Là một tân ứng viên, tôi đã nghĩ đến những rào cản mà chắc chắn tôi sẽ phải va chạm nhưng tôi không ngờ rằng tôi lại cảm thấy thích thú với chiến dịch ứng cử đến như vậy. Từ lúc rời nông trại của Thượng nghị sĩ Moynihan để bắt đầu chuyến "vi hành" vào tháng 7 năm 1999, tôi hoàn toàn bị cuốn hút bởi những nơi mà tôi đi qua và những người tôi gặp khắp nơi ở New York.
Người dân New York kiên cường, năng động, luôn tin tưởng vào tương lai, tượng trưng cho tất cả những gì mà tôi rất trân trọng về nước Mỹ. Tôi dần dần biết đến những khu phố nhỏ, những nông trại ở vùng quê và những thành phố như Buffalo, Rochester, Syracuse, Binghamton và Albany - nơi đã từng một thời là trung tâm của Cuộc Cách mạng Công nghiệp Mỹ và nay đang vươn mình chuẩn bị cho Thời kỳ Công nghệ Thông tin. Tôi đã khám phá ra Adirondacks và Catskills cũng trải qua kỳ nghỉ ở bờ hồ Skaneateles và Placid. Tôi đã thăm các trường đại học, cao đẳng công lập và dân lập. Tôi đã tiếp xúc với các nhóm doanh nhân và nông dân dọc suốt từ Long Island đến bờ biên giới Canada, lắng nghe họ kể về những thách thức mà họ phải đối mặt. Và khi tôi tạm dừng chân trong ngôi nhà mới của mình tọa lạc ở một vùng ngoại ô xa trung tâm, những ngôi trường công liên công cộng đã gợi cho tôi nhớ về tình làng nghĩa xóm nơi tôi đã lớn lên.
Tôi yêu cái tiềm lực nguyên sơ, cuộc sống hòa trộn đa sắc tộc và những người dân hào hiệp, thẳng thắn của thành phố New York. Tôi kết bạn khắp nơi: trong mọi ngõ ngách của thành phố, tại những bữa cơm tối xã giao, ở những trụ sở của các nghiệp đoàn, trường học, nhà thờ, giáo đường của người Do Thái, những túp lều, những căn chòi. Những cộng đồng đa dạng của New York là các bằng chứng sống nhắc người ta nhớ đến một thành phố tượng trưng cho lời hứa độc nhất vô nhị của nước Mỹ đối với phần còn lại của thế giới, nhớ đến bi kịch 1 1 tháng 9 năm 2001 khi mà Manhattan bị những kẻ khủng bố tấn công - những kẻ luôn căm ghét và sợ sự tự do, sự năng động và sự tự nguyện lựa chọn - những đặc tính của người Mỹ.
Tôi mải mê nghiên cứu về lịch sử tiểu bang New York: Những người da đỏ Iroquois thuộc phe ly khai trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ - những người mà cam kết của họ về các nguyên tắc dân chủ đã tác động đến nhưng nhà sáng lập của chúng ta - sống khắp nơi ở New York từ lúc New York chưa là tiểu bang; Cuộc Chiến tranh Cách mạng đã xảy ra và chiến thắng ở những ngôi làng mang tên Champlain, Mohawk và Hudson; chính những dòng sà lan dọc theo kênh Erie đã khai phá cho sự phát triển kinh tế của những vùng còn lại trên đất Mỹ; những tác phẩm nghệ thuật, văn chương và văn hóa thế giới đã được thành hình tại thành phố New York; những phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ, công đoàn, quyền công dân, quyền bình đẳng cho người da đen, quyền tự do cá nhân, những quan điểm chính trị tiến bộ và quyền của những người đồng tính đều dấy lên từ vùng đất New York. Tôi dần dần yêu thích nhịp điệu của những sự kiện đã diễn ra trên tiểu bang khổng lồ và lộn xộn này. Tôi nhảy điệu salsa dưới Đại lộ số 5 hòa trong Đội Diễu hành Ngày Puerto Rico, ăn một miếng bánh mì kẹp xúc xích i chợ Tiểu bang và thử nhảy điệu polka ở lễ hội của người Ba Lan ở Cheektowaga.
Việc cân bằng những đòi hỏi của chiến dịch tranh cử với nghĩa vụ một Đệ nhất Phu nhân của tôi là một sự thử thách độc nhất vô nhị. Thực hiện ngay một lúc hai việc vừa thử thách đội ngũ nhân viên Nhà Trắng - những người đã từng cùng với tôi vượt qua mọi thăng trầm trong gần 8 năm - vừa thử thách nhóm hỗ trợ thực hiện chiến dịch chuyên nghiệp đang hỗ trợ tôi chạy đua vào chiếc ghế Thượng nghị sĩ ở New York. Đôi khi Nhà Trắng yêu cầu tôi thực hiện một chuyến công du hoặc thực hiện một sự kiện nào đó mà Tổng thống ưu tiên hoặc chỉ là theo ý thích của tôi trong tư cách một Đệ Nhất Phu nhân đều khiến các vị cố vấn cho chiến dịch của tôi một phen xanh mặt khi nghĩ đến việc tôi tham gia vào vấn đề nào đó mà không liên quan đến New York hoặc các vấn đề của New York. Mặc dù rơi vào những tình huống căng thẳng không tránh khỏi nhưng mọi người đều đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, tuyệt vời.
Quả không phải là một chiến dịch êm đềm. Ngay từ khi bắt đầu, tôi đã mắc phải lỗi lầm. Mà những lỗi lầm trong chính trường New York thì không dễ dàng được bỏ qua. Khi dân Yankee đến Nhà Trắng để kỷ niệm chiến thắng Vô địch bóng chày (World Series) vào năm 1999, người điều hành Joe Torre đã đưa tôi một chiếc mũ và tôi đã nhanh chóng đội lên. Một hành động quá tệ hại. Không ai ngờ rằng tờ The Washington Post và tờ San Francisco Examiner đã tường thuật rằng trước đây tôi là một fan của Mickey Mantle cực kỳ phản động. Họ nghĩ rằng tôi đang giả vờ làm điều mà thực tế tôi không thể: là dân New York suốt đời. Qua những ngày kế tiếp, những cử tri của tôi đã nhìn thấy hàng loạt ảnh của tôi với chiếc nón Yankees và những lời chú thích kèm theo không được hay ho lắm.
Trường hợp tệ nhất xảy raến viếng thăm chính thức Israel vào mùa thu năm 1999, khi tôi đến dự một sự kiện với tư cách là Đệ nhất Phu nhân cùng với Suha Arafat - phu nhân của nhà lãnh đạo Palestine. Bà Arafat phát biểu bằng tiếng Ả-rập. Nghe qua thiết bị phiên dịch từ tiếng Ả-rập sang tiếng Anh, bản thân tôi cũng như những thành viên khác của đoàn - những nhân viên Đại sứ quán Mỹ, những chuyên gia Trung Đông và những nhà lãnh đạo Mỹ gốc Do Thái - không ai nghe thấy nội dung phát biểu thái quá của bà ta về việc Israel đã dùng gas độc để điều khiển người Palestine. Vài phút sau đó, tôi bước lên bục để phát biểu, bà Arafat đã chào đón tôi bằng một cử chỉ ôm hôn - một cách chào truyền thống. Nếu như biết được những lời xúc phạm trong bài phát biểu đó, có lẽ tôi đã lập tức phản ứng. Ngay sau đó, bản tin nhanh New York đã đưa ngay hình ảnh tôi nhận nụ hôn trên má từ bà Suha Arafat kèm theo nội dung bài phát biểu của bà Arafat. Nhiều cử tri Do Thái nổi giận với phát biểu của bà Arafat là điều dễ hiểu và họ hoàn toàn thất vọng khi tôi đã không nắm lấy cơ hội đó để phủ nhận những phát biểu của bà ta.
Cuối cùng, chiến dịch tranh cử của tôi cũng đã vượt qua được những giai đoạn khó khăn nhất. Và bản thân tôi cũng đã rút ra được một bài học đắt giá về những nguy hiểm khi pha trộn vai trò ngoại giao quốc tế với những phức tạp về chính trị ở một nơi như ở New York.
Trong suốt chiến dịch, có một sự phân định khá hài hước giữa quan điểm quốc gia về cuộc tranh cử với những gì thực tế diễn ra ở New York. Các nhà bình luận, những học giả uyên thâm của quốc gia vẫn đinh ninh rằng chính vấn đề "người vận động tranh cử ngoài địa hạt của mình" sẽ hạ gục tôi và bản thân tôi sẽ bỏ cuộc. Và cũng theo cách bình luận thông thường, họ phê phán tôi về việc từ chối trả lời báo chí. Chính điều này cũng trở thành một đề tài chuyện phiếm cho các nhân viên dưới quyền tôi vì thực tế tôi vẫn thường xuyên tiếp xúc với báo chí New York trong sucuộc tranh cử. Mối quan hệ giữa tôi với báo chí ngày càng được cải thiện dưới sự giúp đỡ của Giám đốc Truyền thông Howard Wolfson. Howard đã từng làm việc cho Nita Lowey và Chuck Schumer nên đủ hiểu sự phức tạp, rối ren khi tiếp xúc với giới truyền thông New York. Ông đã xuất hiện trên truyền hình với những phát biểu hùng biện và thân thiện, đề cập đến chiến dịch tranh cử của tôi. Với sự hỗ trợ của Howard, cuối cùng tôi cũng có được thời gian để thư giãn, không phải canh chừng giới báo chí, và tôi dần dần cảm thấy thích thú với việc phỏng vấn hàng ngày của những nhà báo được cử đến để thực hiện việc thông tin về chiến dịch của tôi.
Càng ngày tôi càng xác định được vị trí của mình trong sự thăng trầm của chính trường New York và tôi hoàn toàn không có ý định rời bỏ cuộc tranh cử. Tôi chỉ đơn giản cố gắng tìm hiểu người dân New York và tạo cho họ một tình cảm đối với tôi. Mặc dù tiểu bang rất rộng lớn nhưng tôi vẫn xác định việc tiếp xúc trực tiếp với dân chúng vẫn tốt hơn là tiếp xúc gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông được trả tiền. Sự quảng bá của các phương tiện truyền thanh, truyền hình là rất quan trọng và cần thiết, nhưng vẫn không thể thay thế được những buổi nói chuyện trực diện - những dịp mà ứng cử viên có thể học hỏi được nhiều hơn.
Mục tiêu của tôi là thăm tất cả 62 hạt. Và trong hơn 1 năm, tôi đã đi khắp tiểu bang trong chiếc xe Ford cải tiến mà báo chí gọi là HRC SpeedWagon, cùng với vị cố vấn lâu năm là Kelly Craighead và Allison Stein, một nhân viên vận động rất năng nổ. Tôi dừng lại để ăn tối, uống cà phê dọc đường giống như Bill và tôi đã từng làm trong chiến dịch vận động tranh cử của anh ấy. Ngay cả khi trong quán chỉ có một nhóm người, tôi vẫn ngồi xuống, dùng một tách cà phê và trò chuyện với họ về bất cứ đề tài nào mà họ đang nghĩ tới. Các nhà thực hiện chiến dịch chuyên nghiệp gọi đây là "chính trị bán lẻ" nhưng, đó là cách tốt nhất để tiếp cận với những vấn đề mà mọi người quan tâm hàng ngày.
Cách sống cuồng nhiệt này hoàn toàn khác xa cuộc sống trong Nhà Trắng. Bill và tôi đã dọn một ít đồ đạc đến ngôi nhà mà chúng tôi đã mua ở cuối ngõ phố cụt Chappaqua - cách thành phố New York về phía bắc chưa đến một giờ đồng hồ xe chạy; nhưng tôi cũng không có nhiều thời gian ở đó. Ngôi nhà thường trống trải, lực lượng mật vụ với một trạm chỉ huy tại một chuồng ngựa cũ được cải tạo lại phía sân sau nhà tôi. Hiếm khi nào tôi đi ngủ trước nửa đêm và thông thường 7 giờ sáng đã có mặt trên đường. Nếu có thời gian, tôi thường dừng lại để thưởng thức một chiếc bánh nướng, bánh mì kẹp trứng và cà phê tại nhà hàng Lange - một nhà hàng bán thức ăn ngon ở cuối đường nhà tôi.
Thay vì cảm thẩy mệt mỏi, tôi lại thấy mình hấp thu được sinh lực từ chiến dịch tranh cử. Không những quen dần với biến động liên tục tại New York và các vấn đề liên quan, tôi còn dần khám phá ra những khả năng cũng như những hạn chế của mình đối với cuộc sống của một ứng cử viên chính trị. Và cuối cùng tôi đã vượt qua vai trò của một người đại diện để thực hiện chiến dịch như trước đây tôi vẫn quen làm cho chồng tôi và bạn bè tôi, để tự mình điều hành một chiến dịch tranh cử cho chính mình. Đây là một tiến trình chậm với rất nhiều cố vấn, bạn bè và ủng hộ viên đề xuất những lời khuyên thường xuyên - đôi khi mâu thuẫn nhau. Và, tôi đã học cách lắng nghe cẩn thận, cân nhắc các giải pháp rồi quyết định theo cách riêng của mình.
Cuối cùng, tôi nhận thấy mình đã bắt đầu có những kết nối với cử tri. Dần dần, tôi có thể cảm nhận tâm trạng của cử tri đã thay đổi đường đi của tôi. Khi bắt đầu chiến dịch, ở bất kỳ nơi đâu tôi đến, mọi người đều đổ xô ra đN nhìn tôi. Đây chưa hẳn là cơ sở xác định sự ủng hộ của họ đối với tôi. Đám đông nhìn tôi chỉ vì hiếu kỳ. Sau vài chuyến viếng thăm các tỉnh lỵ, thành phố, sự xuất hiện của tôi ngày càng trở nên quen thuộc hơn và dường như cử tri cảm thấy thoải mái tự nhiên hơn khi chia sẻ những câu chuyện và những lo toan của họ với tôi. Chúng tôi đã có những buổi trò chuyện thật sự về những vấn đề họ quan tâm và mọi người bắt đầu ít để ý tới việc tôi từ đâu tới mà quan tâm nhiều hơn tới việc tôi sẽ làm gì. Những cử tri vùng nông thôn, kể cả những đảng viên Đảng Cộng hòa chăm chú lắng nghe những dự án của tôi nhằm phục hồi nền kinh tế khu vực. Họ đặt ra những câu hỏi hóc búa, cười rộ lên với những câu bông đùa của tôi hay khen ngợi về mái tóc của tôi. Càng ngày tôi càng thấy mình được tiếp đón nồng nhiệt hơn ở những nơi tôi đến.
Tìm hiểu tính đa dạng và tính phức tạp của chính trường tiểu bang rất quan trọng đối với tôi. Và cũng tương tự khi tiếp xúc với giới nữ, một vài người đã tỏ ra thất vọng hoặc khó chịu khi tôi vẫn tiếp tục cuộc hôn nhân với Bill. Tôi trân trọng những câu hỏi của họ và mong họ hiểu rằng quyết định của tôi hoàn toàn hợp lý đối với bản thân tôi cũng như gia đình tôi.
Tôi không muốn phát biểu để giải thích vấn đề cá nhân của mình. Tôi đã tham dự những buổi gặp gỡ thân mật tại nhà những nhóm nhỏ phụ nữ ủng hộ tôi ở nhiều nơi trên tiểu bang. Chủ nhà mời khoáng 20 người bạn và hàng xóm cùng uống cà phê với tôi. Chúng tôi đã nói chuyện hết sức tự nhiên, thoải mái, tránh được những ánh đèn của máy quay phim và những phóng viên chính trị. Tôi trả lời những câu hỏi về cuộc hôn nhân của tôi, lý do tại sao tôi dọn tới ở New York, về vấn đề chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em và bất kỳ vấn đề gì mà họ nghĩ ra. Dần dần, nhiều phụ nữ có chiều hướng chuyển sang ủng hộ tôi, cp nhận việc tôi quyết định tiếp tục sống với Bill, ngay cả khi họ có cách chọn lựa khác trong trường hợp đó.
Chiến dịch tranh cử của tôi cũng đạt được nhiều thuận lợi từ cái gọi là "sự bùng nổ" - sự ủng hộ tăng lên đột ngột - sau khi tôi xuất hiện trong chương trình The Late Show with David Letterman vào tháng 1 năm 2000. Sự xuất hiện trên chương trình trò chuyện đêm khuya đã thu hút được sự quan tâm nhiều hơn so với hàng loạt bài diễn văn trong ngày về cùng một vấn đề. Tôi chưa hề có ý định tiếp tục chương trình - ít nhất cho tới thời điểm này - trước đợt bầu cử. Nhưng Letterman thường gọi điện cho Howard, nài nỉ tôi xuất hiện. Sau một tháng thuyết phục của Letterman, tôi đã đồng ý đến như một khách mời vào ngày 12 tháng 1.
Tôi hy vọng chương trình sẽ thú vị, nhưng vì biết rằng những chuyện hài hước đêm khuya đôi khi cũng hay châm chọc những người khách mời nên tôi cũng rất hồi hộp. Letterman sống gần Chappaqua nên đã hỏi về căn nhà mới của chúng tôi và cảnh báo tôi rằng: "Bây giờ, mọi kẻ ngốc trong khu vực đó sẽ lái xe ngang qua và nhấn còi inh ỏi"
"Ồ, thế có phải kẻ đó là ông không ?", tôi hỏi. Letterman và khán giá ồ lên tán thưởng. Tôi cảm thấy thư giãn và thú vị. Vài tháng sau đó, tôi xuất hiện nhiều hơn tại các địa điểm giao tiếp, đóng vai "một kẻ vận động tranh cử ngoài địa hạt” với một khuôn mặt ngây ngô tại tiệc chiêu đãi giới báo chí hàng năm ở Albany và sau đó xuất hiện trên chương trình Tonight Show của Jay Leno.
Vào tháng 2 năm 2000, tôi chính thức tuyên bố việc ra ứng cử tại Trường Đại học New York gần nhà chúng tôi ở Chappaqua. Đám đông gồm những người ủng hộ đang hân hoan và những nhà lãnh đạo chính trị của cả tiểu bang. Bill, Chelseạ và mẹ tôi cũng có mặt. Thượng nghị sĩ Moynihan giới thiêu tôi và kểv những chuyển ông đến thăm bà Eleanor Roosevelt tại nhà bà ẩy ở Hyde Park. Câu kết sau cùng của ông là "Hillaly, bà Eleanor Roosevelt chắc hẳn rất quý bà.”
Patti Solis Doyle, người đầu tiên mà tôi tuyển dụng vào năm 1992, đã điều phối toàn bộ lịch trình làm việc của tôi tại Nhà Trắng và chiến dịch tranh cử, sau đó, cô ấy xin nghỉ phép đến Chính phủ để làm việc toàn thời gian tại New York, quán xuyến mọi công việc hậu cần và hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược của chiến dịch tranh cử. Patti cũng đã làm việc với cộng đồng dân châu Mỹ La tinh - một cộng đồng đang có ảnh hưởng và đang ngày càng phát triển nhanh. Sự ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng này đối với chiến dịch tranh cử của tôi đã làm tôi rất vui mừng. Tôi rất tự hào về Patti, những gì cô ấy đã làm cho tôi thật sự ngoài mong đợi. Thỉnh thoảng tôi nhớ lại những ngày đầu tiên ở Nhà Trắng khi bố mẹ cô ấy - những người dân nhập cư từ Mexico - từng mơ ước một cuộc sống tốt hơn cho 6 người con của họ - đã đến dự lễ nhậm chức và khóc trong niềm vui sướng vì con gái họ đã là nhân viên của vị Đệ nhất Phu nhân nước Mỹ.
Tại chiến dịch, Patti đã tham gia vào đội ngũ nhân viên tài năng và kinh nghiệm do Bill de Blasio - nhà điều hành chiến dịch của tôi - phụ trách. Blasio được xem là một chiến lược gia đại tài và một đặc phái viên tin cẩn của nhiều cộng đồng ở New York. Đội ngũ của tôi còn có Giám đốc Truyền thông Howard Wolfson - người phụ trách hoạt động phản ứng nhanh đặc biệt; Giám đốc Chính trị Ramon Martinez - người chia sẻ với tôi những bản năng chính trị nhạy bén và động viên tôi trong việc tiếp xúc với những cử tri mới và làm sao để "thể hiện tình cảm đối với họ"; Gigi Georges - người phụ trách điều phối chiến dịch tranh cử của tôi với chiến dịch của các ứng cử viên Dân chủ khác tại New York và huy động sự nỗ lực từ cơ sở; Phó Điều hành Chiến dịch về mặt chính sách - Neera Tanden - người nắm bắt mọi chi tiết và sắc thái của những vấn đề mà tiểu bang đang đương đầu; Giám đốc Nghiên cứu Glen Weiner - người nắm rõ đối thủ của tôi hơn cả nhân viên của chính họ và Giám đốc Tài chính Gabrielle Fialkoff - người xử lý thật khéo léo một công việc không mấy hứng thú nhưng vô cùng thiết yếu là kiếm tiền để triển khai chiến dịch tranh cử. Tất cả họ làm việc ngày đêm với hàng tá nhân viên phục vụ chiến dịch khác và hàng ngàn tình nguyện viên để làm cho chiến dịch tranh cử trở thành một trong những chiến dịch hiệu quả nhất mà tôi từng biết.
Lại thêm nhiều tin vui: Chelsea đã hoàn tất những chương trình ngoại khóa tại Stanford đủ để trở về nhà sau học kỳ đầu của năm cuối để giúp bố một số công việc tại Nhà Trắng và công việc của mẹ tại New York. Chelsea đã tham gia vào đội Speedwagon để vận động tranh cử cho tôi vào bất kỳ lúc nào con bé có thể, và chính điều này đã động viên tôi rất nhiều. Con bé dường như có năng khiếu trong con đường vận động tranh cử. Tôi rất tự hào là con gái tôi đã trở thành một thiếu nữ và đã trưởng thành sau 8 năm ở Nhà Trắng để trở thành một người tốt bụng, biết quan tâm đến mọi người và ngẩng cao đầu để sống. Tôi thật may mắn có một đứa con gái như vậy.
Trong những tháng đầu của chiến dịch, tôi đã giành được sự quan tâm của hầu hết các phương tiện truyền thông. Bây giờ thì tới phiên ông Thị trưởng. Người dân New York và giới báo chí cho rằng Giuliani đang có rất ít nỗ lực, không hơn gì ngoài chuyện huy động gây quỹ từ thiện để tranh cử chiếc ghế Thượng nghị sĩ. Ông đã tiến hành một chiến dịch chỉ nhằm vào thành phố New York. Ông hiếm khi ra khỏi nhà và nếu có thì lại tạo ấn tượng với mọi người rằng chính ra việc ở trong nhà lại tốt hơn. Ông chẳng có ý kiến gì về những giải pháp cho nền kinh tế nông thôn đang bị dao động, về sự căng thẳng giữa các chúng tộc đang ngấm khuấy động chính trường New York. Và ông ta đã bắt đ̐ắc sai lầm.
Vụ một cảnh sát bắn chết một người da đen tên Patrick Dorismond ở thành phố New York vào tháng Ba đã đào sâu thêm những điểm yếu chính tri của ngài Thị trưởng. Cách giải quyết vụ việc bi thảm này của Giuliani đã kích động thêm thái độ thù hằn vốn có giữa văn phòng của ông ta và cư dân thiểu số của thành phố. Trong trường hợp này, ngài Thị trưởng đã làm tăng thêm sự khủng hoảng thay vì cần phải có tiếng nói ôn hòa và quyết đoán hơn. Những công dân của những địa hạt lân cận, đặc biệt là những cư dân thiểu số, cảm thấy những cảnh sát làm dưới quyền của ngài Thị trưởng không đáng tin cậy. Sự cảnh giác của họ càng tăng thêm do hàng loạt những trường hợp tương tự gây nhiều chú ý như việc bắn chết Amadou Diallo tại Bronx năm trước đó. Đến lượt các viên chức cảnh sát cảm thấy rất nản chí bởi họ luôn bị hiểu nhầm trong khi đã cố gắng làm việc hiệu quả, mà nguyên nhân chỉ vì giới lãnh đạo thành phố đang đấu đá với những cộng đồng trên địa bàn làm việc của họ. Khi Giuliani cho đăng tin về những hồ sơ phạm tội lúc còn vị thành niên của Dorismond, nhằm bôi nhọ một người đã chết thì ông ta chỉ làm cho hố ngăn cách càng sâu thêm và dân chúng càng giảm đi sự tín nhiệm đối với ông.
Giuliani càng tiếp tục sử dụng thuật hùng biện để chia rẽ thì tôi càng khẳng định mình phải thực hiện phương thức tiếp cận khác. Trong một bài phát biểu tại Nhà thờ Riverside ở Manhattan, tôi đã đưa ra một kế hoạch để cải thiện mối quan hệ giữa cảnh sát và những cư dân thiểu số, bao gồm cả những giải pháp như tuyển dụng, đào tạo và những bù đắp tốt hơn cho Sở Cảnh sát New York. Sau đó, tôi đã đến Harlem để phát biểu tại Nhà thờ Bethel AME.
Cách giải quyết về trường hợp Dorismond của Giuliani hoàn toàn sai và tôi cũng dự định gọi điện cho ông ta để nói về việc đó. Thay vì xoa dịu sự căng thẳng và đoàn kếư dân thành phố thì ông ta đã xát thêm muối vào vết thương.
"Chúng ta đều biết New York đang thật sự có vấn đề. Dường như tất cả chúng ta đều nhận thấy ngoại trừ ngài Thị trưởng". Thánh đường chật ních người như muốn nổ tung vì những tiếng reo hò lẫn bài hát ca ngợi Chúa.
Sự xuất hiện của tôi tại Harlem đã tạo một bước ngoặt trong chiến dịch tranh cử. Sau hàng tháng dõi theo Giuliani, cuối cùng tôi đã trụ lại được và còn làm tốt cả việc vận động đến vùng nông thôn. Việc duy trì sự quan tâm liên tục đến các cử tri và những vấn đề tại địa phương đã được đáp lại bằng sự ủng hộ ngày càng tăng của dân chúng. Tôi cảm thấy như mình đang bắt đầu có được tiếng nói riêng trong việc thực hiện chiến dịch tranh cử và tìm thấy tiếng nói chính trị của mình.
Vào trung tuần tháng Năm, tôi được chính thức đề cử là ứng cử viên Thượng nghị sĩ bang New York tại hội nghị Đảng Dân chủ của tiểu bang tại Albany. Đó là một sự quy tụ nhiệt tình của trên 10.000 người gồm những nhà hoạt động đảng, các nhà lãnh đạo chính trị ở các vùng nội thị, ngoại ô, nông thôn, có cả Thượng nghị sĩ Moynihan và Schumer cùng nhiều người khác - những người đã cho tôi những lời khuyên hết sức hào phóng và đã ủng hộ tôi để đạt đến đích của chiến dịch tranh cử. Đến phút cuối, vị Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa kỳ xuất hiện, tạo thêm sự hưng phấn cho đám đông - và cho cả ứng cử viên của Đảng Dân chủ.
Chỉ một thời gian ngắn sau việc đề cử, một chấn động đã làm rung chuyển chính trường New York. Ngày 19 tháng 5, Thị trưởng Giuliani tuyên bố rút khỏi cuộc chạy đua vào Thượng nghị viện sau khi bác sĩ chẩn đoán ông ta bị chứng ung thư tiền liệt tuyến và sau khi báo chí đưa tin về chuyện ngoại tình lâu nay của ông ta. Bỗng chốc ông ta trở thành người tranh cãi về cuộc sống riêng tư của mình trước công chúng. Mặc dù khác nhau về quan điểm chính trị, bản thân tôi không thích thú gì về vụ chuyển hướng hài hước này vì tôi biết quá rõ nỗi đau đớn riêng tư của người trong cuộc, nhất là với những đứa con của Giuliani.
Thị trưởng Giuliani đã kết thúc nhiệm kỳ của mình bằng sức mạnh, lòng thương yêu. Ông đã làm cả nước an lòng và khuây khỏa sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001. Do công việc của chúng tôi cùng có một mục tiêu hướng về thành phố và những nạn nhân của đợt khủng bố nên chúng tôi đã tạo được một mối quan hệ hữu nghị, hữu ích mà tôi nghĩ đó là một sự ngạc nhiên cho chính chúng tôi.
Sự rút khỏi cuộc chạy đua của ngài Thị trưởng không phải là một sự giải tỏa mà tôi mong đợi như nhiều người dự đoán. Trong hàng tháng trời, tôi đã thực hiện một chiến dịch để chống lại ông ta. Có thể nói ông ta là một trong những đối thủ "gai góc" nhất của tôi và tôi cảm nhận được rằng việc ứng cử của tôi đưa đến cho cử tri New York một sự lựa chọn rõ ràng và cử tri đang đáp trả lại. Vào thời điểm Giuliani chấm dứt chiến dịch tranh cử, tôi đang dẫn trước 8 hoặc 10 điểm theo kết quả thăm dò dư luận. Bây giờ, tôi lại bắt đầu với một đối thủ hoàn toàn mới - nghị sĩ Rick Lazio.
Chiến dịch tranh cử đã chiếm gần hết thời gian trong cuộc sống của tôi. Khi tôi bứt ra được cũng là lúc tôi dành thời gian cho những sự kiện không thể bỏ qua của Nhà Trắng và thật đáng buồn rằng đó lại là thời gian dành cho một loạt những lễ tưởng niệm những người bạn và đồng nghiệp. Casey Shearer - đứa con trai 21 tuổi của người bạn thân của chúng tôi Derek Shearer và Ruth Goldway đã bị chứng đau tim định mệnh khi đang chơi bóng rổ một tuần trước khi tốt nghiệp Trường Đại học Brown. Vua Hassan Đệ nhị của Morroco đ đời vào tháng Bảy và Hoa Kỳ đã mất đi một người bạn và một đồng minh quý. Con trai ông và là người kế vị - Vua Mohammed Đệ lục đã mời Bill, Chelsea và tôi đến dự lễ tang và tại nơi đó, để bày tỏ sự kính trọng, Bill đã cùng với hàng ngàn người đàn ông đi khoảng 3 dặm theo sau quan tài qua các con đường của Rabat với sự tiễn đưa của hàng triệu người Morroco.
Mùa hè năm trước, John F. Kennedy, Jr. cùng vợ ông là Carolyn và chị bà ấy là Lauren đã chết một cách bi thảm trong một tai nạn máy bay gần Martha's Vineyard. Bill và tôi đều rất mến John - người mà chúng tôi tình cờ quen biết trong những lần họp mặt thân mật tại nhà mẹ của ông ấy tại Vineyard và tại một số sự kiện công cộng. Chúng tôi có nhã ý mời John, chị ông ấy là Caroline và con của bà ấy viếng thăm Nhà Trắng vào bất kỳ lúc nào. Sau khi kết hôn, John đã cùng vợ thực hiện một chuyến du lịch mang tính cá nhân. Khi ông ấy nhìn thấy Bill đang sử dụng bàn làm việc của cha mình trước đây tại Phòng Bầu Dục, ông ấy đã lờ mờ nhớ lại rằng mình đã từng chơi dưới gầm bàn và liếc trộm qua ô cửa bên trong, khi Tổng thống Kennedy đang gọi điện thoại. Tôi nhớ John đã đứng yên lặng trước bức ảnh của cha mình - bức ảnh do Aaron Shikler họa lại và chúng tôi đã đặt vào một nơi hết sức trang trọng, nổi bật tại State Floor. Thật đau lòng khi chúng tôi lại đi dự một lễ tang nữa cho một người có nhiều hứa hẹn và khát vọng sống. Bây giờ, trong một thế giới khác, hẳn ông ấy đang quây quần bên những thành viên của gia đình mình - những người đã cống hiến rất nhiều cho đất nước chúng tôi.
Tôi lại nhận thêm tin dữ về người bạn Diane Blair của mình. Trong suốt chiến dịch tranh cử, tôi thường nhờ Diane tư vấn. Chị ấy tốt nghiệp Đại học Cornell và biết rất rõ về New York. Chị ấy luôn động viên tôi hãy thư giãn và vui sống, và luôn cười phá lên trước những cân chuyện về những bước đi sai lầm của tôi. Diane - một vận động viên tennis đầy nhiệtết và có thể xem là một mẫu người cân đối ở tuổi 61. Vào đầu tháng Ba năm 2000, chỉ một vài tuần sau khi Diane nhận được kết quả bình thường từ cuộc khám sức khỏe định kỳ, chị chợt để ý đến mấy cục u đáng ngờ trên chân mình. Trong vòng một tuần, chị được bác sĩ chẩn đoán bị di căn ung thư phổi. Diane đã gọi điện cho tôi để báo tin và tôi gần như bị suy sụp. Kết quả tiên lượng bệnh thật quá cay nghiệt, tàn nhẫn. Tôi chỉ nghĩ không biết mọi việc sẽ như thế nào nếu như trong những năm sắp tới tôi không có Diane bên cạnh. Trong suốt những tháng sau đó, mặc dù rất bận bịu với chiến dịch tranh cử, tôi vẫn dành thời gian gọi điện cho Diane hàng ngày. Bill và tôi đã bay tới Fayetteville, Arkansas nhiều lần để ở bên cạnh Diane và Jim, người đã chăm sóc cho Diane rất cẩn thận. Mặc dù đã trải qua những đợt hóa trị làm cho chị ấy yếu đi và bị rụng tóc, Diane vẫn dũng cảm chống chọi với bệnh tật, không bao giờ đánh mất nụ cười trên môi và lòng yêu thương trong trái tim rộng mở của mình. Cho đến những tháng cuối cùng, Diane vẫn cùng Bill cạnh tranh để xem ai có thể hoàn tất trò chơi ô chữ của tờ New York Times Sunday Magazine nhanh hơn.
Khi Jim gọi điện cho tôi và báo tin thời điểm cuối đã đến gần, tôi đã bỏ lại tất cả để bay đến gặp Diane lần cuối. Lúc bấy giờ những y tá hồi sức cấp cứu - họ như những vị thánh sống trong mắt tôi - đã chăm sóc Diane 24/24. Quây quần bên chị ấy ngoài gia đình còn có vô số bạn bè chí cốt. Diane lúc tỉnh lúc mê khi tôi đứng cạnh giường, cầm tay chị ấy và cúi xuống để có thể nghe thấy những gì chị đang muốn trăng trối lại. Khi tôi chuẩn bị đi, tôi đã cúi xuống hôn tạm biệt Diane. Chị ấy đã nắm chặt tay tôi thì thầm: "Bạn đừng bao giờ từ bỏ chính mình và những gì bạn đã tin tưởng. Hãy chăm sóc Bill và Chelsea. Họ rất cần bạn. Và hãy thắng trong cuộc bầu cử này vì mình. Mình mong rằng mình sẽ có mặt khi bạn thắng cử. Mình yêu bạn". Lúc đấy, Bill và Chelsea cũng đã đến cạnh giường cùng tôi. Chị ấy nhìn chúng tôi đăm. "Hãy nhớ", chị ấy nói.
"Nhớ cái gì?”, Bill hỏi.
"Chỉ cần nhớ."
Năm ngày sau chị ấy qua đời.
Bin, Chelsea và tôi cùng bay đến Fayetteville để dự lễ tưởng niệm cuộc đời khá đặc biệt của Diane. Như nguyện vọng của Diane, buổi lễ tưởng niệm vui vẻ, sống động, đầy ắp tiếng nhạc và những câu chuyện về cuộc đời chị ấy cũng như nhưng xúc cảm mạnh mẽ của công chúng đã làm cho thế giới của Diane tốt đẹp hơn. Chủ trì buổi lễ kỷ niệm, tôi đã phát biểu rằng Diane đã cống hiến quá nhiều so với cuộc đời ngắn ngủi của chị ấy và hơn cả những gì chúng ta có thể làm trong 300 hoặc 400 năm. Tôi không biết còn có ai đã từng cố gắng tích cực hay đã từng gặt hái nhiều thành công lúc còn sống như chị ấy. Bill đã ca ngợi Diane bằng những ngôn từ hết sức ngắn gọn nhưng thật cảm động: "Chị ấy đẹp và tốt bụng. Chị ấy nghiêm túc và hài hước. Chị ấy có nhiều khát vọng để làm những điều tốt và sống tốt nhưng chính yếu vẫn là sống vị tha". Diane đã làm cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa hơn. Tôi chắc sẽ không bao giờ có được một người bạn nào tốt hơn như thế. Tôi sẽ mãi mãi nhớ Diane.
Ngày 11 tháng 7, Bill bắt đầu cuộc họp hai tuần tại Trại David với Thủ Tướng Ehud Barak và Chủ tịch Yasir Arafat trong một nỗ lực cố gắng giải quyết nhưng vấn đề phát sinh trong tiến trình thương lượng hòa bình giữa Israel và Palestine theo. Hiệp ước Oslo. Barak, nguyên là một vị tướng được tặng thưởng huân chương nhiều nhất, rất lo lắng về thỏa thuận cuối cùng để có thể hoàn thành mong ước của Yitzhak Rabin - ngươi mà Barak đã từng phục vụ. Barak và người vợ hoạt bát của ông ta, Nava, đã nhanh chóng trở thành những người bạn - những người mà tôi rất thích sự có mặt của họ, ngưỡng mộ sự dấn thân cho hòa bình của họ. Không may, trong khi Barak đến Trại David để thiết lập hòa bình thì Arafat lại không đến. Mặc dù, Arafat luôn nhấn mạnh rằng cần phải lập lại hòa bình trong giai đoạn Bill đương quyền nhưng ông ấy lại chẳng bao giờ sẵn sàng để có những chọn lựa dứt khoát cần thiết cho một thỏa thuận.
Thời gian này, tôi vẫn luôn sát cánh bên Bill vì anh ấy ngày càng chìm trong một tâm trạng đầy thất vọng. Theo yêu cầu của Bill, Chelsea đã tháp tùng bố đến Trại David và đã tham gia vào nhóm dự những bữa tiệc thân mật và những cuộc tán gẫu. Bill cũng yêu cầu trợ lý của tôi - Huma Abedin - giúp anh ấy trong việc tiếp đón các phái đoàn. Là một người Mỹ theo đạo Hồi, sinh ra và lớn lên ở Arab Saudi, nói tiếng Ả-rập, Huma đã thể hiện những kỹ năng và phong cách thanh nhã của một nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm khi cô ứng xử với các đại diện của Palestine và Israel trong giờ giải lao của những cuộc họp và qua trò chơi ném phi tiêu và trò chơi pun.
Cuối cùng, vào trưa ngày 25 tháng 7, Bill thông báo chấm dứt cuộc họp thượng đỉnh không thành công tại Trại David, thừa nhận anh ấy đã cảm thấy thất vọng nặng nề và sẽ cố thúc đẩy hai bên tiếp tục làm việc để tìm kiếm "một nền hòa bình trên cơ sở bình đẳng, lâu dài và toàn diện" . Những nỗ lực của họ tiếp tục trong suốt sáu tháng Bill còn làm việc ở Nhà Trắng và gần như thành công trong những cuộc đối thoại tại Washington và Trung Đông trong tháng 12 năm 2000 và tháng 1 năm 2001 khi Bill đưa ra lời đề nghị cuối cùng và tốt nhất cho một thỏa hiệp hòa bình. Cuối cùng Barak chấp nhận lời đề nghị của Bill nhưng Arafat từ chối. Những biến cố bi thảm xảy ra một vài năm sau này đã chứng tỏ sai lầm nghiêm trọng của Arafat.
Vào khoảng tháng 8 năm 2000, Hội nghị toàn quốc Đảng Dân chủ diễn ra tại Los Angeles. Bill và tôi có kế hoạch nói chuyện với các đại biểu trong đêm đầu tiên ngày 14 tháng 8, và sau đó rời thành phố đNnhường chỗ cho Phó Tổng thống Gore và người được chọn vào vị trí phó Tổng thống, Thượng nghị sĩ Joe Lieberman, tiếp nhận việc đề cử và điều hành hội nghị. Trên sân khấu, tôi đã được tiếp đón bởi những nữ Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ như Barbara Mikulski, Dianne Feinstein, Barbara Boxer, Patty Murray, Blanche Lincoln và Mary Landrieu - người đã từng phải chịu đựng những luận điệu xuyên tạc khi tham gia cuộc đua vào Thượng nghị viện vào năm 1996. Tập trung vào những gì tôi sắp làm trong thời gian tới, tôi muốn biết chắc rằng khi tôi đứng trên diễn đàn, mọi người dân Mỹ đều hiểu được rằng tôi đã hết sức trân trọng cái đặc ân được phục vụ trong tám năm qua với tư cách là Đệ nhất Phu nhân của nước Mỹ. "Bill và tôi sắp khép lại một chương trong cuộc đời mình và chẳng bao lâu chúng tôi sẽ bắt đầu một chương mới... Xin cám ơn quý vị đã giúp tôi có được những cơ hội làm việc tại quê nhà cũng như vòng quanh thế giới về những vấn đề liên quan nhiều nhất đến trẻ em, phụ nữ, gia đình,... (và) cám ơn sự ủng hộ cũng như sự trung thành của quý vị trong những lúc thuận lợi cũng như khó khăn. Xin cám ơn... vì sự vinh dự và cầu xin Chúa ban cho quý vị một cuộc sống an lành.”
Bill phát biểu tiếp theo sau tôi. Bài phát biểu của anh đã gợi lên một sự luyến tiếc khắp Trung tâm Staples. Mọi người hô to "bốn năm nữa" và vây lấy anh ấy bằng sự nồng ấm và lời hô vang như sấm rền. Anh đã trình bày một cách hùng hồn về nhiệm kỳ Tổng thống của mình và nhiệt liệt tán dương Al Gore. Sau đó, chúng tôi ra đi khi vai trò của chúng tôi tại hội nghị đã hết.
Trong vòng mấy ngày, tôi bắt đầu chuẩn bị cho ba đợt tranh luận sắp tới với Lazio. Là một người thuộc Đảng Cộng hòa, trẻ trung, ăn ảnh, đến từ Long Island, Lazio có được sự ủng hộ mạnh mẽ của cử tri từ những khu vực ngoại ô. Không giống Giuliani, Lazio không có tư tưởng chia rẽ, không sắc sảo lắm, cũng không nổi tiếng bên ngoài quận hạt của anh ta. Nhưng được ủng hộ và động viên của những nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa khắp trong nước, anh ta đã xuất hiện như một ứng cử viên đối địch với tôi và tiến hành một chiến dịch truyền bá những thông tin tiêu cực về tôi trong suốt mùa hè. Chiến dịch đó đã không hiệu quả. Một trong những thuận lợi lạ lùng mà tôi có được là mọi người đều nghĩ là họ đã biết rõ về tôi, dù là tốt hay xấu. Vì thế, sự tấn công của Lazio không được mấy ai quan tâm. Cuộc vận động của tôi cũng hầu như bỏ qua tiếng nói cá nhân trong chiến dịch của Lazio mà chỉ tập trung xoáy sâu vào lý lịch bầu cử của anh ta cũng như công việc của anh ta trong Quốc hội với tư cách là trợ thủ cao cấp của Gingrich. Người dân biết rất ít về anh ta và những thông tin mà chúng tôi có được về anh ta là tất cả những gì mà họ cần để điền vào chỗ trống.
Cuộc tranh luận đầu tiên diễn ra tại Buffalo vào ngày 13 tháng 9 và đã được làm dịu đi bởi một người dân bản địa vùng Buffalo, Tim Russert, người dẫn chương trình Meet the Press của Đài truyền hìnhNBC. Sau một loạt các câu hỏi về chăm sóc sức khỏe, kinh tế nông thôn và giáo dục, Tim Russert đã đưa lên một đoạn phim có sự xuất hiện của tôi trong chương trình Today khi tôi tiếp tục bảo vệ cho Bill một cách yếu ớt sau khi vụ bê bối Lewinsky bùng ra. Sau đó Russert hỏi phải chăng tôi cảm thấy “ân hận vì đã đánh lừa người dân Mỹ" và tôi có muốn xin lỗi vì "đã làm ô nhục người dân như một phần trong âm mưu rộng lớn của cánh hữu”.Mặc dù tôi sững sờ với câu hỏi đó, tôi vẫn phải trả lời, vì thế tôi nói "Tim, anh biết đấy, đây là thời gian tôi vô cùng đau khổ cho gia đình tôi và cho đất nước của chúng ta. Nó là một cái gì đó mà tôi cảm thấy ân hận từ tận đáy lòng - một cảm giác mà bất cứ ai trải qua đều có thể hiểu được. Và tôi đã ước tất cả chúng ta có thể nhìn nhận nó từ góc nhìn của lịch sử, nhưng chúng tôi đã không làm được điều đó. Chúng tôi đang chờ đợi những ển sách viết về vấn đề đó... Tôi đã cố gắng chuẩn bị sẵn sàng cho dù mình phải đối mặt với tình huống nào đi nữa. Dĩ nhiên, tôi không đánh lừa ai cả. Tôi không biết sự thật. Và đã có nhiều nỗi đau liên đới mà chắc chắn chồng tôi đã thừa nhận... rằng anh ấy đã đánh lừa đất nước cũng như gia đình mình".
Những câu hỏi cũng xoay quanh các vấn đề trường học, môi trường và những vấn đề địa phương khác, và đó cũng là lúc Lazio đã mắc sai lầm trầm trọng : Anh ta tuyên bố kinh tế nông thôn "đã đi vào ngõ cụt". Nhưng đó là điều không thể nào nghe lọt tai đối với bất kỳ ai đã từng sống ở nông thôn hoặc đã từng có thời gian ở đó. Cho đến lúc đó, tôi đã thường xuyên đến thăm khu vực nông thôn và đã tổ chức những buổi thảo luận kỹ lưỡng với cư dân về những vấn đề như mất việc làm và thanh niên rời bỏ vùng quê. Tôi cũng đã phát triển một kế hoạch kinh tế cho khu vực này - một vấn đề mà các cử tri đang xem xét một cách nghiêm túc.
Khi tiêu điểm của cuộc tranh luận chuyển sang vấn đề quảng cáo chiến dịch và việc sử dụng cái được gọi là "tiền mềm" (soft money) - những quỹ chi tiêu của các ủy ban chính trị bên ngoài dưới danh nghĩa của một ứng cử viên hoặc một vấn đề nào đó - Russert đã đưa lên một đoạn phim quảng cáo của Lazio trong đó vị dân biểu này đứng bên Thượng nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan trong một bức ảnh - một sự gán ghép không thể nào xảy ra. Đoạn phim quảng cáo đã làm méo mó sự thật để khai thác sự nổi tiếng của một công chức đáng kính của New York. Nó được chi trả bằng những khoản "tiền mềm", những đóng góp lớn mà các đảng chính trị, các nhóm bên ngoài sử dụng để ủng hộ cho một ứng cử viên hoặc tấn công đối thủ của họ. Hồi mùa xuân, tôi đã kêu gọi cấm đoán những hình thức "tiền mềm" nhưng tôi không đơn phương nói thẳng ý kiến của mình. Đảng Cộng hòa đtừ chối việc tuyên thệ từ bỏ việc sử dụng "tiền mềm" từ các nhóm bên ngoài, một vài cá nhân trong bọn họ đang bận huy động 32 triệu đô la để ủng hộ cho nỗ lực chạy đua vào Thượng nghị viện của Lazio.
Gần cuối buổi tranh luận, từ phía sau diễn đàn, Lazio bắt đầu khoác lác dọa nạt tôi về vấn đề "tiền mềm” và thách thức tôi cấm sự đóng góp lớn của Đảng Dân chủ vào chiến dịch tranh cử của tôi. Tôi không thể thốt ra được tiếng nào khi anh ta bước tới trước mặt tôi và vẫy vẫy một miếng tạm gọi là miếng giấy "Sự Tự do của New York xuất phát từ Công ước Tiền Mềm" và yêu cầu tôi ký. Tôi từ chối. Anh ta sấn tới gần hơn, hét lên "Ngay đây, ký ngay bây giờ".
Tôi chỉ bắt tay nhưng anh ta tiếp tục làm phiền tôi. Tôi chỉ có đủ thời gian thốt ra một câu để đáp trả trước khi Russert chấm dứt cuộc tranh luận. Tôi không biết Lazio và những nhà cố vấn của anh ta có nghĩ rằng đó là hành động khiêu khích và chọc giận tôi hay không.
Trong suốt chiến dịch tranh cử, tôi cũng đã tôi luyện cho mình quen chịu đựng những vụ tấn công mang tính chất cá nhân và xác định rõ là phải tập trung tấn công vào các vấn đề chứ không phải là cá nhân Lazio. Và giống như niệm thần chú, tôi luôn miệng lẩm bẩm "vấn đề, vấn đề". Bên cạnh việc tỏ ra ích lợi hơn cho cử tri, dường như nó còn là một cách thực hiện chiến dịch tranh cử văn minh hơn.
Cuộc tranh luận là một bước ngoặt mới trong cuộc chạy đua đã giúp đẩy một số cử tri về phía tôi, mặc dù tôi chưa kịp nhận ra điều đó. Khi tôi rời sân khấu, tôi hoàn toàn chưa có ý niệm gì về cách thức mình đã làm và cũng chưa biết chắc những thủ đoạn đối đầu của Lazio sẽ được đón nhận ra sao. Đội ngũ của anh ta lập tức tuyên bố chiến thắng và báo chí đã mua tin này. Nhiều bài báo đầu tiên đã nêu bật những trò "phù phép" của Lazio và tất cả hầu như đã tuyên bố anh ta là người chiến thắng.
Dù sao thì đội của tôi vẫn lạc quan, vui vẻ. Ann Lewis và Mandy Grunwald có cảm tưởng Lazio đã hành động như một con bò mộng hơn là hình ảnh một người lịch sự mà anh ta đang cố gắng tạo ra. Hệ thống trưng cầu dân ý và phản ứng từ những nhóm trọng điểm chẳng bao lâu đã cho thấy: nhiều cử tri, đặc biệt là phụ nữ, cảm thấy khó chịu vì những thủ đoạn của Lazio. Như Gail Collins đã viết trong tờ The New York Times, Lazio đã "xâm chiếm" sân của tôi. Và nhiều cử tri không thích điều đó.
Những phản ứng của công chúng không hề ngăn chặn được việc Lazio tiếp tục chiến dịch ngày càng mang tính tiêu cực và cá nhân. Anh ta gởi đi một lá thư vận động gây quỹ từ thiện mà thông điệp trong đó có thể tóm tắt trong mấy chữ "Tôi đang chống Hillary Rodham Clinton". Chiến dịch của anh ta không vì người dân New York mà nhằm vào tôi. Vì thế, tôi bắt đầu nói chuyện với những thính giá khắp tiểu bang: “Người dân New York xứng đáng hơn thế nhiều. Tại sao chúng ta lại không bắt đầu bằng những từ như : công việc, giáo dục, sức khỏe, an ninh xã hội, môi trường, sự lựa chọn?".
Lazio cũng hâm nóng lại cuộc cải cách chăm sóc sức khỏe trong một loạt các thiết kế quảng cáo nhằm tác động tinh thần của các cử tri. Nhưng như tôi được biết từ nhiều tháng trước trên đường đến các nơi vận động cho cuộc tranh cử của mình, người dân New York dường như trân trọng những nỗ lực cải cách chăm sóc sức khỏe của tôi hơn, cho dù nó đã không thành công trong việc tân trang lại toàn bộ hệ thống. Gần đây, chi phí chăm sóc sức khỏe lại tăng vọt nên những tổ chức y tế và những công ty bảo hiểm đã tỏ ra chặt chẽ hơn trong cơ chế và chính sách giải quyết của họ. Trong suốt con đường vận đ̕ tranh cử, tôi thường đề cập đến việc cải cách từng bước và cách thức mà Thượng nghị viện có thể giải quyết vấn đề gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe thông qua hệ thống lập pháp.
Gần cuối cuộc tranh cử, vào ngày 12 tháng 10, chiến hạm USS Cole bị những kẻ khủng bố tấn công tại Yemen. Vụ nổ đã giết chết 17 thuỷ thủ Mỹ và xé toạc một lỗ trên thân tàu. Vụ tấn công này, giống như các vụ đặt bom tòa đại sứ, sau đó được xác định bắt nguồn từ Al-Qaeda - một mạng lưới những kẻ đạo Hồi cực đoan do Osama bin Laden cầm đầu đã tuyên bố chiến tranh với "những kẻ vô thần và quân thập tự chinh". Cái nhãn đó đã được gán cho tất cả người dân Mỹ và những dân tộc khác trên thế giới, kể cả những người đạo Hồi phản đối những cách thức bạo lực của những kẻ quá khích. Tôi đã bỏ nhiều sự kiện trong chiến dịch tranh cử để cùng Bill và Chelsea bay đến Căn cứ Hải quân Norfolk ở Virginia để dự lễ tưởng niệm. Tôi đã gặp gia đình của những nạn nhân vụ đánh bom vào các tòa đại sứ Mỹ vào tháng 8 năm 1998; tôi đã chia sẻ nỗi đau với gia đình của những thuỷ thủ Mỹ bị sát hại - những thanh niên, thiếu nữ đã phục vụ cho đất nước và mang lại an ninh cho một vùng đất khốc liệt trên thế giới.
Tôi khinh bỉ chủ nghĩa khủng bố và học thuyết hư vô mà nó đại diện, cho nên tôi rất hoài nghi khi Đảng Cộng hòa ở New York và chiến dịch của Lazio nói bóng gió rằng tôi, vì một lý do nào đó, đã dính líu đến những kẻ khủng bố đã tấn công chiến hạm USS Cole. Họ đã đưa lời buộc tội hèn hạ ti tiện này lên một chương trình quảng cáo trên ti-vi và một tin nhắn tự động qua điện thoại trực tiếp đến hàng trăm ngàn cử tri New York 12 ngày trước ngày bầu cử. Câu chuyện họ dựng lên là : tôi đã nhận tiền đóng góp từ một ai đó nằm trong nhóm ủng hộ những kẻ khủng bố - "đây cũng coi như là một loại khủng bố đã giết chết những thủy thủ của chúng ta trên tàu USS Cole". Bản tin truyền qua điện thoại kêu gọi mọi người hãy điện thoại cho tôi và yêu cầu tôi "chấm dứt ủng hộ những kẻ khủng bố". Thật bệnh hoạn. Thủ đoạn liều lĩnh vào phút cuối này được tung ra. Tuy nhiên, thủ đoạn này cuối cùng đã thất bại nhờ sự đáp trả hùng hồn, mãnh liệt từ chiến dịch tranh cử của tôi và sự giúp đỡ của Ed Koch, nguyên là Thị trưởng thành phố. Ông đã cắt đoạn quảng cáo đó trên truyền hình và mắng Lazio. "Hãy ngưng ngay những trò đùa bịp bợm, nhớp nhúa.”
Vào những tuần cuối của chiến dịch, tôi cảm thấy tự tin rằng mình sẽ thắng. Nhưng chúng tôi phải thực hiện một chiến dịch cuối cùng trong tuần lễ trước ngày bầu cử khi cuộc chạy đua đột ngột trở nên căng thẳng hơn. Ứng cử viên đảng đối lập, Lazio, đã tung ra một chiến dịch quảng cáo với hai diễn viên đóng vai hai phụ nữ vùng ngoại thành, họ hỏi nhau rằng: liệu tôi có quá trơ tráo khi xuất đầu lộ diện tại New York và có xứng đáng làm Thượng nghị sĩ hay không. Chúng tôi không biết có phải là do cử tri bị tác động bởi chương trình quảng cáo của Lazio hay bị ảnh hưởng bởi những cú điện thoại khủng bố, hay đơn giản sự "đổi ngôi" chỉ là may mắn tạm thời.
Tôi đã làm cho Mark và Mandy rối tinh lên cho tới hai giờ sáng hôm sau khi quyết định phải thực hiện nỗ lực cuối cùng để tiếp cận những phụ nữ vẫn còn do dự về vấn đề ứng cử của tôi. Theo tôi, Lazio đặc biệt yếu kém trong vấn đề nghiên cứu ung thư vú, một vấn đề mà tôi đã theo đuổi suốt 8 năm. Sau khi Lazio tham gia cuộc chạy đua vào Thượng nghị viện, giới lãnh đạo của Hạ nghị viện đã cho phép anh ta "chiếm dụng" một dự luật quan trọng về việc lập ngân quỹ hỗ trợ các bệnh nhân ung thư vú, đây là sản phẩm trí tuệ của Anna Eshoo - dân biểu bang California đã nhận được sự ủng hộ của cả hai đảng. Giới lãnh đạo Hạ nghị viện nêu tên anh ta với tư cách là người bảo trợ duy nhất cự luật đó để anh ta có thể dựa vào đó như một dấu hiệu cho sự cam kết đối với các vấn đề liên quan đến phụ nữ. Thật quá tệ hại. Tệ hơn nữa, khi dự luật đã được thông qua, chính anh ta là người ủng hộ cho việc cắt giảm ngân quỹ của chương trình. Tôi rất quan tâm đến việc nghiên cứu và chữa trị ung thư vú nên hết sức căm phẫn khi biết được Lazio đã chơi đòn chính trị trong vấn đề quan trọng và nhạy cảm này.
Marie Kaplan, một bệnh nhân sống sót sau căn bệnh ung thư vú và đã từng ủng hộ Lazio ngay chính trên địa hạt Long Island của anh ta, nay đã trở thành một trong những tình nguyện viên chiến dịch trung thành của tôi. "Tại sao chúng ta lại không nhờ Marie thực hiện một chương trình quảng cáo?”, tôi đưa ra ý kiến. Và tôi đã thực hiện điều đó. Xét về nhiều mặt thì đấy là một chương trình quảng cáo tốt nhất của chiến dịch. Marie giải thích những gì Lazio đã làm đối với dự luật lập quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư vú và sau đó cô ấy nói: "Tôi có nhiều bạn bè hỏi về Hillary. Tôi đã nói với họ: 'Tôi biết cô ấy”. Về các vấn đề ung thư vú, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và nữ quyền, Hillary không bao giờ ngoảnh mặt. Bà ấy sẽ luôn có mặt bên cạnh chúng ta". Marie đã tóm tắt mọi vấn đề mà tôi muốn mọi người nghĩ đến khi họ quyết định bỏ phiếu.
Tôi đã làm việc không mệt mỏi cho đến phút cuối, thực hiện chiến dịch tại Hạt Westchester cùng với nghị sĩ Nita Lowey buổi sáng sớm trước ngày bầu cử, 7 tháng 11. Bill và Chelsea đã bỏ phiếu cùng với tôi tại điểm bầu cử địa phương đặt tại trường tiểu học Douglas Graffin ở Chappaqua. Sau nhiều năm, tôi đã quen nhìn thấy tên của Bill trong lá phiếu nhưng lần này, tôi thật sự hồi hộp và tự hào khi nhìn thấy tên mình.
Kết quả kiểm phiếu vào buổi chiêu hôm đó cho thấy tôi đã thắng cử vượt mức tưởng tượng. Tôi đang chuẩn bị thay quần trong phòng khách sạn thì Chelsea lao vào báo tin. Tỉ lệ cuối cùng là 55% so với 43%. Sự làm việc miệt mài đã được bù đắp và tôi thật sự biết ơn vì có được cơ hội đại diện cho New York cũng như có thể đóng góp xây dựng đất nước trong vai trò mới.
Trong khi đó, cuộc tranh cử Tổng thống thật sự đang trên đường trượt dốc. Lúc bấy giờ, chúng tôi gần như không để ý là chỉ còn 36 ngày nữa cả nước sẽ biết được tân Tống thòng là ai. Chúng tôi cũng không thể tưởng tượng đã xảy ra những cuộc biểu tình, khiếu nại, kêu gọi, thách thức chung quanh cuộc bầu cử đang bị tranh chấp ở Florida. Chúng tôi đã bổ sung vào kho thuật ngữ chính trị của mình những từ như "bỏ phiếu bướm" và "gian lận phiếu”.
Những vấn đề không rõ ràng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đã phần nào làm giảm đi sự phấn chấn của tôi trong đêm bầu cử, nhưng thật sự thì không có gì có thể làm giảm bớt niềm vui chiến thắng tại buổi tiệc ở khách sạn Grand Hyatt gần Grand Central Terminal ở thành phố New York. Phòng tiệc chật ních nhân viên vận động tranh cử, bạn bè, những người ủng hộ và các cố vấn trung thành vì sự nghiệp của Hillary - những người đã vắng mặt ở Nhà Trắng trong tuần cuối cùng của chiến dịch để hỗ trợ cho những hoạt động "GOTV" (lôi kéo cử tri). Tôi gần như được bao bọc trong sự rộng lượng và phóng khoáng của người dân New York - những người đã lắng nghe tôi, biết tôi và cần đến sự giúp đỡ của tôi. Và tôi đã xác định là sẽ không làm cho họ thất vọng. Tôi cùng Bill, Chelsea, mẹ tôi và rất nhiều người ủng hộ hòa vào không khí buổi tiệc tràn đầy tiếng nhạc và bong bóng.
Sau khi đón nhận nhiều cái ôm hôn, bắt tay chúc mừng, tôi đã đứng trên bục để nói lời cám ơn những người đã ủng hộ tôi. Tôi nói "62 hạt, 16 tháng, 3 đợt tranh luận, 2 đối thủ và dùng hết 6 cái áo choàng, chúng tôi đã có mặt ở đâyả các bạn" .
Sau tám năm với tước hiệu mà không có chức vụ, giờ đây tôi đã là một "Thượng nghị sĩ chưa nhậm chức".
Hai ngày sau cuộc bầu cử Thượng viện, kết luận về cuộc tranh cử Tổng thống giữa Al Gore và George W. Bush vẫn còn đang trong vòng tranh cãi, tôi đã trở lại Nhà Trắng để tổ chức một buổi lễ kỷ niệm 200 năm thành lập Nhà Trắng. Đó có thể là một buổi tối khó xử vì không khí chính trị căng thẳng. Tất cả những cựu Tổng thống và Đệ nhất Phu nhân đều có mặt (ngoại trừ Tổng thống và bà Reagan không thể dự vì chứng bệnh Alzheimer của Tổng thống) cũng như hậu duệ, bà con của các Tổng thống. Một lễ hội trang trọng, hoành tráng do Hội Lịch sử Nhà Trắng tài trợ trở thành một buổi trình diễn nền dân chủ Mỹ khi mỗi cựu Tổng thống đều hùng hồn phát biểu về những chịu đựng mà đất nước Mỹ phải trải qua khi đối mặt với những cuộc tranh cãi và bạo động.
"Một lần nữa", Tổng thống Gerald Ford phát biểu, "nền cộng hòa lâu đời nhất thế giới đã chứng minh khả năng tồn tại bền vững của Hiến pháp, năng lực và sự cần thiết phải sát cánh bên nhau sau một chiến dịch gay go. Sự mâu thuẫn giữa những quan điểm chính trị của các đảng phái là điều hiển nhiên nhưng điều đó vẫn không ngăn cản sự chuyển giao chính quyền một cách êm thấm".
Đây là những bằng chứng sống cho thấy rằng nền tảng của nước Mỹ vẫn mạnh hơn những cá nhân, những chính trị gia và bằng chứng cho thấy rằng Tổng thống, Thượng nghị sĩ và các thành viên Hạ nghị viện đến rồi lại đi, nhưng chính phủ thì vẫn tiếp tục tồn tại hoạt động, không hề suy suyển.
Cuối cùng, Al Gore đã thắng phiếu phổ thông với trên 500.000 phiếu nhưng không được chọn làm Tổng thống theo quy phiếu cử tri đoàn (hay còn gọi là phiếu đại cử tri). Tòa án Tối cao biểu quyết 5-4 vào ngày 12 tháng 12 để chấm dứt việc kiểm lại phiếu ở bang Florida và xem như đã "đóng dấu” cho việc thắng cử của Bush. Hiếm khi nào trong lịch sử lại có trường hợp quyền bầu chọn của dân chúng lại bị ngăn cản bởi sự lạm quyền rành rành của ngành tòa án.
Ngay trước khi có yêu cầu kháng cáo, Thẩm phán Antonin Scalia đã yêu cầu ngưng ngay việc kiểm lại phiếu ở Florida vào ngày 9 tháng 12 năm 2000 một cách vội vã. Theo Scalia, nếu tiếp tục kiểm phiếu, có thể sẽ gây "tác hại không thể khắc phục được" cho Thống đốc Bush. Scalia viết: việc kiểm phiếu có khả năng sẽ "phủ một đám mây lên những gì mà Bush đã tuyên bố về tính hợp pháp trong việc bầu chọn ông ta". Lý luận của ông ngầm ám chỉ: Việc tiếp tục kiểm phiếu phải được ngưng ngay bởi vì có khả năng số phiếu đã cho thấy Bush đã không thắng cử. Quyết định trong vụ Bush v. Gore đã chống lại chính Tòa án Tối cao bảo thu. Thay vì trì hoãn phiên tòa cao nhất của bang Florida về những vấn đề thuần túy về luật Tiểu bang thì Tòa án Tối cao lại can thiệp tìm kiếm những vấn đề liên bang để gạt bỏ nó. Và thay vì tiếp tục quan điểm hẹp hòi của họ đối với vấn đề bảo vệ bình đẳng, đảng chiếm đa số đã đi ra ngoài con đường của mình để tìm cách vi phạm việc bảo vệ sự bình đẳng.
Đảng chiếm đa số cho rằng tiêu chuẩn kiểm phiếu của bang Florida, đòi hỏi kiểm lại mọi thùng phiếu nếu nó phản ảnh mục đích rõ ràng của cử tri thì không đủ chuyên biệt bởi vì nó có thể được những người kiểm phiếu khác nhau diễn dịch theo nhiều cách khác nhau. Giải pháp của họ là từ chối quyền bầu cử đối với tất cả công dân đòi kiểm phiếu lại, cho dù những lá phiếu của họ được đánh dấu rất rõ ràng. Một điều lạ lùng, Tòa án Tối cao đã thận trọng khuyến cáo "việc xem xét của chúng tôi chỉ dừng lại ở những trường hợp hiện tại vì những vấn đ̓ông bằng trong tiến trình bầu cử thường có nhiều sự phức tạp". Họ thừa hiểu rằng quyết định khó có thể bảo vệ và cũng không có ý định để áp dụng nó cho những trường hợp khác. Đơn giản là họ đưa ra việc tranh cãi để gây chú ý và sau đó kết luận lại bằng cách buộc phải chấp nhận. Tôi không nghi ngờ gì rằng nếu Bush, chứ không phải là Gore, bị dẫn điểm trong vụ kiểm phiếu không hoàn tất, 5 vị thẩm phán bảo thủ chắc sẽ cùng quyết định kiểm lại tất cả các thùng phiếu.
Người dân Mỹ bây giờ không còn tranh cãi gì nữa về cuộc bầu cử và chấp nhận những nguyên tắc của luật pháp nhưng vì chúng tôi hướng tới cuộc bầu cử kế tiếp, chúng tôi phải đảm bảo rằng mỗi công dân khi đi bầu phải cảm thấy tự do, không bị ép buộc hoặc không bị từ chối tại những nơi bỏ phiếu với thiết bị tối tân hiện đại và những nhân viên đã được huấn luyện. Chúng tôi chỉ có thể hy vọng rằng Tòa án Tối cao sẽ có sự kiềm chế tốt hơn và khách quan hơn nếu như họ phái giải quyết một đợt bầu cử Tổng thống có nhiều vấn đề tranh cãi.
Bill và tôi gần như mất tinh thần khi biết kết quả bầu cử và lo lắng không biết đất nước sẽ ra sao khi những chính sách của Đảng Cộng hòa đã từng bị thất bại sẽ lại được thực thi. Tôi chỉ có một cảm giác thoải mái duy nhất là chẳng bao lâu nữa tôi sẽ bắt đầu công việc mới và có dịp sử dụng tiếng nói và lá phiếu của mình nhân danh những giá trị và chính sách mà tôi nghĩ là tốt nhất cho New York và cho nước Mỹ. Cuối cùng, ngày ấy cũng đã đến. Vì chỉ có thành viên của Quốc hội và nhân viên của họ được phép vào phòng họp Thượng viện - Tổng thống cũng không ngoại lệ - Bill phải chứng kiến lễ tuyên thệ của tôi từ phòng dành cho quan khách cùng với Chelsea và những thành viên khác trong gia đình. Đã 8 năm, tôi đã từng chứng kiến Bill phát biểu về những định hướng tương lai của đất nước trong chính tòa nhà này. Ngày 3 tháng 1 năm 200 tôi đã bước lên bục để tuyên thệ "ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp của Hoa Kỳ chống lại tất cả những kẻ thù ngoại bang và trong nước... và hoàn thành một cách tận tụy những nhiệm vụ của mình". Khi tôi xoay lại và nhìn về hướng phòng khách, tôi thấy mẹ, con gái và chồng tôi đang mỉm cười với tân Thượng nghị sĩ của New York.
Ba ngày sau, vào một buổi chiều mưa thứ Bảy, chúng tôi tổ chức một buổi tiệc chia tay trong một cái lều vải khổng lồ ở Khu vườn phía Nam cho tất cả những người đã làm việc hoặc tình nguyện làm việc tại Nhà Trắng suốt tám năm qua. Mọi người từ khắp đất nước đều có mặt để gặp gỡ bạn bè và hồi tưởng về những công việc mà họ từng làm cho Chính phủ. Thật là một buổi họp mặt cảm động, và cũng là dịp để Bill và tôi nói lời cám ơn cuối cùng với hàng trăm nam, nữ - những người đã làm việc cật lực với nhiều hy sinh về bản thân để tham gia phục vụ đất nước trong Chính quyền của Bill. Từ những người trợ lý chỉ mới 23 tuổi cho đến những thư ký chính phủ đã ngoài 60 tuổi - họ đều là những người đã giúp đôn đốc thực hiện chương trình làm việc của Bill và thể hiện tầm nhìn của anh đối với tương lai nước Mỹ.
Trong khi các nhân viên đang nâng cốc chúc mừng nhau thì Al và Tipper Gore đã đến với Bill và tôi hàng giờ tại buổi tiệc.
"Đây chính là ứng cử viên đã giành đa số phiếu trong cuộc bầu cử Tổng thống", tôi nói, giới thiệu Al với mọi người đang cụng ly, hô hào chúc tụng. Al đề nghị những ai đã lấy chồng, lấy vợ và sinh con trong thời gian làm việc cho Chính phủ thì giơ tay lên. Hàng loạt cánh tay giơ lên. Và sau đó, với sự sắp đặt của Capricia, mọi người ồ lên khi tấm màn sân khấn kéo lên và Fleetwood Mac xuất hiện từ sau cánh gà. Rồi thì ban nhạc tấu lên những thanh âm mở đầu cho bản nhạc “Don’t Stop Thinking About Tomorow”, - bản nhạc vui trong chiến dịch của Bill năm 1992 - đám đông cùng đồng ca như một dàn hợp xướng ồn ào vui vẻ điệp khúc của bài hát.
Tôi gần như thuộc nằm lòng bài hát. Đã một thời nó được xem là một câu nói sáo rỗng nhưng câu nói có thể đúc kết triết lý chính trị của tôi là "Luôn hướng về tương lai". Cần hướng về những gì mà chúng ta phải làm để nước Mỹ được an toàn hơn, thanh lịch hơn, thịnh vượng hơn, mạnh mẽ hơn và tốt hơn, và để làm sao mọi người dân Mỹ đều chuẩn bị cho việc cạnh tranh và hợp tác trong một cộng đồng toàn cầu. Khi tôi nghĩ về ngày mai của mình, tôi cảm thấy háo hức được làm việc tại Thượng nghị viện nhưng cũng cố gắng vượt qua nỗi nhớ những người đã đồng hành cùng chúng tôi, đặc biệt là cho những người đã không còn nữa.
Trong 2 tuần kể tiếp, tôi lang thang từ phòng này sang phòng kia, ghi lại trong trí nhớ tất cả những gì mà tôi yêu thích tại Nhà Trắng, say sưa nhìn ngắm các chi tiết kiến trúc, chăm chú xem những bức tranh trên tường, cố gắng nhớ lại cảm giác diệu kỳ mà tôi cảm thấy trong lần đầu tiên đến đây. Tôi ngồi nán lại ở phòng của Chelsea, tưởng chừng như vẫn đang nghe thấy tiếng cười của bạn bè Chelsea và những bản nhạc Chelsea yêu thích. Chelsea đã trưởng thành từ một đứa trẻ thành một thiếu nữ tại nơi này. Nhiều kỷ niệm đã lớn lên cùng Chelsea tại Nhà Trắng - kỷ niệm của con gái một vị Tổng thống rất hạnh phúc, tôi đoán chắc như vậy.
Mỗi buổi sáng và chiều, tôi đắm mình trong chiếc ghế ưa thích ở Phòng khách phía Tây - một nơi ẩn dật thật lý tưởng nơi mà hàng ngày, trong suốt 8 năm, tôi đón chờ Chelsea đi học về, gặp những nhân viên, tán gẫu với bạn bè, đọc sách và hồi tưởng. Vào lúc đó, tôi lại cảm thấy thích thú với khoảng thời gian cũng như nơi chốn đặc biệt này, yêu thích việc ngắm những tia nắng rọi qua khung cửa sổ hình quạt rực
Trong vài tuần cuối, không ít lần, tôi hồi tưởng lễ nhậm chức đầu tiên của Bill vào năm 1993 - một sự kiện sống động như vừa diễn ra ngày hôm qua, mà cũng lại có cảm giác như đã lùi vào dĩ vãng đã từ lâu lắm. Chelsea và tôi thả bộ lần cuối cùng xuống Khu vườn Trẻ - ẩn mình sau sân teunis - nơi mà con cháu của các vị Tổng thống còn để lại dấu tay trên nền xi măng. Bên ngoài Khu vườn phía Nam, Bill và tôi nhìn qua hàng rào, hướng về đài tưởng niệm Tổng thống Washington như chúng tôi đã từng làm trước đây không biết là bao nhiêu lần. Bill ném trái banh tennis cho con chó Buddy đuổi bắt trong khi con mèo Socks bám sát theo sau.
Những nhân viên Nhà Trắng bận rộn chuẩn bị đón Đệ nhất gia mới, những người sẽ cùng chúng tôi trò chuyện, uống cà phê, ăn bánh ngọt vào ngày 20 tháng 1 trước khi tất cả chúng tôi đến Điện Capitol để tuyên thệ. Đây là lần thứ 43 trong lịch sử nước Mỹ, người dân đã chứng kiến một sự chuyển giao quyền lực êm thấm, một nhiệm kỳ Tổng thống chấm dứt và một nhiệm kỳ khác bắt đầu. Khi chúng tôi vào Đại sảnh lần cuối với tư cách là người chủ Ngôi nhà của Nhân dân, những nhân viên cố cựu ở đây đã tụ họp lại để chia tay chúng tôi. Tôi cám ơn người trồng hoa về những bình hoa mà cô ấy đã cắm hết sức nghệ thuật đặt ở các phòng, tôi cám ơn đội ngũ đầu bếp về những bữa ăn mà họ đã chuẩn bị chu đáo cho chúng tôi, cám ơn những người quản gia đã lưu ý đến từng chi tiết nhỏ hàng ngày, cám ơn đội làm vườn đã chăm sóc những khu vườn và tất cả những nhân viên tận tụy khác - công việc của họ đã làm cho Nhà Trắng ngày càng rực rỡ hơn. Buddy Carter, người quản gia kỳ cựu của Nhà Trắng đã đón nhận cái ôm hôn tạm biệt của tôi và chuyển thành một điệu nhảy vui nhộn. Chúng tôi nhảy, xoay tròn trên nền đá cẩm thạch. Chồng tôi xen vào, ôm tôi trong vòng tay như trước đây chúng tôi đã từng nhảy điệu valse dọc theo dãy hành la
Rồi thì tôi cũng phải nói lời chia tay với ngôi nhà tôi đã trải qua 8 năm sống cùng lịch sử.