Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1998 đã gây ra một bất ngờ nữa khi Newt Gingrich từ bỏ vị trí Chủ tịch Hạ viện và tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức khỏi Quốc hội. Lúc đầu, sự việc này nghe có vẻ như là phần thắng đang nghiêng về phía chúng tôi và việc luận tội xem chừng đã thất bại. Bob Livingston của bang Louisiana đã được bố trí vào chỗ của Gingrich. Thế nhưng, Tom DeLay, lãnh đạo nhóm đa số và là người nắm quyền lực thật sự trong các cuộc họp kín của Đảng Cộng hòa, đã gây áp lực buộc các thành viên Cộng hòa chống lại bất kỳ sự thỏa hiệp hợp tình hợp lý nào, ví dụ như bỏ phiếu khiển trách chẳng hạn. Khi Erskine Bowles hỏi Gingrich tại sao Đảng Cộng hòa phải theo đuổi một tiến trình không đúng đắn mà cũng chẳng hợp hiến, Gingrich trả lời : "Vì chúng tôi có thể làm được điều đó".
Việc thẩm tra vụ Whitewatcr và vụ kiện tụng của Paula Jones mà ban đầu đã vẽ ra viễn cảnh của cuộc đối đầu nảy lửa về Hiến pháp nay đã chìm vào quên lãng. Những luật sư của Jones đã yêu cầu Thẩm phán Wright bác bỏ đơn kiện và ngụ ý rằng bà ta sẵn sàng dàn xếp vụ kiện một cách êm thắm với mức giá một triệu đô la. Rõ ràng, luật pháp đã ủng hộ Bill, thế nhưng trong ba thành viên hội đồng thẩm phán của Tòa phúc thẩm thứ tám có tới hai thành viên bảo thủ thuộc Đảng Cộng hòa. Chính hai vị thẩm phán này trước đó chỉ dựa trên cơ sở của những bài báo để quyết định loại bỏ Thẩm phán Henry Woods ra khỏi vụ kiện liên quan đến vụ Whitewater. Bill lo ngại rằng sự kiện này sẽ tạo ra tốt cho những chính trị gia của phe đối lập lại một lần nữa bóp méo luật pháp và các tiền lệ và rồi các thẩm phán sẽ quyết định đưa vụ này ra xét xử. Ngày 13 tháng 11, luật sư ủy nhiệm của Bill, Bob Bennett cho Bill biết rằng bà Jones đã đồng ý bãi bỏ vụ kiện với giá 850.000 đô la. Mặc dù không thích dàn xếp cho một vụ kiện mà mình đã thắng và dù rằng Thẩm phán Wright đã không đưa ra được một cơ sở pháp lý và chứng cớ thực tế nào, Bill tin rằng không còn cách nào an toàn hơn để kết thúc câu chuyện một cách êm thắm. Anh đã không đưa ra lời xin lỗi nào và cũng không chấp nhận việc làm của mình là sai trái. Bennett chỉ cho biết một cách đơn giản "Tổng thống đã quyết định ông ấy sẽ không tốn thêm thời gian cho vụ việc này nữa". Và thế là vụ việc kết thúc.
Hàng tuần liền tôi đã trông chờ Ủy ban Tư pháp Hạ viện phát hành một số lượng lớn lệnh triệu tập nhiều người ra hầu tòa vì việc này đã từng được thực hiện trong vụ luận tội Tổng thống Nixon năm 1974. Trách nhiệm của Ủy ban là tự tiến hành điều tra, không nghe theo những lý lẽ của các luật sư độc lập. Tôi rất phẫn nộ khi Hyde thông báo rằng Ủy ban sẽ gọi Kenneth Starr ra làm nhân chứng quan trọng nhất. Starr đã nói suốt 2 tiếng đồng hồ không ngơi nghỉ và đã trả lời các câu hỏi của Ủy ban suốt buổi chiều hôm đó. Cuối cùng gần 9 giờ tối thì David Kendall đã có cơ hội kiểm tra chéo Starr. Các đảng viên Cộng hòa chiếm đa số trong Ủy ban đã buộc David phải làm việc trong một khoảng thời gian hạn chế đến mức phi thực tế. David bắt đầu bài bình luận của mình bằng một bản tóm tắt diễn biến sự việc.
"Công việc của tôi là phản biện lời khai dài suốt 2 tiếng đồng hồ không ngừng của luật sư độc lập, cũng như phản biện một cuộc điều tra kéo dài trong 4 năm và hao tốn đến 45 triệu đô la của vị luật sư này. Cuộc điều tra này gồm có ít nhất 28 luật sư, 78 nhân viên đặc nhiệm FBI và một con số chưa được công bố những thanh tra tư. Một cuộc điều tra đã tạo ra 114.532 mẩu tin trên báo và 2.513 phút phát hình của các đài hình, chưa kể đến những đợt phát sóng 24/24 về vụ xì-căng-đan trên truyền hình cáp; 445 trang danh sách những người liên đới; 50.000 trang tài liệu ghi nhận các lời khai kín trước bồi thẩm đoàn; 4 giờ băng ghi hình về việc lấy lời khai; 22 giờ băng ghi tiếng, mà một vài đoạn trong số đó được thu thập một cách trái phép, lời khai của rất nhiều nhân chứng, mà không một ai trong số đó được kiểm tra chéo.
"Và tôi có 30 phút để làm việc này."
Starr phải thừa nhận rằng ông ta đã không tự kiểm tra một nhân chứng nào trước bồi thẩm đoàn. Ông ta không có gì để đưa vào hồ sơ tham chiếu của mình. Nhưng ông ấy đã tuyên bố rằng cuối cùng OIC đã làm rõ rằng Tổng thống không có liên quan đến những sai phạm trong những cuộc điều tra gọi là Travelgate và Filegate
Barney Frank, một Nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ của bang Massachusetts, rất sắc sảo và tài giỏi, đã hỏi Starr rằng ông ta đã đi đến quyết định này vào lúc nào.
"Vài tháng trước", Starr trả lời.
"Tại sao trước thời điểm cuộc bầu cử ông hoãn lại việc công bố nó trong khi ông đã gởi một tham chiếu với nhiều điểm bất lợi cho Tổng thống và chỉ đến bây giờ... mới đưa chúng tôi lời giải tội cho Tổng thống, nhiều tuần sau cuộc bầu cử?”.
Ngài luật sư độc lập đã không có câu trả lời.
Ngày hôm sau, Sam Dash, một cố vấn về đạo đức của OIC, đã từ chức vì đã không để ý đến những sai sót trước đây của ông Starr và thuộc hạ. Dashng là nhà tư vấn pháp luật dành cho Ủy ban Watergate của Thượng viện vào năm 1973 và 1974, đã viết một lá thư tố cáo Starr về việc lạm dụng chức quyền, tự ý xen vào tiến trình luận tội Tổng thống một cách bất hợp pháp. Nhưng việc ông ấy từ chức đã không mang lại kết quả rõ rệt gì cho vụ kiện. Tương tự là số phận lá thư ngỏ của 400 sử gia - bao gồm những người đồng ủng hộ như Arthur M. Schlesinger, Jr. của trường Đại học New York; Sean Wilentz của Đại học Princeton và C. Vann Woodward của Đại học Yale - công khai yêu cầu Quốc hội bác bỏ việc luận tội vì nó không phù hợp với những chuẩn mực Hiến pháp. Tuyên bố này của họ nên được giảng dạy trong những lớp học về bổn phận và quyền công dân:
“Là những nhà sử học và cũng là những công dân của nước Mỹ, chúng tôi lấy làm tiếc về cuộc vận động nhằm luận tội Tổng thống trong lúc này. Chúng tôi tin rằng nếu cuộc vận động này thành công thì nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự Hiến pháp của chúng ta.
Theo Hiến pháp của chúng ta, việc luận tội Tổng thống là một biện pháp hết sức quan trọng và nghiêm túc. Những người lập ra Hiến pháp (Framers) rõ ràng chỉ dành biện pháp này cho những trọng tội và những hành vi sai phạm nghiêm trọng trong quá trình thực thi quyền hành pháp. Nếu không, theo James Madison, sự luận tội vì bất cứ sai phạm nào khác cũng sẽ dẫn đến việc Tổng thống chỉ làm việc “nhằm làm hài lòng Thượng viện”. Cách làm đó sẽ phá vỡ hệ thống kiểm tra và cân bằng, mà đây chính là biện pháp bảo vệ chính yếu để chóng lại việc lạm dụng quyền lực công.
Mặc dù chúng tôi không tha thứ cho những hành vi cá nhân của Tổng thống Clinton hay ý định đánh lừa mọi người của ông ấy, nhưng theo chúng tôi những lời cáo buộc hiện chỉ dựa vào những gì mà Những người lập ra Hiến pháp cho là những nguyên cớ cho việc luận tội. Việc biểu quyết của Hạ viện nhằm thực hiện một cuộc thẩm vấn mở với Tổng thống, thực ất chỉ là một hình thức nhằm tìm kiếm bất kỳ vi phạm nào để cách chức Tổng thống.
Lý thuyết luận tội ẩn đằng sau những nỗ lực này là chưa từng thấy trong lịch sử. Những thủ tục pháp lý mới này là điềm xấu cho tương lai của các thể chế chính trị. Nếu cứ tiếp tục thực hiện, chức vị Tổng thống sẽ không còn như xưa và quyền lực và quyền lực cũng bị giảm bớt, và sẽ phụ thuộc vào sự quyết định đột ngột và thất thường của Quốc hội, điều chưa từng xảy ra trước đây. Chức vị Tổng thống, mà về phương diện lịch sử chính là trung tâm lãnh đạo trong suốt những thời kỳ gay go và quyết liệt của quốc gia, trong tương lai sẽ bị phá hỏng khi gặp những thách thức không tránh khỏi.
Chúng ta đang phải đối mặt với sự chọn lựa giữa việc bảo tồn hay phá hoại Hiến pháp. Chúng ta có muốn thiết lập nên một tiền lệ cho việc quấy rối các Tổng thống trong tương lai? Liệu chúng ta có muốn trói buộc chính phủ bằng việc điều tra và kết tội triền miên và cay nghiệt? Hay chúng ta muốn bảo vệ Hiến pháp và trở về với những việc cần làm cho công chúng?
Chúng tôi kêu gọi các bạn, dù bạn thuộc Đảng Cộng hòa, Dân chủ hay Độc lập, hãy phản đối lý thuyết luận tội mới đầy nguy hiểm này, và hãy yêu cầu phục hồi sự vận hành bình thường của chính phủ liên bang.”
Vào đầu tháng 12, cha của Phó Tổng thống, ông Albert Gore đã qua đời tại tư gia ở Carthage bang Tennessee ở tuổi 91. Vào ngày 8 tháng 12, Bill và tôi đáp chuyến bay đến Nashville để dự lễ an táng tại War Memorial Auditorium. Al Gore đứng cạnh chiếc quan tài phủ cờ quốc gia và đọc một bài điếu văn rất hay để ca tụng cha của mình, từng là một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ rất can đảm và mạnh mẽ, ông ấy đã đánh mất ghế nghị sĩ vào năm 1970 vì đã chống đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Al nói với những lời xuất từ con tim của mình, pha chút hài hước và đồng cảm. Đó là bài diễn văn hay nhất của Al mà tôi đã từng nghe.
Người ta đã đoán già đoán non về mức độ ảnh hưởng của vụ xì-căng-đan luận tội đối với mối quan hệ giữa chúng tôi và gia đình Gore. Vào tháng Tám, cũng giống như những người khác, Al và Tipper cũng bị sốc khi Bill thừa nhận những việc làm sai trái của mình, nhưng cả hai đã giúp đỡ chúng tôi vượt qua thời khắc khó khăn đó, cả trong chuyện cá nhân lẫn chuyện chính trị. Bất cứ khi nào chúng tôi cần, họ đều có mặt. Đôi khi chúng tôi nhờ, nhưng đôi lúc họ chủ động giúp đỡ khi cảm thấy chúng tôi cần. Bắt đầu vào ngày 11 tháng 12 và kết thúc khá sớm vào ngày 12, Ủy ban Tư pháp biểu quyết giữa các đảng phái chính trị để giao 4 chương luận tội cho cuộc họp toàn thể Hạ viện để tiếp tục biểu quyết. Chẳng có gì ngạc nhiên cả, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục nuôi hy vọng sẽ giành được sự ủng hộ đủ để thỏa hiệp một biện pháp khiển trách.
Trong khi Quốc hội tiếp tục theo đuổi việc luận tội Tổng thống, Bill vẫn tập trung vào bổn phận của mình và tôi cũng vậy. Tôi cảm nhận một cách mạnh mẽ rằng, là một Đệ nhất Phu nhân, tôi phải không ngừng thực hiện trách nhiệm và bổn phận của mình, kể cả một chuyến đi cùng các thành viên Quốc hội đến Puerto Rico, Cộng hòa Dominica và Haiti để cứu trợ và an ủi những người dân bị nạn sau cơn bão Georges. Việc giữ lịch làm việc theo thường lệ giúp tôi phấn chấn và tiếp tục đi tới. Tôi chưa bao giờ tự cho phép mình có một cuộc sống xa hoa chỉ với việc leo lên giường trùm chăn kín đầu.
Từ ngày 12 đến 1 5 tháng 12, Bill và tôi đã đến thăm Trung Đông. Chúng tôi đi cùng với Thủ tướng Benjamin "Bibi" Netanyahu và vợ của ông ta, Sara, tới Masada, một miền đất tượng trưng cho cuộc kháng chiến và tinh thần sẵn sàng tử vì đạo của người Do Thái. Mười bảy năm về trước, đến đây lần đầu tiên khi chúng tôi là thành viên của chuyến đi về vùng Đất Thánh dẫn đầu bởi Tiến sĩ WOVaught, vị cố vấn tinh thần của Hội thánh Baptist miền Nam của Bill. Ông đã qua đời từ dạo ấy và tôi thường ước rằng ông ấy sẽ luôn ở bên cạnh để khuyên bảo và giúp đỡ Bill đương đầu với những khó khăn thử thách. Tôi hết sức trân trọng 3 vị mục sư đã có những hướng dẫn hết sức tận tình cho Bill, đó là ngài Phil Wogaman, ngài Tony Campolo và ngài Gordon MacDonald. Họ đã thường xuyên gặp gỡ và cùng cầu nguyện với Bill khi anh kiếm tìm sự đồng cảm, thấu hiểu và tha thứ.
Trong lần viếng thăm đó, chúng tôi đã đến Bethlehem; lần này chúng tôi quay lại đây cùng với ông Yasir Arafat để thăm Nhà thờ Nativity, nơi chúng tôi cùng hát những bài thánh ca Giáng sinh với những người Thiên Chúa giáo Palestine vẫn theo đuổi hy vọng về tiến trình hòa bình. Bill có kế hoạch đọc một bài diễn văn thật mới lạ tại Hội đồng Quốc gia Palesine và tổ chức các buổi họp khác với họ, sau đó chúng tôi đáp xuống sân bay Quốc tế Gaza, một phi trường mới toanh. Đây là một sự kiện quan trọng bởi vì việc mở cửa sân bay là một trong những nguyên lý của Hiệp ước Hòa bình Wye gần đây mà Bill là người trung gian hòa giải giữa Arafat và Netanyahu, nhằm nâng cao cơ hội phát triển kinh tế cho người Palestine.
Mặc dù Trung Đông đã có một bức tranh xán lạn vào thời điểm đó, Bill vẫn theo dõi rất sát sao sự phản kháng của Saddam Hussein, người đã không đồng ý cho lực lượng vũ trang Liên hiệp quốc tiếp tục thanh tra tại Iraq. Theo quan điểm chính trị, đây là thời điểm tồi tệ nhất để đáp lại Hussein bằng quân sự. Trong khi cuộc biểu quyết cho việc luận tội đang dần dần nở rộ, bất cứ hành động nào của Tổng thống cũng có thể được xem là cố ý làm xao nhãng hoặc làm trì trệ Quốc hội. Mặt khác nếu Bill hoãn lại việc bỏ bom Iraq, anh ấy có thể bị buộc tội hy sinh an ninh quốc gia để trốn tránh sức ép chính trị. Tháng chay Ramadan của người Hòi giáo sắp đ̓cơ hội tấn công Iraq sẽ bị đóng lại. Vào ngày l6 tháng 12, các cố vấn quân sự và tình báo cho anh ấy biết rằng thời cơ đã đến. Bill đã ra lệnh tấn công Iraq để triệt hạ những địa điểm sản xuất vũ khí giết người hàng loạt và những mục tiêu quân sự khác
Lãnh đạo Đảng Cộng hòa, những người công khai theo chủ nghĩa hoài nghi, đã dời cuộc tranh luận về việc luận tội khi cuộc dội bom bắt đầu. Nghị sĩ Đảng Cộng hòa, Joel Hefley phát biểu "Quyết định của Clinton về việc đánh bom Iraq là việc lạm dụng lực lượng quân đội cho mục đích cá nhân một cách đáng hổ thẹn". Trent Lott, Thượng nghị sĩ cầm đầu đa số của Đảng Cộng hòa đã chống lại sự phán đoán của Tổng thống một cách công khai. "Cả thời điểm lẫn chính sách đều đáng nghi ngờ," ông ta nói về những hành động quân sự. Lott đã phải rút lại lời phát biểu của mình vì nó được diễn dịch như là một ám chỉ rằng bè phái chính trị quan trọng hơn an ninh quốc gia trong Quốc hội này.
Lãnh đạo Hạ viện nhất định bắt buộc thực hiện cuộc biểu quyết về việc luận tội Tổng thống trong phiên họp cuối cùng của nhiệm kỳ, trước khi đa số của Đảng Cộng hòa bị giảm mất 11 thành viên khi nhiệm kỳ mới bắt đầu vào tháng 1. Vào ngày 18 tháng 12, khi bom đổ xuống Iraq, cuộc tranh luận về việc luận tội Tổng thống bắt đầu. Tôi đã cố gắng kiềm chế không thực hiện những lời phát biểu trực tiếp trước công chúng trong vòng vài tháng, nhưng buổi sáng hôm đó tôi đã nói với một nhóm phóng viên bên ngoài Nhà Trắng: "Tôi nghĩ rằng cũng giống tôi, đại đa số người Mỹ tán thành và tự hào về công việc mà Tổng. thống đang làm cho đất nước của chúng ta. Và tôi nghĩ rằng trong mùa lễ này, khi chúng ta ăn mừng lễ Giáng sinh, lễ Chanukah và Ramadan - và trong thời điểm dành cho sự suy ngẫm và hòa giải. giữa mọi người này - chúng ta buộc phải kết thúc sự chia rẽ vì nếu hợp lực lại, chúng ta có thể làm nhiều thứ với nhau h
Dick Gephardt yêu cầu tôi dự Buổi họp kín của các thành viên Dân chủ Hạ viện tại Điện Capitol ngay trước khi những cuộc biểu quyết diễn ra theo lịch về các điều khoản của việc luận tội. Đứng trước các đảng viên Đảng Dân chủ vào buổi sáng hôm sau, tôi đã cảm ơn tất cả những ai đã ủng hộ cho Hiến pháp, cho Tổng thống cũng là người lãnh đạo đảng, chồng tôi.
Tôi nói: "Có thể các bạn đã rất tức giận Bill Clinton, đương nhiên tôi cũng không bằng lòng với những gì chồng tôi đã làm. Nhưng luận tội không phải là cách giải quyết. Chúng ta đang bị lâm nguy nếu không tập trung vào những việc thật sự quan trọng hơn" . Tôi đã nhắc nhở họ rằng chúng ta là những công dân Mỹ đang sống tuân thủ theo luật pháp và chúng ta có trách nhiệm làm cho bộ máy nhà nước vận hành theo đúng Hiến pháp. Việc luận tội này là một phần của cuộc chiến tranh chính trị tiến hành bởi những người quyết tâm phá hỏng các chương trình của Tổng thống về kinh tế, giáo dục, an ninh xã hội, chăm sóc y tế, môi trường và tiến trình tìm kiếm hòa bình ở Bắc Ireland, Balkan và khu vực Trung Đông - tất cả những thứ mà chúng ta, những đảng viên Dân chủ đang tranh đấu. Chúng ta không thể để điều đó xảy ra được. Và dù cho cuộc biểu quyết diễn ra như thế nào đi chăng nữa thì Bill Clinton vẫn sẽ không từ chức.
Chúng tôi biết rằng những nỗ lực cuối cùng để tránh việc luận tội sẽ thất bại. Bước ra khỏi những dãy hành lang bằng đá cẩm thạch đã từng chứng kiến rất nhiều về lịch sử nước Mỹ, tôi buồn cho đất nước của mình vì hệ thống luật pháp đã bị lạm dụng, chung quy chỉ vì tham vọng lật đổ Chính quyền thông qua Quốc hội. Khi còn là một sinh viên mới tốt nghiệp trường luật, tôi đã nghiên cứu vụ luận tội vì động cơ chính trị đối với Tổng thống Andrew Johnson. Khi còn là nhân viên của Quốc hội tham gia điều tra Tổng thống Richard Nixon tôi biết chúng tôi làm việc cực nhọc như thế nào để đảm bảo việc luận tội được công bằng và phải được thực hiện theo đúng Hiến pháp.
Sự kiện quan trọng này gần như bị nhấn chìm bởi một màn kịch kỳ quái ngay trong phòng họp Hạ viện. Đêm trước khi cuộc biểu quyết bắt đầu, Bob Livingston, người được tiến cử làm Chủ tịch Hạ viện, bị vạch trần là một kẻ ngoại tình. Vào sáng thứ Bảy, khi Livingston đứng trước các đồng nghiệp trong căn phòng chính của Điện Capitol, mọi người đã biết ông ta thừa nhận rằng đã “lầm lạc" trong hôn nhân của mình. Khi ông ta yêu cầu Tổng thống từ chức, mọi người đã cật vấn và la ó giận dữ. Một lúc sau, ông ta làm mọi người sững sờ khi tuyên bố từ chức. Thêm một nạn nhân ngoài ý muốn của chiến dịch phát động từ chính đảng phái của mình - một chiến dịch tự hủy hoại mình. Cũng giống như Gingrich, ông ta rời khỏi Quốc hội.
Hai điều khoản bị bác bỏ, hai được công nhận. Bill bị luận tội về việc khai man trước bồi thẩm đoàn và tội cản trở công lý. Bây giờ anh ấy sẽ bị hầu tòa tại Thượng viện Hoa Kỳ.
Sau cuộc biểu quyết đề tiến hành việc luận tội, đoàn đại biểu Đảng Dân chủ đã đi xe buýt từ Điện Capitol đến Nhà Trắng để biểu lộ tình đoàn kết dành cho Tổng thống. Tôi khoác tay Bill khi chúng tôi bước ra khỏi Phòng Bầu Dục và gặp họ ở Vườn Hồng. Al Gore đã có những lời phát biểu động viên thật xúc động, ông gọi việc bỏ phiếu luận tội của Hạ viện là "một sự xâm hại lớn lao đối với một người mà tôi tin rằng sẽ được ghi nhận vào sử sách như một trong những vị Tổng thống vĩ đại nhất". Cũng giống như tôi, tỉ lệ ủng hộ Al trong công chúng cũng đã tăng lên cao. Người Mỹ đã hiểu điều gì
Bill cảm ơn những người đã trung thành tận tụy với anh và hứa sẽ không đầu hàng. Anh ấy nói sẽ kiên định "cho đến giờ phút cuối cùng trong nhiệm kỳ của tôi". Sự kiện tồi tệ vừa mới xảy ra lại tạo nên một chút kết quả lạc quan khác thường, và tôi lấy làm biết ơn sự nhìn nhận mà công chúng dành cho Bill. Nhưng tôi phải cố gắng hết sức chịu đựng cơn đau ở lưng của mình. Lúc về đến phòng của mình sau khi sự kiện kết thúc, tôi hầu như không thể đứng được nữa.
Đó là điều không thuận lợi trong lúc này vì nó rơi vào dịp lễ Giáng sinh, và dù luận tội hay không luận tội, Nhà Trắng vẫn phải tổ chức nhiều cuộc đón tiếp, điều đó có nghĩa là tôi phải đứng đón khách hàng giờ. Trụ được vài tiếng đồng hồ, ngay sau đó lưng tôi tê cứng và không thể di chuyển được. Đây chính là hậu quả của việc bị căng thẳng dồn dập và thủ phạm cũng chính là những đôi giày tôi đã mang.
Một trong những bác sĩ trị liệu của Nhà Trắng sau khi khám đã cho tôi biết "Thưa bà, gần đây có phải bà đã mang giày cao gót rất nhiều không ?".
"Vâng."
"Thưa bà", ông ấy đáp, "bà không nên mang giày cao gót nữa".
"Không bao giờ luôn ư ?"
"À vâng, không bao giờ". Ông ấy nhìn tôi một cách tò mò và hỏi "Với tất cả sự kính trọng thích đáng, thưa bà, tại sao bà phải mang nó ?"
Chúng tôi cảm thấy vừa thoải mái vừa khá kỳ quặc khi nghỉ lễ và làm những điều quen thuộc của dịp lễ cùng với bóng ma của phiên tòa Thượng viện đang lởn vởn trong phòngvị khách không mời mà đến. Tôi đã nhận được hàng trăm lá thư ủng hộ từ khắp nơi gởi về. Thư của Phu nhân Bird Johnson, người đã theo dõi sự kiện này tại quê nhà Texas, là một trong những lá thư sâu sắc nhất:
"Hillary thân mến,
Bà đã làm tôi sung sướng biết chừng nào khi tôi thấy bà ở bên cạnh Tổng thống trên tivi (có phải là Khu vườn phía Nam không ?). Điều đó nhắc nhở chúng tôi về những lĩnh vực như giáo dục và y tế, và những gì chúng ta cần phải làm. Tôi luôn cầu nguyện cho bà. Sau đó tôi thấy bà đến Điện Capitol để trao đổi với các Đảng viên Dân chủ và kêu gọi sự ủng hộ của họ.
Tôi rất vui vì điều đó, và tôi nghĩ ràng đó chính là những gì mà đại đa số nhân dân nghĩ đến.
Trân trọng kính chào,
Phu nhân Bird Johson"
Những lời lẽ rất rành rẽ và tử tế của bà Bird đã làm tôi ấm lòng. Điều đó khiến tôi có thể đoán chắc rằng những người thấu hiểu áp lực mà tôi phải chịu sẽ nhận ra tại sao tôi lại kiên quyết ủng hộ chồng mình đến như vậy.
Một lần nữa chúng tôi lại đón giao thừa tại Renaissance Weekend ở Hilton Head, Nam Carolina. Có rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp đã đến động viên chúng tôi và cám ơn Bill vì sự lãnh đạo của anh ấy với tư cách là một Tổng thống. Những lời nói cảm động nhất đến từ ngài cựu Đô đốc Hải quân Elmo Zumwalt, nguyên Chỉ huy trưởng lực lượng Hải quân trong chiến tranh Việt Nam. Ngài Zumwalt có một bài diễn thuyết. ngắn dành cho Chelsea có tựa đề là If These Were My Last Words. Ông ấy muốn con tôi không bao giờ quên những thành tựu của cha mình, ngay cả khi những sự kiện x trong Quốc hội đang đe dọa làm lu mờ những điều đó.
"Cha của con, vị tổng tư lệnh của ta", ông nói, "sẽ được nhớ đến như là một vị Tổng thống có khả năng làm cho sức mạnh quân sự của chúng ta được phục hồi sau 15 năm suy yếu, do đó bảo đảm sức sống liên tục của lực lượng quân đội..., là người đã ngăn chặn những cuộc tàn sát giết chóc ở Haiti, Bosnia, Ireland và Kosovo..., là người đã thúc đẩy tiến trình hòa bình ở khu vực Trung Đông..., người đã khởi xướng những cuộc tranh đấu và có những hành động cải tiến an ninh xã hội, hệ thống giáo dục và chăm sóc sức khỏe...”.
Ngài Zumwalt còn cho Chelsea biết rằng mẹ của nó cũng sẽ được nhớ đến "như người đã làm thế giới thức tỉnh" về quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và những nỗ lực cải thiện đời sống của họ, cũng như về sự hỗ trợ cho gia đình trong cơn khủng hoảng. Những lời nói của ông ấy là một món quà vô giá dành cho Chelsea và cho cả tôi.
Nhưng thật đáng buồn vì đó là những lời nói cuối cùng Chelsea nghe được từ Zumwalt, ông đã mất một năm sau đó. Ông ấy sẽ được tổ quốc nhớ đến như một trong những nhà yêu nước và nhân đạo vĩ đại nhất ở thế hệ của ông ấy. Tôi và gia đình tôi cũng sẽ nhớ đến ông ấy như một người bạn thật sự chung thủy.
Phiên tòa ở Thượng viện bắt đầu vào ngày 7 tháng 1 năm 1999, ngay sau khi phiên họp Quốc hội thứ 106 tuyên thệ. Chánh án Tòa án Tối cao William Rehnquist đã có mặt tại Văn phòng Thượng viện để thụ lý vụ này. Thay vì mặc chiếc áo choàng màu đen đơn giản như thường lệ, ông ấy lại mặc một chiếc áo được thiết kế với đường viền màu vàng đồng ở chỗ hình chữ V nơi tay áo. Ông ấy trả lời với cánh nhà báo rằng đó là ý tưởng ông lấy từ phục trang của vở nhạc kịch hài Iolanthe i>của Gilbert và Sullivan. Thật là phù hợp khi mặc một bộ phục trang màu mè đến thế để điều khiển một trò hề chính trị.
Tôi đã cố tình không xem phiên tòa trên ti-vi, phần vì tôi coi toàn bộ tiến trình xét xử này là một thất bại nặng nề của Hiến pháp, phần vì biết mình chẳng làm được gì để ảnh hưởng đến kết quả cả. Vụ kiện của Bill được một đội ngũ pháp lý sừng sỏ gánh vác - các luật sư của Nhà Trắng gồm Luật sư trưởng Chuck Ruff, Luật sư phó Cheryl Mills, Lanny Breuer, Bruce Lindsey và Greg Craig, người đã từ bỏ vị trí hàng đầu ở Bộ Ngoại Giao để gia nhập Nhà Trắng, và luật sư riêng của Bill, David Kendall và cộng sự của mình, Nicole Seligman.
Tôi đã gặp gỡ đội ngũ luật sư này để góp một số gợi ý về chiến lược và cách trình bày, tuy nhiên tôi không thể làm gì nhiều hơn ngoài sự hỗ trợ này. Vì cuộc biểu quyết để luận tội ở Hạ viện được xem như là một bản cáo trạng, các thành viên Đảng Cộng hòa của Hạ viện đã xuất hiện tại Thượng viện như là những "ủy viên công tố". Họ có ý định đưa ra những "chứng cứ" buộc tội, còn các luật sư của Bill thì bào chữa cho anh ấy. Không có nhân chứng sống. Thay vào đó, những công tố viên từ Hạ viện lại dựa vào những luận cứ và lời khai của bồi thẩm đoàn thu thập từ Sid Blumenthal, Vernon Jordan và Monica Lewinsky. Sid Blumenthal đã viết một bản tường trình những chuyện xảy ra ở hậu trường rất ly kỳ hấp dẫn của quá trình luận tội trong cuốn sách của ông ta - The Clinton Wars.
Hiến pháp đòi hỏi phải có hai phần ba số phiếu thuận để kết án Tổng thống trước khi ông ấy bị cách chức. Điều đó chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử nước Mỹ, và tôi cũng không mong đợi nó xảy ra. Không ai trong số những người có liên quan lại thật sự nghĩ rằng có tới 67 Thượng nghị sĩ sẽ bỏ phiếu quy án nên những công tố viên Hạ viện không thấy có lý do gì để thực hiện một tiến trình truy tố có vẻ chuyên nghiệp. Có quá ít luật lệ quy định về những thủ tục hoặc những chứng cứ được đưa ra trong vụ kiện này. Kết quả là vụ kiện không giống như một phiên tòa thật sự cho lắm mà như một trận đả kích để lên án chồng tôi.
Trong suốt năm tuần diễn ra sự kiện, các luật sư của Tổng thống đã trình bày về luật pháp và những sự kiện mà tôi tin rằng các sử gia, các học giả sẽ chú ý đến khi cố gắng thấu hiểu khoảng thời gian đáng tiếc xảy ra trong lịch sử này. Trong cuộc tranh cãi hết sức sôi nổi, Cheryl dứt khoát bác bỏ luận điểm của các công tố viên Hạ viện rằng việc tha bổng Tổng thống sẽ không chỉ làm xói mòn luật pháp mà còn ảnh hưởng đến cả luật dân sự của quốc gia. Mills, một người Mỹ gốc Phi tuyên bố: "Tôi không lo lắng về dân quyền vì những thành tích Tổng thống đã làm về dân quyền, về nữ quyền, về tất cả các quyền đủ để bác bỏ việc luận tội... Tôi đứng trước các bạn hôm nay vì Tổng thống Bill Clinton tin rằng tôi sẽ có thể đứng đây vì ông ấy".
Dale Bumpers, nguyên Thượng nghị sĩ đến từ Arkansas, đã thay mặt cho Bill tranh cãi rất hùng hồn. Bumpers là một nhà hùng biện lỗi lạc và cũng là một người bạn rất thân của Bin, đã đan kết lịch sử nước Mỹ và những câu chuyện của Arkansas một cách hết sức thuyết phục đế yêu cầu cho Tổng thống được trắng án. Ông ấy đã nhắc nhở chúng tôi một cách rất mạnh mẽ rằng chính chúng ta đang đưa Hiến pháp ra tòa. Trong cuốn tự truyện The Best Lawyer in a One - Lawyer Town, Bumpers có thuật lại việc Bill đã nhờ ông ấy làm đại diện cho mình. Sau khi suy nghĩ kỹ, Bumpers nhận ra rằng "Mỗi gia đình ở Mỹ đều có thể liên quan tới những nỗi khổ cực và phiền toái ở một mức độ nào đó, ít nhiều giống với bi kịch mà gia đình Clinton đã trải qua". Và sau đó ông ấy hỏi: “Đâu rồi những nguyên lý về lòng vị tha và cứu rỗi, những thứ rất căn bản của Cơ Đốc giáo?
Trong suốt phiên tòa, tôi chưa bao giờ nghi ngờ khả năng chiến thắng của chúng tôi. Tôi dựa vào đức tin của mình mỗi ngày. Điều đó làm tôi nhớ lại một câu nói lúc còn ở trường học Chủ nhật: Đức tin giống như việc thoát ra khỏi một vách đá và mong sẽ có một trong hai kết quả sau - một là sẽ rớt xuống mặt đất khô cứng, hai là sẽ học được cách bay lên.