[London, tháng Mười hai năm 1795.]
Về đứa trẻ, anh muốn liệu định thế nào tùy ý.—Tôi chỉ mong việc đó được thu xếp sớm, để tên tôi không bao giờ còn phải nhắc đến trước mặt anh nữa. Mọi sự thế là chấm dứt.—Khi đã thấu rõ rằng anh chẳng hề đoái hoài, cũng chẳng chút tình nghĩa, tôi chẳng buồn buông một lời trách cứ, dẫu tôi có thừa lý do để thấy sự “nhẫn nhịn” người ta vẫn nói tới kia thực chất chẳng hề tế nhị chút nào.—Nhưng dẫu sao điều ấy cũng chẳng còn quan trọng nữa.—Mừng là anh thấy thanh thản với cung cách hành xử của chính mình.
Giờ đây tôi trịnh trọng quả quyết cùng anh rằng, đây là lời vĩnh biệt muôn đời.—Dẫu vậy, tôi sẽ không chối bỏ những bổn phận vẫn đang ràng buộc tôi với cuộc đời này.
Hẳn nhiên trong hai chúng ta phải có một bên “ngụy biện”; song giờ đây bên nào ngụy biện cũng chẳng còn can hệ gì. Về phần mình, với tôi đây chưa bao giờ là chuyện câu chữ nơi đầu môi chót lưỡi. Thế nhưng nhận thức của anh hoặc của tôi ắt hẳn đã lệch lạc một cách kỳ lạ—bởi cái điều anh gọi là “tế nhị” thì với tôi lại hoàn toàn ngược lại. Tôi chẳng còn thước đo nào cho đạo đức, và hoá ra bấy lâu nay suy nghĩ uổng công, nếu như những xúc cảm dắt lối anh đuổi theo một gót chân hay tà áo lại chính là cội nguồn thiêng liêng của nguyên tắc và ân tình. Tình cảm của tôi vốn mang bản chất rất đác khác, bằng không nó đã chẳng thể chống chọi được trước những lời mỉa mai cay nghiệt của anh.
Nơi tôi, tình cảm ấy vẫn mãi là điều thiêng liêng. Nếu có điều gì còn sót lại trong tôi vượt qua được nỗi cay đắng của những bất hạnh này, thì đó chính là sự thuần khiết trong mối thâm tình của tôi. Những bốc đồng nơi cảm giác của anh có thể đã khiến anh coi dục vọng phàm tục đơn thuần là nguồn cơn của nguyên tắc; và nó có thể còn đem lại cho anh chút thi vị trong vài năm tới.—Liệu anh có luôn nghĩ như thế hay không, tôi sẽ chẳng bao giờ biết được nữa.
Kỳ lạ thay, bất chấp tất cả những gì anh làm, một niềm tin mơ hồ nào đó vẫn buộc tôi phải tin rằng, bản chất thật của anh không phải là những gì anh đang thể hiện ra ngoài.
Tôi chia tay anh trong thanh thản.
Hazell, Watson & Viney, Ld. in ấn, London và Aylesbury.
Chú thích:
[1] Tác phẩm “Cuộc đời Shelley” của Dowden.
[2] Trong một bức thư sau, đứa trẻ được gọi là “cô bé nơi trạm gác”, có lẽ xuất phát từ phỏng đoán rằng sự ra đời của cô bé bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ này.—W. G.
[3] Bức thư này cùng mười ba bức thư tiếp sau dường như được viết trong suốt nhiều tháng xa cách; đề ngày tại Paris.—W. G.
[4] Một vài bức thư khác được viết trong những ngày còn lại của tuần ấy, với giọng điệu tương tự các bức trước, dường như đã bị người nhận thư tiêu hủy.—W. G.
[5] Imlay tới Paris vào ngày 11 tháng Ba sau khi lưu lại Havre hai tuần, nhưng ông ta đã trở về với Mary ngay sau thời điểm viết Thư XIX. Vào tháng Tám, ông ta tới Paris, và Mary đi theo sau. Đến tháng Chín, Imlay tới London vì công việc.
[6] Đứa trẻ được nhắc đến trong một số bức thư trước đó, đến lúc này đã chào đời được một thời gian khá lâu. Cô bé sinh ngày 14 tháng 5 năm 1794, và được đặt tên là Fanny.—W. G.
[7] Ý bà là, “vế sau nhiều hơn vế trước”.—W. G.
[8] Đây là bức thư mở đầu cho một loạt thư được viết trong nhiều tháng xa cách, mà sau đó chẳng hề có một cuộc tao ngộ thân tình nào. Thư được gửi từ Paris và đề địa chỉ gửi tới London.—W. G.
[9] Người nhận những bức thư này [Imlay] vào khoảng thời gian đó đang ở Ramsgate, chuẩn bị quay lại Paris như ông ta tuyên bố, thì dường như lại bị triệu hồi về London do áp lực công việc dồn dập lúc bấy giờ.—W. G.
[10] Điều này có lẽ ám chỉ một cách diễn đạt nào đó của [Imlay] người nhận thư, khi ông ta xem những điều mà người viết thư muốn dành cho một tên gọi khác chỉ như những nỗi bất hạnh thông thường.—W. G.
[11] Đoạn này nhắc tới những lá thư được viết với ý định tự vẫn, và chỉ định để mở ra sau khi thảm kịch đã xảy ra.—W. G.
Ghi chú của người số hóa
Bìa sách gốc mới kèm theo eBook này được cấp phép thuộc phạm vi công cộng.