗ ngủ ở đó vào đêm Giáng sinh ít nhất là năm ăn năm thua, và xem ra ông già Noel cuối cùng cũng làm được một việc tốt cho cậu.
Rồi còn chỗ trú ẩn ấm áp trong thùng cát mà cậu có thể cuộn tròn người lại. Nibsy ngậm ngùi tiếc nuối khi nghĩ rằng nó cũng giống như chiếc sà lan chở cỏ khô, nằm quá xa và lại ngược chiều gió nữa.
Dưới khu nhà in có những tấm lưới thoát hơi nước của lò sưởi, và một góc khuất trong tầng hầm, sâu xuống tận mấy tầng dưới lòng đất, nơi những cỗ máy in lớn cứ gầm rú inh ỏi từ nửa đêm cho đến tận sáng rõ.
Khi điểm lại những nơi ấy, Nibsy dứt khoát đưa ra quyết định, quay mặt về hướng nam và rảo bước đi xuống trung tâm thành phố.
***
Tiếng ì ì của chiếc xe chở báo cuối cùng lăn bánh trên mặt đường lúc này đã ngập sâu trong lớp tuyết dày vừa chìm dần vào cõi xa xăm, thì từ trong lòng đất sâu thẳm bỗng vang lên một tiếng thét, tiếng thét của sự kinh hoàng và đau đớn tột cùng được hòa giọng bởi hàng trăm cổ họng.
Từ một trong những lối xuống tầng hầm sâu hoắm, một người đàn ông lao vút ra, quần áo, tóc tai và râu ria đều bén lửa; bám sát gót chân hắn là một đám đông nam thanh nữ tú đang thở hồng hộc; ngay phía sau là một luồng khói lửa cuồn cuộn đuổi theo.
Tiếng cọc cạch của những cỗ máy in bỗng chót ngưng bặt, nhanh chóng bị lấn át bởi tiếng chuông báo hỏa hoạn vang dội khẩn cấp. Các lính cứu hỏa cầm rìu và móc sắt xông vào; vòi rồng được thả xuống qua các miệng cống, và cuộc chiến đấu dưới lòng sâu thẳm ấy đã diễn ra vô cùng cam go.
Tòa nhà đã được cứu; nhưng giữa bầu không khí hân hoan chiến thắng, một sự im lặng đột ngột bao trùm. Từ miệng hầm tối, một bóng người đen đúa đội mũ sắt bước lên, trong tay ôm một vật gì đó đen thui và cháy xém. Một tấm bạt được trải trên nền tuyết và hắn đặt gánh nặng của mình lên đó, trong khi đám đông lặng lẽ tản ra nhường chỗ và tin báo được chuyển ngay tới bệnh viện yêu cầu bác sĩ đến gấp.
Họ nhẹ nhàng nâng cậu bé tội nghiệp Nibsy — bởi chính là cậu, kẻ đã bị mắc kẹt trong chỗ ngủ của mình bởi một kẻ thù đáng sợ hơn cả "cớm" hay tay gác sà lan cỏ khô — lên chiếc xe cứu thương đưa về giường bệnh, mọi chuyện đã quá muộn.
Chỉ cảm nhận được một sự khó chịu mơ hồ thay thế cho nỗi sợ hãi và đau đớn, Nibsy ngơ ngác tự hỏi sao mọi người lại tốt với mình thế nhỉ. Trước đây chẳng mảy may có ai thèm bận tâm chú ý đến cậu. Khi cậu nhét những tờ báo ngay trước mặt họ, họ chỉ xô đẩy cậu một cách thô bạo.
Nibsy, vốn khỏe mạnh và biết tự xoay sở để sinh tồn, chưa bao giờ nhận được sự ưu ái đó. Đang lúc ốm đau, thương tích và bầm dập, cậu lại được chăm sóc nâng niu hết mực, dù cậu đã bị bắt gặp ở nơi cấm trẻ em lai vãng. Mọi thứ thật kỳ lạ, và...
Căn phòng ngày càng tối mịt khiến cậu hầu như chẳng thể nhìn rõ khuôn mặt nhân hậu của vị bác sĩ, và phải bấu chặt lấy tay ông để chắc chắn rằng ông vẫn ở đó; tối gần như những bậc thềm trong con hẻm mà cậu vừa hớt hả chạy xuống hồi nãy.
Kìa em bé đây rồi — tội nghiệp em bé — và mẹ nữa — rồi mọi thứ chìm vào một khoảng không mờ mịt lớn lao, và với cậu bé Nibsy tội nghiệp thì giờ đây mọi điều bí ẩn đã chẳng còn nữa. Ngay lúc một người phụ nữ mắt trừng hoảng loạn len lỏi qua đám đông y tá và bác sĩ đến bên giường bệnh, gào thét gọi tên con mình, Nibsy đã phó thác linh hồn cho Chúa.
***
Không gian trong con hẻm vô cùng tĩnh lặng. Giáng sinh đã đến rồi đi. Trên cánh cửa cuối cùng, một dải tang tang chế bẩn thỉu được đóng chặt bằng hai chiếc đinh tán. Nó đã phải gánh vác sứ mệnh ấy tới hàng chục lần trong năm đó rồi.
Trên lầu, Nibsy đã về nhà, và ngạc nhiên thay, lần này tất cả hàng xóm láng giềng, già trẻ lớn bé đều ghé qua thăm viếng cậu.
Ngay cả người cha, dẫu là một tên côn đồ máu lạnh, cũng không hé răng phản đối. Lầm lũi và lặng câm, lão ngồi ở góc phòng bên cửa sổ xa nhất, cách xa chiếc quan tài nhỏ mộc mạc đang đậy kín nắp.
Mấy người phụ nữ hàng xóm đang thì thầm to nhỏ bên bếp lò thì bỗng có tiếng gõ cửa rụt rè. Không thấy ai trả lời, cánh cửa từ từ hé mở, thoạt đầu chỉ một chút, rồi rộng hẳn ra để lộ hình thù khép nép của một cậu nhóc rách rưới — chính là đứa nhỏ trong hai đứa hôm qua đã đứng phả hơi làm mờ ô cửa tiệm đồ nguội khi Nibsy đi ngang qua.
Cậu lê theo một cành thông gai, thứ bỏ đi từ cây thông Noel nào đó ở tiệm tạp hóa.
Cậu vừa đặt nó lên nắp quan tài vừa nói: "Quà của ông già Noel đấy. Nibsy biết mà." Rồi cậu quay lưng bước ra ngoài.
Cuối cùng thì ông già Noel cũng đã đến với Nibsy, ngay giữa con hẻm nghèo. Và Nibsy đã biết điều đó.