Tôi đã nhận được một lời khuyên bổ ích để có thể tồn tại trong một chiến dịch tranh cử tổng thống vào tháng 9 năm 1991 khi tôi tình cờ gặp Hal Bruno trong hành lang khách sạn Biltmore ở thành phố Los Angeles. Bruno, trước đây là nhà sản xuất truyền hình và cũng là chỗ thân quen của tôi, đang ở trong thành phố để điểm danh các ứng viên tổng thống có triển vọng trong cuộc họp mùa thu của Ủy ban Quốc Gia của Đảng Dân chủ.
Ông hỏi tôi mọi chuyện tiến triển như thế nào rồi.
Lúc đó chắc tôi trông bối rối lắm. Tôi nói: "Tôi không biết nữa. Chuyện này hoàn toàn mới đối với tôi. Ông có lời khuyên nào dành cho tôi không?”
"Chỉ cần điều này thôi", ông nói, "Hãy cẩn trọng với những người mà bà tin cậy. Việc này hoàn toàn khác với bất kỳ chuyện gì mà bà đã trải qua trước đây. Ngoài điều này ra, hãy cố gắng thu thập kinh nghiệm."
Đây là một lời khuyên rất khôn ngoan. Tuy nhiên, không thể thực hiện một trọng trách quá phức tạp và đầy áp lực đối với chiến dịch tranh cử tổng thống mà lại không tin cậy vào rất nhiều ngườikhởi sự với đội ngũ bạn bè và các chuyên gia bầu cử mà chúng tôi biết là có thể tin cậy.
Ngay khi Bill bắt đầu cuộc đua vào tháng Chín, anh đã liên hệ với nhóm cố vấn chủ chốt để giúp anh ghi danh ứng cử. Craig Smith, một phụ tá lâu năm, đã nghỉ làm cho văn phòng Thống đốc để triển khai các chiến dịch tác nghiệp cho đến khi xây dựng được một chiến dịch tranh cử hoàn chỉnh, và sau đó trở thành Giám đốc Chiến dịch Toàn quốc. Vào ngày 2 tháng 10 năm 1991 các cố vấn của Bill đến thành phố Little Rock để giúp anh định hình bài diễn văn tuyên bố được dự kiến cho ngày hôm sau. Quang cảnh hỗn độn trong dinh vào tối hôm ấy thể hiện tiêu biểu cho toàn bộ chiến dịch tranh cử. Stan Greenberg, chuyên gia thăm dò ý kiến tuyển cử và Frank Greer, cố vấn về truyền thông cùng với Al From, Chủ tịch Hội đồng Lãnh đạo Đảng Dân chủ (DLC) cùng với Bruce Reed, Giám đốc Chính sách của DLC tụ họp quanh Bill cả ngày cho đến tối, cố gắng giúp anh hoàn thành bài diễn văn quan trọng. Bill gọi điện thoại, đọc kỹ các bài diễn văn trước đó của mình và chúi vào khay đựng thức ăn để trên bàn. Chelsea, 11 tuổi, một diễn viên ba lê chớm nở, lượn từ phòng này sang phòng kia, múa xoay tròn trên đầu ngón chân quanh bố mình và các vị khách cho đến tận giờ đi ngủ. Đến 4 giờ sáng, bài diễn văn đã hoàn tất.
Vào trưa hôm sau, trước Phủ Toàn quyền cũ ở thành phố Little Rock, một Bill Clinton đã được tiếp thêm sức lực đứng cùng với Chelsea và tôi trước một hàng mi-crô và máy quay phim của đài truyền hình, tuyên bố ý định ra tranh cử tổng thống. Bài diễn văn của anh nêu một chỉ trích nổi bật về chính quyền Bush. "Người trung lưu phải mất nhiều thời gian hơn cho công việc, dành ít thời gian hơn cho con cái và đem về nhà ít tiền hơn để phải trả nhiều hơn cho việc chăm sóc sức khỏe, nhà ở và giáo dục. Tỷ lệ nghèo đói gia tăng, đường sá thì xấu hơn và có số trẻ em đang lớn lên trong những gia đình tan vỡ nhiều hơn bao giờ hết. Đất nước chúng ta đang bị lèo lái sai đường quá nhanh. Đất nước đang bị tụt hậạc đường và tất cả cái mà chúng ta có được từ Washington là tình trạng tê liệt kéo dài, sự thờ ơ, thiếu quan tâm và sự ích kỷ, chứ không phải sự lãnh đạo và tầm nhìn.”
Chiến dịch mà anh muốn tranh cử sẽ là "các ý tưởng chứ không phải là khẩu hiệu suông" và sẽ "mang lại sự lãnh đạo giúp phục hồi giấc mơ Hoa Kỳ, tranh đấu cho giai cấp trung lưu bị bỏ quên, tạo thêm nhiều cơ hội, cần nhiều trách nhiệm hơn từ mỗi người chúng ta và tạo ra một cộng đồng mạnh hơn trong một đất nước vĩ đại của chúng ta". Đằng sau những tu từ ẩn dụ của anh là những kế hoạch cụ thể khác mà Bill sẽ trình bày trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch chính để thuyết phục các cử tri Dân chủ rằng anh có cơ hội tốt nhất để đánh bại Tổng thống Bush.
Giới truyền thông chủ đạo không cho Bill nhiều hy vọng trong các cuộc bầu chọn ứng viên tổng thống trong nội bộ Đảng Dân chủ, nói chi đến bầu tổng thống. Ban đầu anh bị mô tả như một kẻ vô danh, chỉ là kẻ ngoài cuộc góp vui, đẹp trai, có tài ăn nói nhưng quá trẻ và không có kinh nghiệm cho công việc tổng thống ở độ tuổi 46. Vì thông điệp về sự thay đổi của anh đã thu hút được sự quan tâm của các cử tri tiềm năng nên báo giới và phe ủng hộ Tổng thống Bush bắt đầu để mắt kỹ hơn đối với Bill Clinton và đối với cả tôi nữa.
Nếu 44 năm đầu của cuộc đời tôi là một sự giáo dục thì chiến dịch tranh cử 13 tháng là một khám phá. Mặc dù tất cả những lời khuyên tốt mà chúng tôi nhận được và tất cả thời gian mà Bill và tôi đầu tư vào lĩnh vực chính trị, chúng tôi không hề được chuẩn bị cho các hoạt động chính trị đầy thủ đoạn và mánh khóe, sự săm soi tàn nhẫn gắn liền với một cuộc đua tranh chức tổng thống. Bill đã phải chịu trận vì những chính kiến của anh ấy và chúng tôi phải chịu đựng sự điều tra soi mói toàn bộ đời tư của mình. Chúng tôi phảien với các cơ quan báo chí trong nước vốn không biết gì nhiều về chúng tôi và thậm chí cũng không biết chúng tôi từ đâu đến. Thế là chúng tôi phải kiềm chế cảm xúc của mình trước sự theo dõi thường xuyên của công chúng trong suốt quá trình chiến dịch tranh cử, ngày càng dữ dội và soi mói vào đời tư.
Tôi tin tưởng các bạn bè và nhân viên giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn trở ngại. Bill tập hợp được một nhóm phụ tá xuất sắc gồm có James Carville và Paul Begala là người đã vạch kế hoạch cho cuộc bầu cử Harris Wofford vào cương vị Thượng nghị sĩ của Pennsylvania năm 1991. James, một người gốc Cajun của Louisiana và là cựu sĩ quan thủy quân lục chiến, đã hợp tác chặt chẽ với Bill. Cả hai người đều rất hãnh diện về gốc gác miền Nam của mình, yêu quý mẹ và hiểu rằng các công việc chính trị của tổng thống là một cuộc chạy đua điền kinh về các mối quan hệ. Paul, một tài năng gốc Texas, có đôi lần phải làm thông dịch cái thổ ngữ nói nhanh như tên bắn của Carville. Anh là hiện thân cho sự nghiệp cao cả dân sinh và theo đuổi chế độ dân quyền. David Wilhem đến từ Chicago đã trở thành Trưởng nhóm Chiến dịch và có trực giác nắm bắt cách thức chiến thắng trong cuộc so tài dành cho các ứng viên trong những tình huống khó khăn, cho từng người một. Một người khác gốc Chicago tên là Rahm Emanuel có những kỹ năng chính trị sắc sảo và năng khiếu thiên tài trong việc huy động quỹ và đã trở thành giám đốc tài chính. George Stephanopoulos, cũng từng là một sinh viên được nhận học bổng Rhodes và trợ tá cho Nghị sĩ Richard Gephardt, dự báo cách thức đáp trả ngay lập tức và hiệu quả đối với các cuộc tấn công chính trị và cách thức xử lý sự thù địch từ giới báo chí. Bruce Reed cũng là một du học sinh khác theo chương trình Rhodes Scholar đến tham gia chiến dịch tranh cử từ Hội đồng Lãnh đạo Đảng Dân chủ lại có năng khiếu về diễn đạt các chính sách phức tạp bằng một ngôn ngữ đơn giản và đanh thép hơn. Anh là một giải pháp giúp thể hiện thông điệp tranh cử của Bill. Ủy ban DLC và người sáng lập Al Fm rất quan trọng cho sự phát triển các chính sách và thông điệp của Bill trong chiến dịch tranh cử.
Bill và tôi cũng tin cậy vào đội phụ tá tận tụy ở Arkansas bao gồm Rodney Slater, Carol Willis, Diane Blaid, Ann Henry, Maurice Smith, Patty Howe Criner, Carl và Margaret Whillock, Betsey Wright, Sheila Bronfman, Mack và Donna McLarty và rất nhiều người khác đã dành tất cả sức lực để bầu vị tổng thống đầu tiên xuất thân từ bang Arkansas.
Tôi bắt đầu liên kết các nhân viên của riêng mình ngay khi Bill tuyên bố ra ứng cử. Đây là một bước khởi đầu có tính nghi thức trong đó các nhân viên của ứng viên kiểm soát lịch làm việc và thông điệp của vợ ông ta. Tôi thì hoàn toàn khác - một số chuyện nhỏ sẽ trở nên ngày càng minh bạch trong vài tháng tới.
Người đầu tiên mà tôi gọi điện nhờ giúp đỡ chính là Maggie Williams, lúc đó đang học tiến sĩ tại Trường Đại học Pennsylvania. Maggie và tôi đã cùng làm việc tại Quỹ Bảo vệ Trẻ em trong những năm 1980. Tôi đánh giá cao kỹ năng của cô về tài lãnh đạo và giao tế, và tôi nghĩ rằng cô có thể xử lý một cách vững vàng dù cho bất kỳ chuyện gì xảy ra. Mặc dù mãi đến cuối năm 1992 Maggie mới đến làm toàn thời gian nhưng cô ấy đã dành cho tôi sự tư vấn và hỗ trợ trong suốt chiến dịch tranh cử.
Ba phụ nữ trẻ bắt đầu làm việc cho tôi trong chiến dịch trở nên vô cùng quý báu và đã luôn sát cánh cùng tôi trong suốt 8 năm ở Nhà Trắng. Patti Solis, một cô gái gốc Mễ di cư có đầu óc chính trị năng động đã lớn lên ở Chicago và làm việc cho Thị trưởng Richard M. Daley. Cô chưa bao giờ làm kế hoạch trong một chiến dịch tranh cử tổng thống. Tôi chưa bao giờ được ai đó bảo tôi phải làm gì, khi nào, ở đâu nhưng hóa ra Patti lại tự nhiên trở thành người lên chương trình cho tôi, tung hứng các thách thức của hoạt động chính trị, sắp xếp nhân sự và chuẩn bị một cách thông minh, quyết đoán và tươi vui. Cô y thu xếp giờ giấc của tôi suốt 9 năm, trở thành một người bạn thân và là một cố vấn giá trị mà tôi vẫn còn tin cẩn cho đến ngày nay.
Capricia Penavic Marshall, một luật sư trẻ năng động đến từ Cleveland cũng là dân nhập cư - mẹ cô ấy đến từ Mexico và bố là một người Croatia tị nạn chế độ Tito ở Nam Tư. Khi nhìn thấy Bill trên truyền hình đọc diễn văn vào năm 1991, cô đã quyết định là sẽ tham gia vào chiến dịch tranh cử của Bill và làm việc nhiều tháng trong công tác phục vụ các đoàn đại biểu tham gia hội nghị ở Ohio. Cuối cùng cô được tuyển vào làm nhân viên của tôi để thực hiện công việc cao cấp hơn, đây chính là một canh bạc của một thanh niên trẻ và là kinh nghiệm đào luyện tuyệt vời trong chính trị và đời thường. Capricia tiến bộ rất nhanh giống như một chuyên gia, và mặc dù chuyến đi đầu tiên không may mắn khi cô đón tôi không đúng ở phi trường Shreveport nhưng chúng tôi mến nhau ngay lần đầu. Sự duyên dáng, dí dỏm của Capricia dưới áp lực công việc đã giúp cô ấy và tôi rất nhiều, khi cô trở thành thư ký xã hội của Nhà Trắng trong nhiệm kỳ hai của Bill.
Kelly Craighead, một cựu vận động viên bơi lặn sừng sỏ và xinh đẹp đến từ California. Đã có một số kinh nghiệm về công tác lên kế hoạch khi cô trở thành giám đốc phụ trách chuyến đi của tôi. Điều đó có nghĩa là cô theo dõi sinh hoạt của tôi trên đường công cán. Mọi nơi tôi đi qua trong suốt 8 năm kế tiếp, vòng quanh thế giới hay một khu vực nào đó đều có Kelly bên cạnh. Khẩu hiệu "Không chuẩn bị tốt kế hoạch thì kế hoạch sẽ thất bại" của cô đã trở thành một trong những câu thần chú của chiến dịch . Không ai khác ngoài cô làm việc cần mẫn hơn hoặc lâu hơn để giải quyết từng chi tiết của bất kỳ chuyến đi nào của tôi. Công việc của cô có yêu cầu rất cao và rất cực nhọc, cần kết hợp tài năng của một tướng lĩnh và một nhà ngoại giao. Có cũng có nhiều am hiểu sâu sắc và lòng tận tụy. t rằng luôn có cô hỗ trợ bên cạnh khiến tôi cảm thấy thoải mái và tự tin ngay cả vào những ngày khó khăn nhất trong suốt những năm tháng ở Nhà Trắng.
Ngoài tất cả những thanh niên trẻ đã ký hợp đồng làm việc với tôi, còn có Brooke Shearer tình nguyện đi với tôi. Chồng cô là Strobe Talbott và toàn bộ gia đình của cô là những người bạn của Bill kể từ khi anh và Strobe là sinh viên của chương trình học bổng Rhodes. Khi Bill và tôi trở thành chồng vợ, họ cũng trở thành những người bạn của tôi. Các con trai họ cũng chơi thân với Chelsea. Brooke sinh sống ở Washington và làm nghề viết báo, có nhiều kinh nghiệm về giới truyền thông trong nước và nắm rõ những thủ thuật hoặc những trò lố bịch trong các chiến dịch tranh cử.
Tôi nhanh chóng hiểu ra rằng trong cuộc đua giành chức tổng thống, không có cái gì là giới hạn cả. Những lời phê bình ngốc nghếch, những lời gièm pha được tung ra trong các cuộc tranh cãi sẽ được tường thuật ngay trên các phương tiện truyền tin. Các lời đồn đại trở thành câu chuyện "thường ngày”. Và trong khi các kinh nghiệm trước đây của tôi dường như đã lỗi thời thì mọi chi tiết đời tư của chúng tôi lại được phân tích và soi mói như thể chúng tôi là một loại cổ vật vừa được khai quật. Tôi đã từng thấy chuyện này trong các cuộc tranh cử của người khác: Thượng nghị sĩ Ed Muskie biện hộ cho vợ mình vào năm 1972 và năm 1992 Thượng nghị sĩ Bob Kerrey kể một câu chuyện tếu hơi khiếm nhã mà không nhận biết rằng một mi-crô có độ nhạy cao đã được gài sẵn gần đó. Tuy nhiên mãi đến khi bạn trở thành tâm điểm trong các ánh đèn quay thì bạn mới cảm thấy sức nóng của chúng.
Một buổi tối khi Bill và tôi đang đi diễn thuyết ở New Hampshire, anh giới thiệu tôi với một đám đông người ủng hộ. Kể lại 20 năm làm việc của tôi về các đề trẻ em, Bill nói đùa rằng chúng tôi có một khẩu hiệu tranh cử mới: "Mua một, tặng một". Anh ấy nói thế như là một cách giải thích rằng tôi sẽ là một đối tác tích cực của anh trong nội các của mình và sẽ tiếp tục sự nghiệp của tôi trong quá khứ. Đây là một ý hay và các chuyên viên tham mưu bầu cử của tôi đã chấp thuận. Được tường thuật rộng rãi trên báo chí, câu nói sau đó đã bị nhào nặn và tung đi khắp nơi như là một bằng chứng về những tham vọng thầm kín của tôi muốn trở thành "đồng Tống thống" cùng với chồng mình.
Tôi không có nhiều tiếp xúc với báo giới trong nước để có thể đánh giá đầy đủ vai trò của các phương tiện truyền thông giống như một cái ống dẫn chứa đủ mọi thứ, mọi thông tin diễn biến trong các cuộc vận động tranh cử. Các thông tin, định hình về chính sách và các câu nói sẽ được sàng lọc qua một thấu kính của phóng viên báo giới trước khi chúng đến được công chúng. Một ứng viên không thể truyền bá các ý tưởng của mình nếu không có mạng lưới truyền thống. Một nhà báo không thể tường thuật hiệu quả nếu không tiếp cận được với ứng viên. Do đó, các ứng cử viên và phóng viên vừa đối chọi, vừa phụ thuộc lẫn nhau. Đây là mối quan hệ quan trọng, tế nhị và thủ đoạn mà tôi không hiểu đầy đủ hết.
Lời nhận xét lệch lạc vé câu "Mua một, tặng một" là một nhắc nhở với Bill và tôi rằng lời nói của chúng tôi có thể bị đưa ra khỏi ngữ cảnh do các phóng viên tin tức không có thời gian hoặc không gian để cung cấp ngữ cảnh của toàn bộ cuộc đối thoại. Tính đơn giản và súc tích luôn quan trọng đối với các phóng viên. Các lời nói vui hoặc câu chữ gây ấn tượng cũng rất quan trọng. Các câu nói ám chỉ bóng gió sẽ nhanh chóng được những bậc thầy về ngôn ngữ đặt lên bàn cân mổ xẻ.
Các trực quan chính trị của cựu Tổng thống Nixon vẫn còn rất nhạy bén và ông đã bình luận về chiến dịch tranh cử của chúng tôi trong một cuộc phỏng vấn nhân chuyến thăm Washington vào đầu tháng Hai. "Nếu bà vợ xuất hiện với phong thái quá mạnh mẽ và thông minh thì điều đó làm cho người chồng trông giống như một kẻ nhút nhát", ông nhận xét. Sau đó ông lưu ý là các cử tri có khuynh hướng tán thành lời nhận xét của Đức Hồng y de Richelieu: "Trí tuệ trong một phụ nữ là không phù hợp."
"Người đàn ông này chưa bao giờ làm bất cứ điều gì mà không có mục đích." Tôi nhớ là đã nghĩ như vậy khi tôi thấy lời nhận xét của Nixon được tường thuật trong báo The New York Times. Ngoài việc tham gia của tôi trong nhóm nhân viên điều tra vụ luận tội năm 1974, tôi ngờ rằng Nixon hiểu rõ hơn nhiều người khác về mối đe dọa mà Bill gây ra cho Đảng Cộng hòa đang cầm quyền. Có lẽ ông tin rằng anh ấy đang chịu đựng một bà vợ trực tính và việc bêu xấu tôi là "không phù hợp" có thể gây bất an cho một số cử tri sốt ruột muốn thay đổi song không chắc chắn về chúng tôi.
Trước đó, toàn bộ cuộc sống của Bill đã bị đặt dưới ống kính hiển vi của giới truyền thông. Anh ấy đã bị hỏi nhiều câu hỏi về chuyện cá nhân hơn bất kỳ một ứng viên tổng thống nào trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong khi cánh báo chí chính thống vẫn còn tránh in các lời đồn vô căn cứ thì các tờ báo lá cải bình dân lại trả tiền để có những câu chuyện giật gân ở Arkansas. Rốt cục thì một trong những chuyến đi câu này câu dính được vịt cồ.
Tôi đang ở Atlanta vận động tranh cử vào ngày 23 tháng 1 thì Bill gọi báo cho tôi về câu chuyện từ một tờ báo lá cải mới đăng kể một người phụ nữ tên là Gennifer Flowers tuyên bố là cô ta đã ngoại tình với anh suốt 12 năm. Anh bảo tôi đấy không phải là sự thật.
Các nhân viên trong chiến dịch vận độ đã bị dao động vì câu chuyện và tôi biết là một số người nghĩ rằng cuộc đua đã kết thúc. Tôi yêu cầu David Wilhelm triệu tập một cuộc họp để nói chuyện với mọi thành viên. Tôi nói rằng tất cả chúng ta tham gia chiến dịch này vì chúng ta tin tưởng Bill có thể đem đến sự thịnh vượng cho đất nước và rằng chính các cử tri quyết định chúng ta có thành công hay không.
Tôi kết thúc: "Vì thế chúng ta hãy trở lại công việc của mình".
Giống như một con vi rút có sức lây lan khủng khiếp, "con vịt" Flowers (tin giật gân) bay lượn giữa các loại phương tiện truyền thông, từ tờ báo Star một tờ báo lá cải cho đến chương trình Nightline một chương trình tin trên mạng có uy tín. Mặc dù chúng tôi đã nỗ lực đi tiếp nhưng mạng lưới báo chí phủ dày đặc làm cho chiến dịch vận động của chúng tôi không thể tập trung vào các vấn đề trọng yếu. Và vòng bầu cử ở New Hampshire chỉ còn cách vài tuần lễ nữa. Một số chuyện phải được làm. Bạn của chúng tôi là Harry Thomason, cùng với Mickey Kantor, James Carville, Paul Begala và George Stephanopoulos đã tham vấn với tôi và Bill về những chuyện chúng tôi có thể làm. Họ khuyến nghị rằng chúng tôi nên xuất hiện trong chương trình truyền hình tối Chủ nhật 60 Minutes ngay sau trận chung kết Super Bowl. Lúc này một lượng lớn khán giả có thể thấy chúng tôi. Tôi lại hoàn toàn tin rằng sự ra mắt như vậy sẽ gặp nhiều rủi ro, mất đi tính riêng tư và có thể ảnh hưởng đến gia đình chúng tôi, đặc biệt là Chelsea. Cuối cùng tôi được thuyết phục rằng nếu chúng tôi không xử lý tình huống một cách công khai thì chiến dịch tranh cử của Bill sẽ kết thúc trước kỳ bỏ phiếu.
Cuộc phỏng vấn 60 Minutes diễn ra vào ngày 26 tháng 1 trong một căn phòng lớn tại khách sạn Boston bắt đầu lúc 11 giờ sáng. Căn phòng đã được chuyển đổi thành một cảnh sân khấu với một dãy đèn dã chiến trên các cột xung quanh cái ghế trường kỷ là nơi Bill và tôi ngồi. Có một sự cố trong cuộc phỏng vấn: một cái sào nặng treo đèn đổ về phía tôi. Bill thấy nó nghiêng và kéo tôi ra khỏi vừa kịp lúc cái tháp treo đổ sầm vào chỗ tôi đang ngồi. Tôi run bắn còn Bill thì ôm chặt lấy tôi, nói thì thầm, lập đi lặp lại: "Anh đã chụp được em rồi. Đừng lo. Em ổn rồi. Anh yêu em".
Steve Kroft, người phỏng vấn, bắt đầu bằng một loạt câu hỏi về mối quan hệ và tình trạng hôn nhân của chúng tôi. Anh ta hỏi Bill đã từng có ngoại tình không và chúng tôi có sống ly thân hay có dự định ly dị không? Chúng tôi từ chối trả lời những câu hỏi riêng tư như thế về đời tư của mình. Tuy nhiên, Bill công nhận rằng anh đã gây tổn thương cho hôn nhân của chúng tôi và anh nói sẽ để cho cử tri quyết định là anh có xứng đáng với vị trí tổng thống hay không.
Kroft: Tôi nghĩ hầu hết người dân Mỹ đồng ý rằng thật đáng khen là hai ông bà đã ở bên nhau; rằng ông bà đã giải quyết các vấn đề của mình, rằng dường như hai người đã đạt được một sự thông hiểu và dàn xếp.
Một sự dàn xếp? Một sự thông hiểu? Có lẽ là Kroft đang cố gắng dành cho chúng tôi một lời động viên nhưng cách xếp loại của anh ta về hôn nhân của chúng tôi thì lại chệch mục tiêu xa lắc đến nỗi Bill tỏ ra hoài nghi. Tôi cũng thế.
Bill Clinton: Xin đợi một chút. Anh đang nhìn hai người yêu nhau. Đây không phải là một sự dàn xếp hay thông hiểu. Đây là một cuộc hôn nhân. Đó là một chuyện hoàn toàn khác.
Tôi ước gì tôi dành cho Bill nói lời cuối cùng nhưng giờ đến lượt tôi góp vui và tôi đã làm.
Hillary Clinton: Như anh bạn biết đấy, tôi không ngồi đây một người phụ nữ bé nhỏ nào đó đứng bên người đàn ông của tôi giống như Tammy Wynette. Tôi đang ngồi đây bởi vì yêu và kính trọng anh. Tôi rất tự hào về những điều anh ấy đã làm và trân trọng những gì mà chúng tôi đã cùng nhau trải qua. Và ông có biết, nếu điều đó không đủ cho nhân dân thì cữ vẫy tay ra hiệu, đừng có bỏ phiếu cho anh ấy.
Mặc dù cuộc phỏng vấn kéo dài 56 phút nhưng CBS chỉ phát hình khoảng 10 phút, bỏ sót nhiều điều quan trọng - chí ít là đối với tôi. Chúng tôi không biết họ sẽ cắt bỏ những lời nói của chúng tôi đến mức độ trầm trọng nào. Tuy nhiên tôi cảm thấy rũ được gánh nặng. Bill và tôi cảm thấy hài lòng về cách thức mà chúng tôi trả lời và mọi người đã nghĩ tốt về chúng tôi. Dường như hầu hết người dân Mỹ đồng ý với quan điểm cơ bản của chúng tôi: cuộc bầu cử là vì bản thân họ chứ không phải là cuộc hôn nhân của chúng tôi. Hai mươi ba ngày sau, Bill được biết đến như là "Cậu bé trở về" vì đã về đích thứ hai một cách ấn tượng trong cuộc bầu chọn ở New Hampshire.
Tôi vẫn như vậy. Ảnh hưởng từ sự tham chiếu của tôi với Tammy Wynette có hiệu quả trong tức thời và phũ phàng - vì nó xứng đáng là như vậy. Dĩ nhiên ý tôi là viện dẫn một bài hát nổi tiếng của Tammy Wynette là Stand by Your Man chứ không đề cập gì đến cá nhân cô. Tuy nhiên tôi đã không cẩn thận trong việc chọn ngôn từ của mình và lời nhận xét của tôi đã khơi dậy một dòng xoáy phản ứng giận dữ. Tôi hối tiếc về cách mà mình vô tình phạm phải và tôi đã xin lỗi riêng Tammy, và sau đó đã công khai trên một cuộc phỏng vấn truyền hình khác. Tuy nhiên tôi đã gánh chịu hậu quả. Và ngày càng trầm trọng hơn.
Vào đầu tháng Ba, khi mùa bầu chọn ứng viên của Đảng Dân chủ đi vào giai đoạn cao trào, cựu Thống đốc California và là ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ là Jerry Brown tiếp tục tấn công Bill, tập trung vào việc hành nghề luật của tôi và Hãng Luật Rose mà tôi là thành viên góp vốn kể từ năm 1979. Sau khi Bill trở lại chức vụ Thống đốc vào năm 1983, tôi nhờ các thành viên khác tính toán phân chia lợi nhuận của tôi, không bao gồm các khoản phí thu được của các luật sư khác từ công việc được làm cho tiểu bang hoặc bất kỳ một cơ quan nào của tiểu bang. Hãng Luật Rose đã cung cấp những dịch vụ này cho chính quyền bang Arkansas trải qua nhiều thập kỷ. Không có mâu thuẫn nào về quyền lợi nhưng tôi muốn tránh bất kỳ mâu thuẫn nào. Hãng luật đồng ý cho tôi được tách ra khỏi công việc và không nhận các chi phí liên quan đến các dịch vụ cho tiểu bang. Khi Frank White cố lôi vấn đề này vào chiến dịch tranh cử thống đốc Arkansas vào năm 1986, ông ta rất bối rối khi các dữ kiện cho thấy chính phủ tiểu bang đã trao các hợp đồng cho các hãng luật khác ở Arkansas nhiều hơn kể từ khi Bill làm Thống đốc.
Các thông tin giả được các đối thủ chính trị của Bill tung ra trong tiểu bang, Jerry Brown khơi mào lại các cáo buộc trong cuộc tranh luận ở Chicago hai ngày trước 17/3, ngày bầu cử chọn ứng viên của đảng ở Illinois và Michigan. Brown kết tội Bill đã giành các hợp đồng kinh doanh của tiểu bang cho Hãng Luật Rose để làm tăng thu nhập của tôi. Đây là một lời cáo buộc sai lệch, đầy tính cơ hội và không có căn cứ xác thực. Và chính nó đã dẫn đến một tình tiết đáng hổ thẹn là "pha trà làm bánh.”
Bill và tôi đang ở quán cà phê Busy Bee ở Chicago và bị theo dõi bởi một rừng camera và microphone. Chuẩn bị cho vòng bầu cử ứng viên tổng thống ở Illinois sắp đến, các phóng viên đã đưa ra cho Bill những câu hỏi về lời buộc tội của Brown. Sau đó, một phóng viên hỏi tôi nghĩ gì về những lời cáo buộc của Brown đối với chúng tôi. Câu trả lời của tôi dài và không mạch lạc:
"Tôi nghĩ trước nhất [lời nhận xét đó] căn cứ và hiểm độc và tôi cũng nghĩ rằng nó cũng thú vị vì đó là điều thường hay xảy ra đối với những phụ nữ có nghề nghiệp và cuộc sống của riêng mình. Và tôi nghĩ thật xấu hố nhưng tôi cho nó là một thứ mà chúng tôi sẽ phải chung sống. Những ai trong chúng ta đã nỗ lực và có một nghề nghiệp - cố gắng có một cuộc sống độc lập và tạo ra ý nghĩa - và dĩ nhiên như bản thân tôi có con nhỏ... Như ông thấy đấy, tôi đã cố gắng hết sức để quyết định đời mình, nhưng tôi cho rằng nó tùy thuộc vào sự công kích. Nhưng lời nhận xét đó là không đúng sự thật và tôi không [biết] làm gì khác ngoại trừ nói rằng điều đó làm tôi rất buồn."
Sau đó phóng viên tiếp tục hỏi là tôi có thể tránh gây ra mâu thuẫn quyền lợi khi chồng tôi là Thống đốc hay không.
"Tôi mong là thật sự như vậy", tôi trả lời, "Anh biết đấy, tôi nghĩ là tôi có thể ở nhà và nướng bánh, pha trà nhưng điều tôi quyết định làm là theo đuổi nghề nghiệp của mình, điều mà tôi đã làm trước khi chồng tôi bước vào cuộc sống quan trường. Và tôi đã làm việc rất nỗ lực và cẩn thận trong chừng mực tốt nhất có thể được và đó là tất cả những gì tôi có thể nói với ông.”
Đây không phải là giây phút hùng biện nhất của tôi. Tôi có thể nói: "Nhìn này, trừ phi từ bỏ tư cách thành viên của tôi trong hãng luật và ở nhà, tôi đã làm tất cả những gì có thể để tránh gây ra sự mâu thuẫn về lợi ích. Ngoài ra tôi đã làm khá nhiều bánh nướng trong ngày và cả pha trà nữa cơ !".
Các phụ tá của tôi ý thức được rằng báo chí đã lượm lặt được lời nhận xét "pha trà làm bánh", đề nghị rằng tôi nói với phóng viên lần thứ hai để giải thích chi tiết và rõ ràng hơn về điều tôi muốn thể hiện. Và tôi đã thực hiện một bài nói ứng khẩu tại một cuộc họp báo nhỏ. Nhưng việc đó không mang lại nhiều hiệu quả. Mười ba phút sau khi tôi trả lời câu hỏi, một câu chuyện được phát trên mạng của AP, CNN cũng nhanh chóng hùa theo tiếp sau đó bằng một đoạn tin buổi chiều (hầu như không đề cập đến câu hỏi đầu tiên - về các mâu thuẫn về lợi ích và Hãng Luật Rose - nhưng lại cắt giảm tất cả những lời tôi đã nói thành là "Tôi đáng lý ra có thể ở nhà nướng bánh và pha trà."). Chủ đề cho hầu hết các tổ chức truyền thông vào ngày hôm ấy là tôi đã phạm phải một sai lầm chính trị nghiêm trọng.
Tôi đã ngốc nghếch cố gắng giải thích tình trạng của mình và đưa ra giả thuyết rằng nhiều phụ nữ quá ôm đồm sự nghiệp và cuộc sống thường bị trừng phạt vì những lựa chọn của họ. Nó bị biến hóa thành một câu chuyện về sự nhẫn tâm của tôi đối với các bà mẹ ở nhà. Một số phóng viên đã xào nấu các câu chữ "công việc trà bánh" và "đứng bên người đàn ông của tôi như là Tammy Wynette" thành một lời trích dẫn như thể là tôi nói hai cụm từ này cùng một lúc vậy - chứ không phải là chúng cách nhau đến 51 ngày. Cuộc tranh luận về câu chữ này trở thành một món quà đối với các chiến lược gia Đảng Cộng hòa. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa chụp mũ tôi là "kẻ theo chủ nghĩa nữ quyền cực đoan” , "luật sư nữ quyền hiếu chiến” và thậm chí "nhà lãnh đạo tư tưởng của một Nội các Clinton - Clinton xúc tiến chương trình nữ quyền cực đoan".
Tôi đã nhận được hàng trăm bức thư về "công việc trà bánh". Những người ủng hộ đã cổ vũ và khen ngợi tôi vì đã bảo vệ nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho phụ nữ. Các lời chỉ trích cũng rất cay độc. Một lá thư ám chỉ tôi là kẻ phản Chúa. Một lá thư khác thì nói tôi đã báng bổ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ Mỹ. Tôi lo lắng về mức độ quan tâm của Chelsea và mức độ cảm nhận của con bé về vấn đề này. Cháu không còn là một c mới lên sáu nữa.
Một số cuộc tấn công dù là vu khống tôi là một phụ nữ xấu xa, một bà mẹ hay một người vợ tồi hoặc bóp méo lời nói hoặc vai trò của tôi đối với các vấn đề, đều có động cơ chính trị và được dựng lên để kiềm chế tôi. Một số công kích khác có lẽ phản ánh mức độ mà xã hội Hoa Kỳ vẫn còn đang điều chỉnh đối với vai trò đang thay đổi của phụ nữ. Tôi luôn giữ nguyên tắc của mình: Chấp nhận những lời chỉ trích gay gắt nhưng không được mang tính cá nhân. Nếu có sự thật hoặc giá trị trong các lời chỉ trích, hãy cố gắng học hỏi. Nếu không hãy để cho nó trôi đi. Nói thì luôn dễ hơn làm.
Trong lúc Bill nói về sự thay đổi xã hội, tôi thể hiện sự thay đổi đó. Tôi có ý kiến, sự quan tâm và công việc của riêng mình. Dù xấu hay tốt thì tôi vẫn rất thẳng thắn. Tôi đại diện cho một sự thay đổi căn bản trong cách người phụ nữ thực hiện vai trò của mình trong xã hội. Và nếu như chồng tôi thắng cử, tôi sẽ đảm nhiệm một vị trí với các nhiệm vụ không được giải thích rõ ràng nhưng hiệu quả thực hiện thì được mọi người đánh giá. Tôi sớm nhận thức rằng nhiều người vẫn giữ nguyên ý niệm về vai trò phù hợp của Phu nhân Tổng thống. Tôi được gọi là một "thử nghiệm Rorschach" đối với công chúng Hoa Kỳ. Đây là một cách thể hiện thích hợp của tôi đối với các phản ứng cực đoan khác nhau.
Cả những lời tâng bốc nịnh hót lẫn sự giận dữ hiểm ác dường như không che lấp được sự thật. Tôi bị chụp mũ, gán ghép vì những vai trò và sai lầm của mình, và cũng vì tôi đã được biến thành một biểu tượng cho người phụ nữ của thế hệ tôi. Đó là lý do tại sao mọi điều tôi nói hoặc làm - và thậm chí cái gì mà tôi mặc - cũng trở thành một chủ đề nóng cho tranh luận
Tóc và thời trang là những mối quan tâm đầu tiên của tôi. Trong hầu hết cuộc đời, tôi ít để ý đến quần áo của mình. Tôi thích đeo các ruy-băng cài đầu. Thật dễ sử dụng chúng và tôi không thể tưởng tượng rằng chúng lại gây ra một cái gì đó tốt xấu hoặc lạnh lùng về tôi đối với công chúng Mỹ. Nhưng trong suốt chiến dịch tranh cử, một số người bạn của tôi bắt đầu trau chuốt cho dung mạo của tôi. Họ đem đến cho tôi rất nhiều quần áo để mặc thử và họ bảo tôi rằng phải bỏ cái băng cài đầu đi.
Điều mà họ hiểu nhưng tôi không hiểu là diện mạo của một Đệ nhất Phu nhân rất quan trọng. Tôi không còn là đại diện cho riêng bản thân mình. Tôi đang đề nghị người dân Mỹ cho phép tôi đại diện họ trong một vai trò thể hiện mọi thứ từ vẻ đẹp quyến rũ đến tính hiền thục của một bà mẹ.
Người bạn tốt của tôi là Linda Bloodworth-Thomason đề nghị một người bạn của cô ấy ở Los Angeles, thợ uốn tóc Christophe Schattemen cắt tóc cho tôi. Cô ấy tin rằng nó sẽ cải thiện diện mạo của tôi. Tôi nghĩ ý tưởng này thật phiền toái. Tuy nhiên chẳng bao lâu tôi giống như một đứa trẻ trong một cửa hàng kẹo, ướm thử mọi kiểu tóc có thể: tóc dài, tóc ngắn, tóc bím, tóc búi vv. Việc này lại là một thế giới mới mẻ và hóa ra lại vui. Tuy nhiên, các thử nghiệm đa dạng của tôi cho thấy tôi không bao giờ kết lâu một kiểu tóc nào. Điều này cũng bộc lộ cá tính của tôi.
Lúc đầu trong chiến dịch tranh cử, tôi vượt qua các khó khăn phát sinh. Tôi là người đại diện chính của Bill trong suốt chặng đường tranh cử. Tôi muốn hỗ trợ cuộc vận động của anh ấy và gợi mở các ý tưởng của anh, nhưng chúng tôi đã học được một bài học từ câu nói của Bill "Mua một, tặng một" nên tôi cẩn trọng trong từng bước đi. Tôi đã xin nghỉ phép ở công ty luật của mình, rút khỏi tất cả các tổ chức từ thiện và ban điều hành doanh nghiệp mà tôi đã tham gia. Điều này đồng nghĩa với việc tôi rút khỏi Ban điều hành của Wal-Mart mà tôi đã tham gia được 6 năm theo lời mời của Sam Walton, người đã dạy tôi rất nhiều về môi trường doanh nghiệp và bí quyết thành công. Khi còn trong Ban điều hành, tôi đã làm chủ tịch một ủy ban xem xét các cách thức mà Wal-Mart có thể thân thiện hơn với môi trường trong các hoạt động của nó. Tôi phụ trách chương trình "Mua sắm Mỹ” giúp người dân làm việc và tạo công ăn việc làm trên khắp đất nước. Việc từ nhiệm khỏi Ban điều hành Wal-Mart và các tổ chức khác như Quỹ Bảo vệ Trẻ em làm cho tôi cảm thấy bị tổn thương và hụt hẫng. Tôi đã đi làm toàn thời gian trong thời gian kết hôn với Bill và đánh giá cao tính độc lập và sự khẳng định bản thân trong công việc. Bây giờ tôi chỉ còn trách nhiệm làm "Phu nhân", một trải nghiệm lạ lẫm đối với tôi.
Vị thế mới khiến tôi phải cam chịu một cái gì đó rất tầm thường: tôi đặt các văn phòng phẩm mới để trả lời cho tất cả các thư từ mà tôi nhận được trong cuộc tranh cử. Tôi chọn giấy màu kem có in tên Hillary Rodham Clinton ngay tiêu đề trang bằng mực màu xanh nước biển. Khi mở hộp, tôi thấy yêu cầu của mình đã bị thay đổi, thay vào đó tên in trên giấy tiêu đề là Hillary Clinton. Rõ ràng một ai đó trong số nhân viên của Bill đã quyết định rằng sẽ có lợi cho hình ảnh chính trị hơn khi bỏ đi từ "Rodham", như thể là cái tên đó không còn là một đặc điểm nhận dạng của tôi nữa. Tôi trả lại xấp giấy văn phòng phẩm và lại đặt một đợt giấy khác.
Sau khi Bill chiến thắng trong các vòng bầu cử ứng viên ở California, Ohio và New Jersey vào ngày 2 tháng 6 thì anh chắc chắn sẽ được đề cử chính thức. Tuy nhiên cuộc tranh cử của anh ấy vẫn không chắc chắn. Sau tất cả các việc tung tin tiêu cực trên thông tin đại chúng trong chiến dịch tranh cử, anh ấy đứng thứ ba trong các cuộc thăm dò sau Ross Perot và Tổng thống Bush. Anh ấy quyết định phải giới thiệu lại bản thân mình trước công chúng Mỹ và bắt đầu xuất hiện trên các show truyền hình có nhiều khán giả. Nhờ một lời khuyên của Mandy Grunwald, một nhà cố vấn chiến dịch tranh cử, anh ấy đã chơi kèn saxophone trên chương trình The Arsenio Hall Show. Ban tham mưu của Bill cũng thuyết phục tôi thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn nữa và đồng ý dành cho tạp chí People một bài tường thuật có hình Chelsea trên trang bìa. Tôi không nhiệt tình gì lắm nhưng cuối cùng bị thuyết phục bởi ý kiến cho rằng hầu hết người dân Mỹ thậm chí không biết rằng chúng tôi có một đứa con. Một mặt tôi hài lòng là chúng tôi đã bảo vệ Chelsea khỏi các phương tiện thông tin đại chúng và đã bảo vệ con bé trong mùa bầu cử dữ dội vừa qua. Mặt khác, tôi tin rằng thiên chức làm mẹ là công việc quan trọng nhất mà tôi đã đảm trách. Nếu người dân không biết điều đó, dĩ nhiên họ không thể hiểu được chúng tôi. Bài báo có tác dụng tốt nhưng nó nhắc tôi khẳng định lại quan điểm của tôi là Chelsea xứng đáng có được sự riêng tư mà theo tôi là rất quan trọng cho bất kỳ một trẻ em nào để phát triển và khám phá các lựa chọn của riêng mình trong đời. Do đó Bill và tôi đã xác lập một nguyên tắc: Chelsea ở cùng với chúng tôi như một thành viên gia đình - nghĩa là tham dự một sự kiện có Bill hoặc có tôi thì báo chí mới được phép đề cập đến cháu. Nhưng tôi không đồng ý có nhiều bài báo hay nhiều cuộc phỏng vấn có đề cập đến Chelsea. Đây là một trong những quyết định tốt nhất mà Bill và tôi đã thực hiện, và chúng tôi luôn tuân thủ nguyên tắc này trong suốt 8 năm sau đó. Tôi cũng rất cảm kích là trừ một vài ngoại lệ, báo chí đã tôn trọng sự riêng tư và quyền được độc lập của cháu. Miễn là Chelsea không thu hút sự quan tâm của báo giới hoặc không làm gì gây sự chú ý của công chúng thì con bé sẽ được quyền bất khả xâm phạm.
Vào tháng 7 năm 1992, Đảng Dân chủ tố chức đại hội đảng ở thành phố New York để chính thức đề cử Bill và người đứng liên danh, Thượng nghị sĩ Al Gore của bang Tennessee. New York là một lựa chọn tuyệt vời. Mặc dù chúng tôi không tham dự việc lựa chọn nó như một thành phố chủ nhà, nhưng New York là một trong những thành phố yêu thích nhất của Bill và tôi trên thế giới và chúng tôi rất vui sướng khi đây là nơi Bill đã được đề cử làm ứng viên Tổng thống. Bill đã chọn Al sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với Warren Christopher, cựu Thứ trưởng Ngoại giao và một luật sư nổi tiếng từ California. Tôi đã gặp Al và phu nhân của anh ấy là Tipper trong các hoạt động chính trị những năm 1980; nhưng cả Bill và tôi không biết rõ lắm về họ. Một số nhà quan sát chính trị ngạc nhiên là Bill đã chọn một người liên danh giống mình. Họ là những người miền Nam từ các bang láng giềng. Họ trạc tuổi nhau, có cùng tôn giáo và được xem là những nhà nghiên cứu chuyên về chính sách quản lý công. Tuy nhiên Bill kính trọng thành tích của Al về các dịch vụ công và tin tưởng là anh ấy sẽ tiếp thêm sức mạnh cho hậu phương của Bill.
Nhiều người nói với tôi rằng bức tranh gồm Al, Tipper, con cái của họ, Bill, Chelsea và tôi - tất cả đứng bên cổng của Dinh Thống đốc vào ngày Bill công bố lựa chọn của mình - đã hoàn toàn tạo được một sức mạnh cho chiến dịch tranh cử và thể hiện một tiềm năng về sự thay đổi. Tôi nghĩ điều tôi cảm nhận vào ngày hôm ấy đã phản ánh tình cảm của nhiều người dân Mỹ. Đã đến lượt thế hệ mới nắm quyền lãnh đạo đất nước và người dân thể hiện một tinh thần lạc quan với viễn cảnh về một định hướng mới cho đất nước. Vào đêm cuối cùng của đại hội, chúng tôi rất hạnh phúc và phấn khởi khi ôm nhau khiêu vũ trên sân khấu.
Sáng hôm sau, vào ngày 17 tháng 7, chúng tôi bắt đầu một loạt chuyến du hành kỳ thú bằng xe buýt. Tôi đã đặt tên cho chúng là "Những cuộc Phiêu lưu Tuyệt vời của Bill, Al, Hillary và Tipper".
Các chuyến đi vận động bằng xe buýt là đồng sản phẩm trí tuệ của David Wilhelm, giám đốc chiến dịch và Susan Thomases, mà tôi và Bill quen biết hơn 20 năm qua. Cô là một người bạn tốt bụng và là một luật sư cứng rắn. Cô ấy hiểu rằng việc lập kế hoạch vận động tốt phải giới thiệu được về ứng cử viên, phải minh họa được các mối quan tâm và kế hoạch của ứng cử viên để cử tri hiểu được trọng tâm và lập trường của ứng cử viên. Susan đi cùng với chồng và con trai đến thành phố Little Rock để giám sát việc lập kế hoạch chiến dịch tranh cử cho cuộc tổng tuyển cử. Cô và David muốn tạo ra sự sôi nổi và kịch tính cho đại hội, và nghĩ rằng một chuyến vận động bằng xe buýt đi qua các tiểu bang sẽ thể hiện sinh động mối quan hệ đối tác cùng sự thay đổi mang tính chất thế hệ mà Bill và Al đại diện. Thông điệp của họ là: Vì nhân dân trước tiên.
Việc cùng đi bằng xe buýt cũng giúp cho chúng tôi có cơ hội hiểu rõ nhau hơn. Bill, Al, Tipper và tôi đã dành hàng giờ nói chuyện, ăn uống, vẫy tay chào bên cửa sổ và dừng đoàn xe buýt để tiến hành các cuộc mít tinh và phát biểu. Thoải mái và thư giãn, Al rất nhạy với những câu nói đùa hoặc những lời nhận xét hàm ý. Chỉ cần anh ấy biết rằng có một nhóm người dân đang đợi ở ven đường phía trước thì bất kể là chúng tôi đang ở đâu hoặc bất kể lúc đó là giờ nào cũng sẽ thúc giục Bill kêu to "Dừng xe buýt". Al thường chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ phía trước, nếu thấy một người đang vẫy tay hoặc đang nhìn là hét to: "Tôi cảm thấy sắp có một chỗ dừng chân rồi". Khi chúng tôi gặp hàng trăm người ủng hộ đang kiên nhẫn đợi chúng tôi vào lúc 2 giờ sáng khi chúng tôi ghé qua Erie, Pennsylvania thì Al thực hiện một bài diễn thuyết nồng nhiệt: "Chúng ta cần cắt giảm những thứ đang lên như chi phí chăm sóc y tế, lãi suất và cần làm tăng những gì đang sút giảm như việc làm và niềm hy vọng. Chúng ta phải thay đổi hướng đi". Sau đó anh ấy tuyên bố với ba chúng tôi lúc đó đang buồn ngủ díp mắt: "Tôi nghĩ có hai người đang uống cà phê thâu đêm ở góc ngã tư gần đây. Chúng ta đến gặp họ." Và thế là Bill lại tiếp tục theo lời đề nghị đó.
Tipper và tôi nói chuyện hàng giờ về các kinh nghiệm của mình trong vai trò là vợ của các chính khách, nói về con cái và về những gì mà chúng tôi hy vọng Bill và Al có thể làm để giúp giải quyết các vấn đề của đất nước. Tipper trở nên thích tranh luận hơn khi cô nói về việc chống lại các ca khúc khiêu dâm hoặc cổ xúy bạo lực vào năm 1985. Tôi đánh giá cao việc cô sẵn sàng tỏ rõ lập trường của mình và thông cảm với sự chỉ trích mà cô ấy đương đầu. Tôi cũng ngưỡng mộ việc cô làm đại diện cho những người vô gia cư và bệnh nhân tâm thần. Là một nhà nhiếp ảnh tài năng, cô giúp ghi lại chiến dịch tranh cử bằng cái máy chụp hình cực bền của mình.
Một buổi tối kia ở Thung lũng sông Ohio, chúng tôi ghé lại trang trại của Gene Branstool để thưởng thức món thịt nướng và gặp gỡ các nông dân địa phương. Khi chúng tôi chuẩn bị lên đường, Branstool nói là có một số người tụ tập ở một ngã tư cách đây vài dặm và chúng ta nên nghỉ lại. Đó là một buổi tối mùa hè tuyệt vời và người dân đang ngồi trên các máy kéo vẫy cờ trong khi bọn trẻ đứng ở bên cánh đồng cầm các biển hiệu đón chào chúng tôi. Người hùng của tôi nói: "Các bạn hãy cho chúng tôi 8 phút và chúng tôi sẽ dành cho các bạn 8 năm !”. Dưới ánh trăng, chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy hàng ngàn người đứng kín cả cánh đồng rộng lớn.
Từ Vandalia, Illinois đến St. Louis, Missouri rồi đến Corsicana, Texas, tiếp đến Valdosta, bang Georgia, chúng tôi được gặp nhiều đám đông người dân giống như thế với những cảm xúc dâng trào mà tôi chưa bao giờ thở bất cứ nơi đâu khác trong hoạt động chính trị.
Quay về Little Rock, tầng lầu ba rộng lớn của Tòa nhà Công báo Arkansas cũ được dùng làm tổng hành dinh cho chiến dịch tranh cử của Clinton. James Carvine nhấn mạnh rằng những người từ các bộ phận của chiến dịch bao gồm báo chí, chính trị và nghiên cứu cùng nhau làm việc trong một khoảng không gian rộng lớn. Đây là một cách làm thông minh và hiệu quả để xóa bỏ hệ thống thứ bậc, khuyến khích dòng thông tin và ý tưởng tự do. Hàng ngày từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối, Carville và Stephanopoulos tố chức các cuộc họp, được gán cho cái tên "phòng tác chiến", để đánh giá các tin tức trong ngày và định hình các câu trả lời đối với các bài phóng sự và các cuộc tấn công từ chiến dịch tranh cử của Bush. Ý tưởng đưa ra là phải trả lời đối với mọi cuộc tấn công vào Bill. Việc thiết lập phòng tác chiến cho phép Carville, Stephanopoulos và lực lượng "phản ứng nhanh" có thể phản ứng tức thời để điều chỉnh các bóp méo xuyên tạc được phe đối lập dựng lên và có thể hoạt động một cách linh hoạt giúp đưa ra thông điệp trong suốt ngày.
Một tối nọ, điện thoại của Patti Solis reo lên phía sau trụ sở ở Little Rock. Một phụ tá chiến dịch là Steve Rabinowitz lao đến nhấc ống nghe và không biết vì lý do đặc biệt nào lại buột miệng thốt ra "Hillaryland !". Anh ấy bối rối khi nghe giọng của tôi trên đường dây điện thoại nhưng tôi nghĩ anh ấy đã sáng tạo ra một biệt danh tuyệt vời. Patti cũng thích nó và đính một cái biển hiệu trên tường đằng sau bàn của cô ấy "Hillaryland". Cái tên này thành danh luôn từ đó.
Càng ngày, niềm tin của tôi là Bill sẽ thắng cử càng tăng. Người dân Mỹ muốn có chế độ lãnh đạo mới. Mười hai năm cầm quyền của Đảng Cộng hòa trong Nhà Trắng làm cho nợ quốc gia tăng 4 lần, tạo ra sự thâm hụt ngân sách ngày càng tăng và dẫn đến một nền kinh tế trì t trong đó có quá nhiều người không thể kiếm hoặc giữ được một công việc tương xứng hoặc lo được bảo hiểm y tế cho bản thân và con cái. Tổng thống Bush đã hai lần phủ quyết Dự luật Nghỉ phép Điều trị và Việc gia đình và đã tước đoạt nữ quyền. Mặc dù ủng hộ kế hoạch hóa gia đình khi ông ấy làm Đại sứ tại Liên hiệp quốc và Nghị sĩ của Texas, Bush lại là người chống nó khi trở thành Phó Tổng thống và Tổng thống. Với tình trạng tỉ lệ tội phạm, thất nghiệp, sự lệ thuộc vào phúc lợi và người vô gia cư ngày càng tăng, chính quyền Bush dường như ngày càng xa rời dân chúng.
Đối với Bill và tôi, không có vấn đề gì đáng lo lắng hơn tình trạng khủng hoảng về chăm sóc y tế ở Hoa Kỳ. Ở mọi nơi mà chúng tôi đến, chúng tôi nghe rất nhiều câu chuyện về tính không công bằng của hệ thống chăm sóc y tế. Ngày càng có nhiều công dân bị tước quyền được chăm sóc sức khỏe cần thiết bởi vì họ không được bảo hiểm và không có khả năng chi trả các hóa đơn điều trị.
Ở New Hampshire, Bill và tôi đã gặp Ronnie và Rhonda Machos có con trai là Ronnie Jr. sinh ra đã bị bệnh tim nặng. Khi Ronnie mất việc làm và mất bảo hiểm y tế, anh ấy phải xoay xở với các hóa đơn điều trị quá tốn kém để cung cấp điều trị cần thiết cho con trai mình. Gia đình Gore đã kể cho tôi về gia đình Philpott ở Georgia có con trai 7 tuổi là Brett nằm chung phòng điều trị với cậu con trai Albert Gore sau vụ tai nạn ô tô khủng khiếp. Al và Tipper thường nói về gánh nặng tài chính quá lớn mà gia đình Philpott phải đối mặt do bệnh tật của Brett.
Khi xem xét từng câu chuyện như vậy, chúng tôi biết rằng cứ mỗi trường hợp thương tâm mà chúng tôi được nghe hoặc chứng kiến thì có cả hơn ngàn trường hợp khác không được kể ra.
Tôi không nghĩ rằng Bill hy vọng việc cải cách y tế trở thành một con át chủ bài trong chiến dịch tranh cử của mình. Điều quan trọng hơn hết thể hiện trong câu khẩu hiệu nổi tiếng của James Carville ở phòng tác chiến: "Chính là nền kinh tế, đồ ngốc ạ”. Tuy nhiên càng nghiên cứu vấn đề này, Bill càng hiểu rõ rằng việc cải cách bảo hiểm y tế và kềm hãm sự tăng vọt của giá cả là rất cần thiết cho việc điều chỉnh nền kinh tế và chăm lo cho các nhu cầu điều trị khẩn thiết của người dân. "Đừng quên vấn đề y tế”, Bill đã dặn đi dặn lại nhân viên mình như thế. Họ bắt đấu thu thập dữ liệu, bao gồm cả bài nghiên cứu của Ira Magaziner, một nhân vật quyền lực và có nhiều ảnh hưởng mà tôi được nghe lần đầu vào năm 1969, khi chúng tôi được giới thiệu trên tạp chí Life sau khi phát biểu khai mạc tại trường đại học. Bill đã gặp Ira vào cùng năm đó khi Ira đến Trường Đại học Oxford theo chương trình học bổng Rhodes.
Bill, Ira và một nhóm chuyên gia tư vấn bắt đầu phát triển các ý tưởng làm thế nào xử lý vấn đề y tế sau cuộc bầu cử. Bill đã xem trước các kế hoạch này trong cuốn sách về tranh cử có tựa đề là Putting People First (Vì nhân dân trước tiên) và trong một bài diễn văn anh thực hiện vào tháng Chín đã nêu ra các mục tiêu để xử lý cuộc khủng hoảng về chăm sóc y tế. Các cải cách mà anh phác họa bao gồm kiểm soát các chi phí y tế, giảm bớt công việc giấy tờ và tình trạng quan liêu trong ngành bảo hiểm, kê toa thuốc với giá có thể chấp nhận hơn và quan trọng nhất là đảm bảo rằng mọi người dân Mỹ đều được bảo hiểm y tế. Chúng tôi biết rằng việc nỗ lực điều chỉnh hệ thống y tế sẽ là một thách thức chính trị to lớn. Nhưng chúng tôi tin là nếu các cử tri chọn Bill Clinton vào ngày 3 tháng 11 thì điều đó có nghĩa rằng thay đối là điều mà họ mong muốn.