Từ châu Á, tôi trở về vừa kịp lúc để lo việc nhập học của Chelsea. Mặc dù con bé vẫn còn thích được mẹ nuông chiều giúp đỡ, nó cũng đã 15 tuổi và rất muốn được thử thách tính độc lập của bản thân. Tôi phải nhượng bộ khi nó nài nỉ được đi xe chung với các bạn thay vì phải luôn ngồi phía sau xe do nhân viên mật vụ lái. Tôi muốn nó sống một cuộc sống bình thường của tuổi thiếu niên mặc dù cả hai vợ chồng chúng tôi đều biết hoàn cảnh của nó không bình thường chút nào. Cho dù việc sống ở Nhà Trắng hiển nhiên là khác biệt so với những đứa trẻ khác, cuộc sống của con bé luôn xoay quanh bạn bè, trường học, nhà thờ và ba lê. Năm ngày một tuần, sau giờ học, nó tập múa ba lê một vài giờ tại Trường Ba lê Washington, sau đó quay trở về Nhà Trắng để đối mặt với hàng núi bài tập về nhà dành cho các học sinh phổ thông vì chúng phải cậtực chuẩn bị cho kỳ tuyển sinh vào đại học sắp đến. Chelsca không còn thích lúc nào cũng có mẹ bên cạnh nên tôi có nhiều thời gian hơn để hoàn tất quyển sách của mình (It Takes a Village). Tôi phải bỏ ra nhiều giờ đế viết cũng như tuyển người phụ giúp để có thể kịp thời hạn xuất bản vào ngày lễ Tạ ơn.
Vào tháng Mười, tôi dự định đi châu Mỹ La tinh lần đầu tiên để tham dự cuộc gặp mặt thường niên của các Đệ nhất Phu nhân ở vùng Tây Bán cầu. Trước đó vào tháng 12 năm 1994, ở Miami, tôi và Bill đăng cai tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh các nước thuộc châu Mỹ, dịp đó đã cho phép chúng tôi cơ hội gặp gỡ tất cả các lãnh tụ và phu nhân ở Tây Bán cầu. Bill kiên quyết nhấn mạnh vai trò chủ đạo của Mỹ trong việc đề cao các giá trị dân chủ trong khu vực vì trừ Cuba, các nước còn lại đều theo chế độ dân chủ.
Đây là một tin tức tốt lành cho người dân trong khu vực và cả nước Mỹ, nhưng chính phủ Mỹ cần phải giúp đỡ các nước láng giềng cải thiện kinh tế, xóa nghèo đói, giảm mù chữ và cải thiện y tế. Việc chấm dứt xung đột nội bộ, triển vọng mở rộng thương mại và các cơ hội đầu tư có thể giúp nâng cao mức sống trong khu vực để một ngày nào đó có thể hình thành một khối liên minh Tây Bán cầu từ cực bắc Canada cho đến mũi phía nam ở Argentina. Nhưng có hàng tỉ việc cần phải làm để đạt được sự thịnh vượng đó.
Tuy nhiên, trong chuyến này, chúng tôi đi về phía nam của châu Mỹ với mục đích kiểm tra các chương trình phát triển của Mỹ nhằm giúp đỡ phụ nữ và trẻ em trong khu vực, mà tình trạng cuộc sống của họ sẽ phản ánh được mức tiến bộ về chính trị và kinh tế của một đất nước. Tôi nóng lòng muốn làm việc với các đồng nghiệp nhằm phát triển và thực hiện một chương trình chung để xoá bỏ bệnh sởi và giảm tỉ lệ tử vong của thai nhi ở khắp Tây Bán cầu. Ở quá khứ,chính sách đối ngoại với các nước trong khu vực, các chính phủ Mỹ có khuynh hướng dành các khoản viện trợ tài chính cho các lực lượng quân sự nhằm đối đầu với chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trên các quốc gia đó, nhưng thực tế đôi khi những lực lượng quân sự này lại đàn áp chính người dân của đất nước họ. Những năm sau đó, các Chính phủ Mỹ lại tiếp tục ủng hộ những hệ thống cải tổ vi phạm nhân quyền, từ El Salvador tới Chile. Nhưng Chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton muốn cho thế giới biết rằng nước Mỹ ngày nay không làm ngơ trước những vi phạm về nhân quyền như thế.
Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là Nicaragua, một đất nước có trên bốn triệu dân, đã trải qua những năm tháng nội chiến và một cơn động đất khủng khiếp gần như san bằng thủ đô Managua năm 1972. Violeta Chamorro, Nữ Tổng thống đầu tiên của Nicaragua, đứng đầu một chính phủ đầy tham vọng nhưng lại quá mỏng manh của một đất nước nổi tiếng với chiến tranh và chế độ độc tài trong nhiều thập kỷ qua. Năm 1990, lần đầu tiên trong lịch sử Nicaragua, Tổng thống Chamorro đã bất ngờ giành chiến thắng và trở thành người lãnh đạo phong trào đối lập của một trong những cuộc bầu cử dân chủ hợp pháp đầu tiên. Bà là một người thanh lịch và có tính cách đặc biệt. Bà đã tiếp tôi tại điền trang ở Managua. Bà đã biến nơi này thành một đền thờ cho người chồng quá cố của mình, một người biên tập báo đã bị những lực lượng trung thành của nhà độc tài Anastasio Somoza ám sát vào năm 1978. Trong sân sau của ngôi nhà có trưng bày chiếc xe hơi bị bắn nát của chồng bà - một vật kỷ niệm mang tính biểu trưng cho một đất nước đầy rẫy những mối nguy hiểm mà bà đang điều hành. Một lần nữa, tôi thật sự thán phục trước sự can đảm của người phụ nữ mà bi kịch cá nhân đã dẫn dắt bà đến cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và chống lại thế lực đối nghịch.
Tại một trong những vùng nghèo nhất của Managua, tôi đã viếng thăm những phụ nữ đã sáng lập tổ chức tín dụng nhỏ với tên gọi "Những bà mẹ thống nhất". Với nguồn tài trợ của USAID và sự điều hành của FINCA (Tổ chức Giúp đỡ Cộng đồng Quốc tế) những người phụ nữ này đã là một minh chứng cho sự thành công của chương trình hỗ trợ nước ngoài của Mỹ. Họ cho tôi xem những sản phẩm mà họ làm hoặc mua để bán lại như mùng, dụng cụ nướng, phụ tùng xe hơi. Tôi thật sự ngạc nhiên khi một trong số những người phụ nữ đó bảo đã nhìn thấy tôi trên truyền hình lúc tôi đang đến thăm một địa điểm trong dự án SEWA ở Ahmadabad, Ấn Độ. Cô ấy hỏi tôi: "Những người phụ nữ Ấn Độ có giống chúng tôi không?". Tôi bảo với cô ấy rằng những người phụ nữ Ấn mà tôi gặp cũng mong muốn cải thiện cuộc sống bằng cách kiếm ra nhiều tiền đề trang trải chi phí học hành cho con, sữa chữa nhà cửa và tái đầu tư vào công việc kinh doanh. Những người này đã giúp tôi có thêm nghị lực để có thể vận động được nhiều hơn các nguồn tài trợ của chính phủ Mỹ cho các dự án tín dụng như trên khắp thế giới cũng như thiết lập các dự án tín dụng nhỏ trên chính đất nước của chúng ta. Năm 1994, tôi đã cổ động cho việc thành lập Quỹ Tài chính Phát triển cộng đồng (CDFI) để hỗ trợ các ngân hàng cộng đồng trên khắp nước Mỹ nhằm cung cấp các khoản vay và nợ tài chính cho những người dân nghèo khó, túng quẫn nhưng bị các ngân hàng truyền thống từ chối cho vay. Tôi tin tưởng rằng tín dụng nhỏ có thể giúp được nhiều người nhưng điều quan trọng là cần phải có những chính sách kinh tế quốc gia tốt như ở Chile, nơi tôi đã viếng thăm tiếp sau đó.
Chile đã trải qua những năm tháng dưới chế độ độc tài tàn bạo của Tướng Augusto Pinochet, người bị bãi nhiệm vào năm 1989. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Eduardo Frei do dân bầu, Chile đã trở thành một mô hình thành công tầm cỡ toàn cầu về chính trị và kinh tế. Vợ của Frei, Marta Larrachca de Frei, là mẫu Đệ nhất Phu nhân mà tôi thật sự mến mộ. Với sự trợ giúp của một nhóm nhân viên chuyên nghiệp, bà giải quyết nhiều vấn đề từ tín dụng đến cải cách giáo dục. Trong một dự án tín dụng ở Santiago, thủ đô của Chile, tôi và Marta gặp một phụ nữ sử dụng số tiền vay để mua một chiếc máy may mới cho tiệm may của mình. Khi cô ấy nói với chúng tôi rằng cô có cảm giác "giống như chim sổ lồng", tôi thật sự tin rằng cuối cùng tất cả phụ nữ trên thế giới sẽ được tự do lựa chọn cuộc sống của riêng họ - giống như bốn đứa con yái của Marta và con gái của tôi.
Femando Henrique Cardoso, Tống thống Brazil từ năm 1994, cũng đã đi đến quyết định cải tổ nền kinh tế sau một thời kỳ bất ổn. Vợ của ông, Ruth Cardoso, một nhà xã hội học, nắm giữ một vị trí chính thức trong chính phủ của chồng mình nhằm cải thiện điều kiện sống của những người Brazil nghèo khổ trong các thành phố đông đúc và những vùng nông thôn rộng lớn. Tôi đã gặp gỡ gia đình Cardoso tại phủ Tổng thống ở Brasilia, một tòa nhà hiện đại bằng kính, thép và đá hoa cương. Tại buổi gặp mặt với Ruth, chúng tôi đã bàn về tình trạng của phụ nữ Brazil. Đó là một tình trạng thật trớ trêu. Những phụ nữ có trình độ và giàu có thì lại có nhiều cơ hội rộng mở, ngược lại với phần đông phụ nữ Brazil thì thiếu học vấn và thiếu cơ hội để phát triển. Gia đình Cardoso nói với tôi rằng họ đang tập trung vào việc thay đổi hệ thống giáo dục hiện tại với nhiều bắt công ngày càng sâu sắc vì giáo dục tiểu học công chỉ mở một vài giờ trong ngày tại nhiều miền của đất nước, cơ hội giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho những người có đủ tiền để học ở trường tư hay thuê thầy dạy riêng. Việc tiếp cận giáo dục bậc cao phần nhiều chỉ dành cho những sinh viên có khả năng, nhưng phần lớn họ thuộc tầng lớp trên của xã hội
Sự bất bình đẳng giữa giàu và nghèo càng rõ hơn khi chúng tôi ghé thăm thành phố Salvador de Bahia trên bờ biển Brazil. Salvador là một thành phố mang đậm những ảnh hướng của người Brazil gốc Phi mà tổ tiên họ được đưa đến đây như những người nô lệ. Tại một quảng trường đầy ắp người vui chơi đầy vẻ hân hoan, tôi đã xem buổi biểu diễn của Olodum - một ban nhạc địa phương nhưng trở nên nổi tiếng nhờ hát lại những bài hát của Paul Simon. Olodum gồm khoảng 12 chàng trai trẻ chơi trống với đủ kích cỡ và hình dạng. Họ chơi nhạc điện tử đinh tai trong khi đám đông đang nhảy trên những hòn đá cuội.
Trong khi Olodum tạo ra cảm giác tích cực về cuộc sống của người dân ở Salvador, bệnh viện phụ sản mà tôi viếng thăm buổi sáng hôm sau lại thể hiện rõ những cơ cực hàng ngày nơi đây. Một nửa số bệnh nhân là thai phụ, nửa còn lại là bệnh nhân phụ khoa, nhiều người trong số đó thú nhận bị mắc bệnh vì phá thai lậu. Bộ trưởng Y tế hướng dẫn tôi tham quan sáng hôm đó đã nói rằng mặc dù có luật chống phá thai nhưng "Những phụ nữ giàu thì có thể áp dụng biện pháp tránh thai nếu cần, trong khi những phụ nữ nghèo thì không".
Khi tôi đến Asunción, thú đô của Paraguay,. một đất nước không có biển, để gặp gỡ các vị Đệ nhất phu nhân của khu vực Tây bán cầu, tôi đã nhìn thấy vô số những khó khăn mà châu Mỹ La tinh đang phải đối diện cũng như những biện pháp triệt để cho những vấn đề đó. Trong buổi hội thảo, chúng tôi đã làm việc với nhau về một kế hoạch chủng ngừa cho tất cả trẻ em để phòng chống bệnh sởi và tạo cơ hội cho các em gái được đi học. Trên đường đến dự buổi tiệc do Tổng thống Juan Carlos Wasmosy và phu nhân là bà Maria Teresa Carrasco de Wasmosy tiếp đãi tại Dinh Tổng thống, tôi đã lên một chiếc xe buýt và ngồi vào chiếc ghế trống cạnh một phụ nữ tóc trắng có vẻ tử tế. Bà trông có vẻ quen quen, nhưng tôi không tài nào nhớ được bà là ai. Để biết được điều này, tôi thử hỏi là bà đã mất bao nhiêu thời gian trên đường đến Paraguay (để hình dung về vị trí địa lý của đất nước bà) và tình hình đất nước của bà như thế nào. "Tốt, ngoại trừ lệnh cấm vận", bà nói với vẻ mặt vô cảm.
Tôi đã ngồi cạnh Vilma Espin, chị vợ của Fidel Castro, người đại diện cho ông trong buổi họp. May mắn là không có ai hiểu sai về việc sắp xếp chỗ ngồi này là nhằm vào việc thiết lập tình hữu nghị với Cuba.
Mặc dù chuyến đi chỉ kéo dài có năm ngày, nó đã trở thành kim chỉ nam cho các chuyến đi đến miền Trung Mỹ, Nam Mỹ và vùng Caribbe trong tương lai. Việc giao tiếp cá nhân đã củng cố và xây dựng các mối quan hệ, giúp cho việc hợp tác trong những dự án quan trọng được dễ dàng hơn.
Tôi đã từng thấy tầm quan trọng trong những mối quan hệ như thế trong bối cảnh của vùng Trung Đông. Một vài tuần trước chuyến đi Mỹ La tinh, Hoàng hậu Noor của Jordan, các Đệ nhất Phu nhân Leah Rabin của Israel và Suzanne Mubarak của Ai Cập đã đến Washington cùng với phu quân để ký một hòa ước quan trọng trong lịch sử nhằm chấm dứt tình trạng chiếm đóng của quân đội Israel ở những thành phố West Bank. Trước khi diễn ra nghi thức ký kết tại Phòng Đông vào ngày 28 tháng 9 năm 1995, tôi đã tổ chức buổi tiệc trà cho các phu nhân của những nhà lãnh đạo Trung Đông đến tham dự sự kiện này.
Leah, Suzanne, Noor và tôi chào đón nhau như những người quen cũ tại Phòng Bầu Dục Vàng ở tầng hai. Chúng tôi cố gắng chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp thành viên mới của nhóm, bà Suha Arafat, phu nhân của Chủ tịch Palestine. Tôi đã rất tò mò về bà. Tôi biết bà xuất thân từ một gia đình tiếng tăm. Mẹ của bà là Raymonda Tawil, một nhà thơ và tiểu thuyết gia nổi tiếng tiên tiến trong xã hội của bà. Suha trẻ hơn Arafat rất nhiều, đã từng làm việc cho PLO trước cuộc hôn nhân đầy bất ngờ với ông. Bà ấy vừa hạ sinh một bé gái và đó là đề tài chung để chúng tôi nói chuyện. Mỗi người chúng tôi đều cố gắng tạo không khí thật thoải mái cho bà ấy nhưng dường như Suha không được tự nhiên lắm.
Tôi thường bàn với Leah, Suzanne và Noor về các cuộc thương thuyết đang diễn ra. Chúng tôi giữ mối liên lạc và trao đổi thông tin thân mật với nhau nhưng tuyệt nhiên không bàn về các bí mật quốc gia. Thỉnh thoảng Noor hay Leah gọi cho tôi với một thông điệp rằng Vua hay Thủ tướng của họ muốn liên lạc với Tổng thống Mỹ thông qua những kênh thông tin không chính thức này.
Giờ đây, nhớ lại buổi chiều yên ắng đó của mùa thu năm 1995, tôi thấy như đó là khoảng lặng trước một cơn bão táp dữ dội.
Trong buổi ký kết hiệp ước cuối ngày hôm đó tại Phòng Đông, Vua Hussein đã đùa với tôi về luật cấm hút thuốc mà trước đó tôi đã đề nghị cho Nhà Trắng. "Ít nhất thì Thủ tướng Rabin và tôi đã không hút thuốc khi chúng tôi ở đây... cám ơn bà rất nhiều vì ảnh hưởng tích cực của bà về vấn đề này". Tôi đề nghị du di cho ông và Thủ tướng Rabin nhưng ông đã từ chối mọi "đặc quyền". "Hơn nữa", ông nói, "đảm bảo cuộc họp sẽ ngắn gọn thôi".
Buổi tiệc tối đó tại Corcoran Gallery đã trở thành một cuộc marathon diễn thuyết. Sau cùng khi đến lượt Yitzhak Rabin phát biểu, ông đã nhìn thẳng vào Arafat, người có bài diễn thuyết dài như một thiên anh hùng ca, và nói: "Các bạn biết không... ở Israel, có một câu ngạn ngữ : Môn thể thao nào là của người Do Thái?... Đó là môn diễn thuyết". Ông ngừng lại một nhịp rồi tiếp: "Thưa Chủ tịch Arafat, tôi bắt đầu tin, rằngông sắp trở thành một người Do Thái rồi". Cả khán phòng cười ầm lên và Arafat cũng cười theo.
Sau khi quay về nước, Rabin đã cố hết sức để đảm bảo một tương lai của Israel không còn bạo lực và khủng bố. Nhưng buồn thay, ông đã không sống đến ngày giấc mơ của ông trở thành hiện thực.
Thứ Bảy ngày 4 tháng 11 năm 1995, trong lúc tôi đang viết sách ở tầng trên thì Bill gọi báo cho tôi biết Rabin đã bị ám sát khi ông đang đi vận động hòa bình tại Tel Aviv. Kẻ ám sát không phải là một người Palestine hay một người Ả-rập mà là một người Israel thuộc cánh tả cực đoan, hắn kết tội Rabin đã thương thuyết với người Palesine và đồng ý nhường đất cầu hòa. Tôi chạy xuống cầu thang và thấy các cố vấn đang vây quanh Bill. Tôi ôm chầm và giữ chặt lấy anh. Đây quả là một mất mát quá lớn. Chúng tôi thật sự ngưỡng mộ Rabin với tư cách một nhà lãnh đạo. Bill xem ông ấy như một người bạn, và còn một chút gì đó giống như hình ảnh một người cha. Chúng tôi trở về phòng, để tiếc thương. Hai giờ sau đó, tại Vườn Hồng, Bill đã có một bài diễn thuyết thật cảm động và hùng hồn để tiễn biệt một nhà lãnh đạo và cũng là một người bạn lớn: "Tối nay, đất nước mà ông đã dâng trọn cuộc đời mình sẽ thật đau buồn. Nhưng tôi muốn cả thế giới ghi nhớ những gì mà Thủ tướng Rabin đã nói tại Nhà Trắng không đầy một tháng trước đây. "Chúng ta không nên để mảnh đất đang tuôn chảy những dòng sữa và mật ong biến thành mảnh đất đầy máu và nước mắt. Đừng để điều đó xảy ra."
Nhưng bây giờ điều đó đã xảy ra cho chúng ta, cho nhân dân Israel, khắp Trung Đông và cả thế giới, những người yêu chuộng và đấu tranh cho hòa bình. Yitzhak Rabin, một người đồng sự, một người bạn của tôi. Tôi thật sự khâm phục và yêu mến ông. Vì không lời nào có thể bày tỏ được hết cảm xúc chân thật của mình, xin chỉ nói Shalom, chaver - Tạm biệt, bạn tôi."
Những lời cuối cùng bằng tiếng Do Thái đó đã trở thành tiếng than khóc chính thức của đám đông dân chúng. Khi đến Israel dự đám tang Rabin, chúng tôi thấy nhiều biểu ngữ ghi lại lời của Bill.
Bill đã mời một phái đoàn đặc biệt gồm cựu Tổng thống Jimmy Carter và George H. W. Bush, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu và bốn mươi thành viên Quốc hội cùng chúng tôi đến dự tang lễ ở Jerusalem vào ngày 6 tháng 11. Ngay khi đến Israel, Bill và tôi đến gặp Leah tại tư gia. Tôi thật đau lòng cho bà ấy. Giống như Jackie Kennedy, bà đã ở bên cạnh chồng cả khi ông bị bắn. Trông bà thật đau khổ và già hẳn đi so với vài tuần trước, khi ở Washington. Chúng tôi không đủ lời để diễn đạt sự đau buồn. Tại lễ an táng ở Nghĩa trang Har Herzl, các Quốc vương Ả-rập, Thủ tướng và Tổng thống bày tỏ sự trân trọng đối với một chiến sĩ đã hy sinh cho hòa bình. Sau khi Bill đọc bài điếu, Leah đã ôm anh thật lâu. Lời ai điếu cảm động nhất là của đứa cháu ngoại của Rabin. Bé Noa Ben Artzi-Pelossof đã nói với người ông yêu quý của mình: "Ông ngoại ơi, ông như cây củi lớn của đám lửa trại và giờ đây ông bỏ chúng con ở lại buổi trại tối tăm này, chúng con lạnh lắm.”
Vì lý do an ninh, Arafat không tham dự buổi lễ tang nhưng Bill đã gặp gỡ Mubarak, Hussein và Shimon Peres, quyền Thủ tướng, người đã thương thảo Hiệp ước Oslo, và cùng chia sẻ giải Nobel Hòa bình với Arafat và Rabin năm 1994. Như đứa cháu ngoại của Rabin nhắc nhở chúng ta, hòa bình giống như một ngọn lửa mong manh cần được chăm chút liên tục, nếu không nó sẽ tắt.
Trên chuyến bay đường dài trở về Washington, Bill đã mời Tổng thống Carter và Bush đến phòng hội nghị trên chiếc Air Force One cùng anh hồi tưởng về Rabin và bàn luận về tiến trình hòa bình ở Trung Đông. Carter đã thành công trong việc giám sát Hiệp ước Trại David giữa Israel và Ai Cập còn Bush đã triệu tập được Hội nghị Madrid, lần đầu tiên đem các bên liên quan ở Trung Đông ngồi vào bàn đàm phán hòa bình cho khu vực. Khi chúng tôi quyết định đi nghỉ, Bill và tôi đến khoang dành riêng cho Tổng thống ở phía trước của máy bay, bao gồm một phòng làm việc, một phòng tắm và một giường với hai giường ngủ dạng sofa. Bill và tôi không biết phải tiếp đón hai vị cựu Tổng thống bằng cách nào vì thế chúng tôi mời họ ngủ trong phòng của bác sĩ và y tá khá rộng rãi và thoải mái trên những chiếc giường xếp. Những vị khách khác ngủ trên trường kỷ hay trên ghế của họ trong khu vực VIP ở phía sau máy bay. Vài ngày sau, chúng tôi được biết Newt Gingrich đã phẫn nộ về nơi ngủ nghỉ trên máy bay và không hài lòng về những gì mà ông ta cho là lối đi cửa sau không kèn trống mà chúng tôi đã dành cho ông ta và những vị khách khác khi máy bay đáp tại căn cứ không quân Andrews.
Cuộc thử thách cuối cùng về ngân sách liên bang đã được chuẩn bị từ mùa xuân trước, khi những người thuộc Đảng Cộng hòa trong Quốc hội bắt đầu phác thảo những dự luật về tài chính nhằm phản ánh những nguyên tắc trong Giao ước với nước Mỹ của họ. Họ đòi hỏi chính phủ phải cắt giảm một khoản lớn thuế má và đồng thời thiết lập một ngân sách cân bằng trong thời hạn bảy năm. Đây quả là yêu cầu thách thức tất cả các nguyên tắc số học và chỉ có thể đạt được khi cắt giảm triệt để ngân sách cho những chương trình về giáo dục, bảo vệ môi trường, chăm sóc y tế như các chương trình Hỗ trợ Y tế và Chăm sóc Sức khỏe. Họ đưa ra một chương trình cải cách an sinh trọn gói bao gồm cả những ý tưởng kế hoạch xã hội thật tàn bạo như từ chối cung cấp an sinh xã hội cho những bà mẹ độc thân dưới 18 tuổi. Họ hứa hẹn hủy bỏ việc giảm các khoản tiền cho việc chăm sóc y tế, bằng cách nâng tiền thuế đối với những người lớn tuổi.
luôn muốn làm việc với những người thuộc Đảng Cộng hòa nhưng yêu cầu về vấn đề ngân sách của họ là không thể chấp nhận được. Anh cho biết sẽ phủ quyết bất kỳ dự luật nào đề nghị giảm việc chăm sóc y tế, làm phương hại đến trẻ em và bỏ rơi người nghèo không được bảo vệ. Và anh tuyên bố sẽ đưa ra một ngân sách cân bằng của riêng mình mà không phải áp dụng việc cắt giảm một cách thô bạo và những con số giả tạo theo kế hoạch của Gingrich. Đến cuối kỳ nghỉ mùa hè, Đảng Cộng hòa vẫn chưa thống nhất với chính phủ về vấn đề ngân sách, và đến cuối năm tài chính liên bang vào ngày 30 tháng 9, nguồn ngân sách dành cho hoạt động của Chính phủ đã hoàn toàn cạn kiệt. Quốc hội và Tổng thống đồng ý với "một nghị quyết tạm thời" - một khoản nới rộng ngân sách tạm thời - cho phép Ngân khố xuất những ngân phiếu trong khi vẫn tiếp tục việc thương thuyết. Nhưng nghị quyết thay thế tạm thời này đã chấm dứt vào nửa đêm 13 tháng 11 mà không có một ngân sách mới lẫn một thỏa thuận về một ngân sách tạm thời nào được đưa ra.
Khi thời hạn cuối cùng về ngân sách đến gần thì tôi cũng đang cố gắng tăng tốc cho kịp thời hạn cuối của quyển sách mà tôi đang viết. Tôi viết và viết, viết như điên những chương sách của mình. Tuy vậy, tôi vẫn luôn tỏ rõ quan điểm về vấn đề này dù dưới hình thức trực tiếp hay thông qua nhân viên. Tôi cho rằng điều tiên quyết là Bill không nên đồng ý với những đặc quyền ngân sách mà Gingrich đưa ra.
Mặc dù Đảng Cộng hòa đe dọa đóng cửa Chính phủ, Bill vẫn từ chối nghị quyết mới được gửi cho anh sau đám tang của Rabin. Nghị quyết này còn khắc nghiệt hơn những nghị quyết trước. Dường như Gingrich đang bày trò chơi "gà" chính trị, nhưng ông ta đã không đánh giá đúng đối thủ. Bill cũng đã phủ quyết nghị quyết nàMặc dù Bill luôn bận rộn với các cuộc thương thuyết suốt ngày đêm ở Dinh Tây, anh vẫn luôn tranh thủ hỏi ý kiến tôi. Anh biết tôi rất lo lắng về các đề nghị của phe Cộng hòa cho các chương trình Hỗ trợ tế và Chăm sóc Sức khỏe. Tôi đã đề nghị anh cho một trong những nhân viên của tôi, Jennifer Klein, tham gia vào các cuộc thương thuyết và giúp đỡ trong việc phân tích, báo cáo chính xác mức độ nguy hiểm về các đề nghị của phe Cộng hòa đối với các chương trình này. Tôi muốn được trực tiếp liên lạc với các nhân viên của Bill về những vấn đề nhạy cảm này. Anh đã đồng ý cho Jen giúp đỡ Chris Jennings, trưởng nhóm phụ trách dự án của Chính phủ nhằm bảo vệ các chương trình này và những chương trình y tế khác. Jennings đã từng là cố vấn hàng đầu của Tổng thống về vấn đề y tế và tôi luôn tin tưởng vào chuyên môn của ông trong suốt thời gian tôi làm việc ở Nhà Trắng.
Ngày 13 tháng 11, Chính phủ cạn ngân sách hoạt động và theo luật định, Tổng thống phải đóng cửa Tòa nhà Chính phủ. Đây là một. quyết định đau lòng cho Bin và thực tế là như vậy. Anh lo lắng về hậu quả của việc đóng cửa Chính phủ và cho nghỉ phép gần 800.000 nhân viên liên bang, chỉ những nhân viên thật sự "thiết yếu” mới được phép tiếp tục công việc mà không có lương. Khi một chương trình tương tự như chương trình "Những Bữa ăn trên xe" không được cấp ngân sách, sẽ có khoảng sáu trăm ngàn người lớn tuổi lệ thuộc vào chương trình trợ cấp này gặp rắc rối. Ban Quản trị về Nhà ở Liên bang không thể tiến hành việc bán hàng ngàn căn nhà. Sở Cựu chiến binh ngừng chi trả những khoản tiền tới hạn từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho những góa phụ và những người thụ hưởng khác. Những tượng đài quốc gia ở Mall sẽ đóng cửa. Công viên Quốc gia Yellowstone và Grand Canyon phải đuổi khách tham quan đi. Hai xe tải đầy những cây thông Giáng sinh chuẩn bị cho lễ Diễu hành Hòa Bình ở Washington bị kẹt đâu đó ở phía đông Ohio vì Dịch vụ Công viên Quốc gia không thể chất chúng lên xe hay trồng nó cho ngày lễ.
Một sự yên lặng kỳ lạ bao trùm Nhà Trắng. Hầu hết các nhân viên của tòa nhà và ở Dinh Đông được cho về nhà. Sở Mật vụ được xem là thiết yếu nhưng thư ký và người làm vườn thì không. Nhân viên của Dinh Tây giảm từ 430 xuống còn khoảng 90; nhân viên văn phòng của tôi bị cắt giảm còn 4 người. Những tình nguyện viên được trám vào để thử quản lý một công việc mà lẽ ra không được phép ngừng cho dù bất kỳ tình huống nào. Nhưng đây chỉ là những bất tiện nhỏ. Nếu không có nghị quyết, những vấn đề thật sự sẽ bắt đầu vào cuối tháng khi các hóa đơn thanh toán tới hạn. Và tôi thật sự lo lắng không biết phải làm gì nếu một tình trạng khẩn cấp của quốc gia hay khủng hoảng quốc tế xảy ra đúng vào thời điểm đó.
Mỗi bên đổ lỗi lẫn nhau về việc đóng cửa Chính phủ, nhưng Gingrich thì ngồi gõ đầu ngón tay khi ông ta ăn sáng với cánh phóng viên vào ngày 15 tháng 11. Gingrich nói rằng ông ta đã gửi một bản nghị quyết ngân sách khắt khe hơn cho Nhà Trắng vì ông có cảm giác là Bill đã coi thường ông ta trên chiếc Air Force One trong chuyến quay về nước sau đám tang của Thủ tướng Rabin.
"Vấn đề đó nhỏ nhặt thật nhưng nó thể hiện tính nhân văn”, Gingrich nói "Bạn đã ở trên máy bay khoảng 25 giờ đồng hồ và không một ai nói chuyện với bạn và họ chỉ bảo bạn ra khỏi máy bay bằng chiếc thang ở phía sau... Bạn sẽ tự hỏi, ý thức về cách cư xử của họ ở đâu mất rồi? Ý thức về lịch sự của họ ở đâu?”.
Ngày hôm sau trên trang bìa của tờ New York Daily News xuất hiện một tiêu đề lớn CRY BABY bên trên một hình ánh biếm họa Gingrich đang mặc tã. Buổi chiều hôm đó, Nhà Trắng đã đưa ra bức ảnh do nhà nhiếp ảnh của Nhà Trắng Bob McNeely chụp. Bức ảnh chụp cảnh Gingrich ngồi trên máy bay và đang nói chuyện với Tổng thống và Dole - lãnh đạo phe đa số - trông ông ta rất hài lòng. Lời trích dẫn của Gingrich và bức ảnh tràn lan trên các phương tiện truyền thông. Với một lời nhận xét tự nuông chiều bản thân, ông ta đã làm mất uy tín của chính mình và đảm bảo rằng dân Mỹ sẽ kết tội Quốc hội, chứ không phải Chính phủ, về việc Chính phủ bị đóng cửa. Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc nhưng dường như chiến trường đang đổi hướng.
Chính phủ đóng cửa khoảng sáu ngày, lần đóng cửa lâu nhất trong lịch sử. Cuối cùng hai bên đồng ý một khoản gia hạn ngân sách khác cung cấp tài chính cho Chính phủ đến ngày l5 tháng 12. Nhiều người đã phải chịu đựng khó khăn và âu lo nhưng vì đất nước về lâu về dài, Bill cần phải giữ vững quan điểm của mình.
Khi nhìn lại lịch làm việc trong 3 tháng cuối năm 1995, tôi gần như không thể tin rằng chúng tôi đã có thể giải quyết thật nhiều vấn đề và sự kiện như vậy. Cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành quyển It Takes a Village trong suốt thời gian nghỉ lễ Tạ ơn tại Trại David cùng với gia đình và những người bạn thân. Rồi lại đến lúc phải chuẩn bị mùa lễ Giáng sinh với lễ Diễu hành Hòa bình và lễ Đốt đèn Cây thông Quốc gia (National Tree Lighting Ceremony), bao gồm những cây thông Scotch ở Ohio mà cuối cùng cũng đã được đưa đến khi Chính phủ mở cửa trở lại.
Ngày 28 tháng 11, Bill và tôi khởi hành chuyến công du đến Anh, Ireland, Đức và Tây Ban Nha. Tôi đến nước Anh lần đầu tiên vào năm 1973 cùng với Bill khi chúng tôi bỏ buổi phát bằng của Trường Luật Yale. Với tư cách là những sinh viên nghèo, chúng tôi bay với giá vé cho sinh viên - khoảng ít hơn 100 đô la một vé - ở những nhà trọ giá rẻ hay ngủ nhờ trên ghế sofa của bạn bè và đi theo một lịch trình bất định. Vậy mà, hơn hai mươi năm sau, năm 1995, chúng tôi quay lại nước Anh trên chiếc Air Force One, đi chiếc limousine chống đạn và lịch trình được tính đến từng phút.
Quan hệ giữa Bill vàThủ tướng Major trở nên tệ hơn một cách nhanh chóng khi chúng tôi phát hiện Chính phủ Major hợp tác với Chính phủ Bush nhằm tiết lộ hồ sơ về các hoạt động của Bill ở Anh trong suốt thời kỳ sinh viên chống đối chiến tranh Việt Nam. Những hồ sơ đó không hề tồn tại nhưng chính sự sục sạo thái quá của Đảng Bảo thủ Anh vào chính trị Mỹ đã làm rối mọi chuyện. Những mối quan hệ càng trở nên căng thẳng hơn vào thời điểm năm 1994, khi Bill đã cấp visa cho Gerry Adams, người đứng đầu Sinn Fein, đảng phái chính trị của Quân đội Cộng hòa Ireland.
Trong lịch sử chưa từng có một Tổng thống Mỹ nào can dự vào việc trung gian hòa giải những vấn đề cửa Ireland, nhưng lần này, Bill quyết định phải giúp đỡ các bên liên quan tìm ra giải pháp. Rõ ràng là trong quá khứ, Adams có liên quan đến các hoạt động của Quân đội Cộng hòa Ireland và Bộ Ngoại giao Mỹ đã đồng tình với lý lẽ của Chính phú Anh trong việc không cấp visa cho anh ta. Nhưng Chính phủ Ireland lại cho rằng việc giải quyết vấn đề của Adams và tổ chức Sinn Fein là hợp lý. Họ tin tưởng rằng Bill có thể đóng vai trò trung gian nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho những cuộc thương thuyết hòa bình. Trong trường hợp này, Bill sẵn sàng chấp nhận những rủi ro chính trị để chứng minh một điều rằng bạn không cần phải hòa giải với bạn bè của mình và bạn không thể hòa giải với kẻ thù trừ phi bạn sẵn lòng nói chuyện với họ. Anh quyết định cấp visa cho Adams và quyết định đó đã đúng. Bắc freland đã có được một cuộc ngừng bắn và chẳng bao lâu sau chúng tôi đã đến Belfast để ăn mừng.
Trong số tất cả những chuyến công du mà chúng tôi thực hiện trong suốt 8 năm Bill làm Tổng thống, đây là một trong những chuyến đi đặc biệt nhất. Bill tự hào về tổ tông Ireland mà anh thừa hưởng từ mẹ, một người xứ Cassidy. Chelsea mê những câu chuyện cổ tích Ireland khi nó còn là một bé gái. Lần đầu tiên nó nhìn thấy Ireland là vào năm 1994, lúc nửa đêm tại phi trường Shannon khi chúng tôi dừng lại để tiếp xăng cho chuyến bay sang Nga. Nó xin được ra ngoài cánh đồng để chạm vào đất Ireland. Tôi thấy con bé hốt một ít đất đặt vào chai để mang về nhà. Một trong những quyển sách yêu thích nhất của Bill và Chelsea là quyển How the Irish Saved Civilizatiton của Thomas Cahillh mà Bill đã tặng những người bạn và đồng nghiệp. Tuy nhiên, không ai trong chúng tôi từng đến Ireland ngoại trừ lần ghé sân bay Shannon.
Giờ đây, chúng tôi có những cám xúc rất mạnh mẽ trước lời chào truyền thống tuyệt đẹp bằng tiếng Gaelic: Céad míle fáilte (Một trăm ngàn lời đón mừng).
Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi ở Belfast là nhà máy Mackie, một nhà máy sản xuất máy dệt và là một trong số ít nhà máy ở Bắc Ireland đã thành công trong việc hòa hợp những người Thiên Chúa giáo và Tin Lành trong đội ngũ nhân viên. Hai đứa trẻ một bé gái Thiên Chúa giáo mà cha của bé đã bị ám sát năm 1987 và một bé trai Tin Lành, cùng nắm tay nhau để chào đón Bill. Vì lịch sử chia cách về tôn giáo, hầu hết người dân Belfast sống trong một cộng đồng chia rẽ tôn giáo và đi học ở các trường nhà thờ. Sự xuất hiện tay trong tay của hai đứa trẻ là một biểu tượng cho một tương lai mới.
Trong khi Bill gặp gỡ và làm việc với nhiều đảng phái chính trị khác nhau, tôi đã tách riêng để gặp những người nữ lãnh đạo của phong trào hòa bình. Họ đã tìm được tiếng nói chung vì họ sẵn sàng vượt qua sự ngăn cách về tôn giáo để làm việc cùng nhau. Tôi gặp Joyce McCartan, 65 tuổi tại nhà hàng Lamplighter Traditional Fish and Chip. Bà ấy là một phụ nữ khá đặc biệt, là người lập nên Trung tâm Thông tin Vãng lai cho Phụ nữ sau khi đứa con trai 17 tuổi của bà bị bắn chết bởi những tay súng Tin Lành. Hơn một chục người thân của Joyce đã chết vì bạo lực. Joyce và những người phụ nữ khác đã lập nên trung tâm này như một ngôi nhà an toàn để phụ nữ của cả hai tôn giáo tụ họp và trao đổi với nhau về những nhu cầu và nỗi sợ hãi mà họ gặp trong cuộc sống. Tỉ lệ thất nghiệp cao, c những phụ nữ Thiên Chúa giáo lẫn phụ nữ Tin Lành đều lo lắng về giới thanh niên trong cộng đồng vì chúng không có việc làm. Chín người phụ nữ ngồi quanh bàn tròn mô tả nỗi sợ hãi và lo lắng mà họ phải chịu đựng mỗi khi chồng và con trai mình bước ra khỏi nhà và cảm giác nhẹ nhõm khi họ trở về an toàn. "Điều đó buộc những người phụ nữ luôn phải nhắc nhở chồng con của họ phải cẩn thận", Joyce nói.
Những người phụ nữ này hy vọng cuộc ngừng bắn sẽ kéo dài và bạo lực sẽ mãi mãi chấm dứt. Họ rót trà từ những ấm trà bằng thép không rỉ trông rất bình dân. Khi tôi khen ấm trà tốt giữ được trà rất ấm thì Joyce nài nỉ tôi nhận một ấm trà làm kỷ niệm. Tôi vẫn sử dụng ấm trà móp méo đó mỗi ngày trong nhà bếp của gia đình nhỏ chúng tôi trong Nhà Trắng.
Joyce mất không lâu sau chuyến viếng thăm của chúng tôi và tôi được vinh dự mời trở lại Belfast năm 1997 để đọc bài diễn văn tưởng nhớ ngày mất đầu tiên của Joyce McCartan tại Đại học Ulster. Tôi đã mang theo chiếc ấm và đặt nó trên bục diễn thuyết khi tôi nói về lòng dũng cảm của những người phụ nữ Ireland như Joyce, rất đỗi bình thường bên những chiếc bàn ăn và những ấm trà nhưng đã góp phần thiết lập con đường đi đến hòa bình.
Từ Belfast, chúng tôi bay đến Derry trên chiếc trực thăng Marine One dọc theo bờ biển của Bắc Ireland. Derry là quê hương của John Hume, một trong những kiến trúc sư của tiến trình hòa bình, người cùng chia sẻ giải thưởng Nobel Hòa bình với David Trimble, nhà lãnh đạo của Đảng Hợp nhất ở Ulster, một đảng Tin Lành lớn nhất. Hume là một người cao to, trông già nua với khuôn mặt phúc hậu và có tài hùng biện. Ông là lãnh đạo của SDLP, Đảng Lao động Dân chủ Xã hội, thành lập năm 1970 nhằm thúc đẩy giải pháp hòa bình cho "Những người chống đối”. Ông luôn ủng hộ việc hòa giải, không bạo lực trong cộng đồng của mình từ nhiềuập kỷ qua và Bill muốn ghi nhận những mối nguy hiểm cá nhân mà ông phải gánh chịu vì hòa bình. Hàng chục ngàn người đứng trên đường, dưới cái lạnh tê người để chào đón Bill và nước Mỹ, họ hô vang: "Chúng tôi muốn gặp Bill, chúng tôi muốn gặp Bill". Tôi cảm thấy tự hào và khâm phục chồng mình.
Một đám đông khổng lồ khác đợi chúng tôi ở Tòa thị chính khi chúng tôi trở lại Belfast để tham dự lễ thắp sáng cây thông Giáng sinh. Một tiếp viên hải quân đi cùng Tổng thống nhìn vào biển người và nói: "Tất cả những người này trông rất giống nhau, tại sao họ lại giết nhau".
Tôi đứng trước đám đông và đọc các đoạn trích dẫn từ những lá thư mà trẻ em viết để bày tỏ niềm hy vọng về một nền hòa bình vĩnh cửu. Sau đó, Bill cùng hai bạn trẻ đã viết những lá thư ấy cùng bật công tắc để thắp lên những ngọn đèn trên cây Giáng sinh. Anh cũng nói về hy vọng và hòa bình. Anh nói với mọi người tụ họp tại buổi lễ rằng ngày mà chúng tôi ở Belfast, Derry và quận Londonderry sẽ là một trong những ngày đáng nhớ nhất trong đời chúng tôi. Tôi hoàn toàn đồng ý với điều đó.
Tối đó, chúng tôi dự một buổi tiệc chiêu đãi tại Đại học Queens do Bộ trưởng phụ trách Bắc Ireland trong chính phủ Anh, ngài Patrick Mayhew, tổ chức với sự tham dự của đại diện nhiều đảng phái. Nhiều người trong số đó chỉ mới gặp nhau một lần trước đây khi họ đến Nhà Trắng để mừng ngày lễ Thánh Patrick hồi tháng Ba. Tại buổi gặp mặt ở Belfast, lãnh đạo phe Thiên Chúa giáo đứng gần ban nhạc còn những người Tin Lành tập trung ở phía đối diện của căn phòng. Ian Paisley, nhà lãnh đạo cứng rắn của Đảng Hợp nhất Dân chủ theo Tin Lành đã có mặt nhưng không hề bắt tay "những người Thiên Chúa giáo La Mã". Giống như những người theo đạo chính thống ở khắp mọi nơi, ông ta có vẻ quá cổ lỗ, không hề muốn thừa nhận một thực tế mới.
Sáng hôm sau, chúng tôi bay đến Dublin, thủ đô của Ireland. Từ những năm 1990, Ireland đã được các chuyên gia kinh tế xem như là "Con hổ Celtic" vì nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc và sự thịnh vượng mới đã thôi thúc người Ireland sống ở hải ngoại trở về nước. Bill đã bổ nhiệm Jean Kennedy Smith, em gái của Tổng thống Kennedy, làm Đại sứ tại Ireland năm 1993 và bà ấy đã hoàn thành xuất sắc công việc đó. Ở Dublin, chúng tôi đã viếng thăm Mary Robinson, nữ Tổng thống Ireland đầu tiên, tại dinh Tổng thống. Tổng thống Robinson và phu quân, Nick, là những người thật bình dị và dễ trò chuyện. Họ là những người tâm huyết với tiến trình hòa bình ở Ireland và rất quan tâm đến những chuyện ở Belfast và Derry. Bà ấy chỉ cho chúng tôi một ngọn đèn được thắp sáng liên tục ở phía trước cửa sổ nhà bà để chào đón bất kỳ người dân Ireland xa xứ nào muốn tìm đường quay về tổ quốc.
Sau đó, tôi đến Bảo tàng Quốc gia để gặp gỡ những người phụ nữ của hai miền Nam Bắc Ireland. Trong bài diễn văn trực tiếp trên truyền hình quốc gia, tôi đã ca ngợi lòng dũng cảm của những người phụ nữ Ireland, những người đã chiến đấu cho hòa bình. Trước đó, trong một chương trình phỏng vấn những nữ luật gia, tôi đã nói đùa với một nhân vật truyền hình Ireland nổi tiếng khi anh ta chào đón các nữ luật gia bằng câu hỏi "Ai lo cho bọn trẻ để các bà có thể tham dự buổi phỏng vấn này?". Tôi mỉm cười và nói "Tôi mong một ngày, những người đàn ông sẽ bị hỏi cùng một câu hỏi đó". Khắp Ireland người ta tranh luận về những gì mà phụ nữ được phép lựa chọn, đặc biệt trong cuộc sống gia đình. Một tuần trước đó, Chính phủ Ireland thông qua một cuộc trưng cầu ý kiến về việc hợp pháp hóa vấn đề ly hôn trước sự phản đối kịch liệt của Nhà thờ Công giáo La Mã. Những người phụ nữ tham dự buổi gặp gỡ đó biết rõ rằng vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn trở ngại dành cho họ mặc ù phụ nữ đã đạt được nhiều tiến bộ trong nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.
Tôi gặp lại Bill tại Ngân hàng Ireland bên cạnh Trường Cao đẳng Xanh của Đại học Trinity. Chính tại đây, chúng tôi đã gặp gỡ Bono và các thành viên khác của ban nhạc U2. Kể từ đó chúng tôi xem nhau như bạn. Bill và tôi đã làm việc với Bono về các vấn đề toàn cầu mà Bono luôn quan tâm như xóa nợ cho nước nghèo, thêm nguồn tài trợ cho việc chống HIVAIDS. Tôi thật sự ngợp khi chúng tôi bước trên sân khấu được chuẩn bị cho bài diễn thuyết của Bill. Hàng trăm ngàn người đứng chật cứng trên đường và khắp bãi cỏ để nghe Tổng thống Mỹ nói. Bill kêu gọi mọi người làm việc cho hòa bình, rằng không có sự bất hòa nào không thể giải quyết và ngay cả "Những người chống đối" cũng có thể giành được hòa bình trong tương lai.
Trước khi đến thăm Quốc hội Ireland, gọi là Dáil, chúng tôi đã đi mua sắm một ít và sau đó vào một quán rượu Cassidy. Đội tiền trạm của chúng tôi đã tham khảo các tư liệu về gia phả để tìm ra những người Cassidy có họ hàng với Bill và họ đã gặp chúng tôi tại quán rượu để uống một cốc bia Guinness. Chẳng lâu sau đó tôi có thể kết luận là tất cả những người Ireland ít nhiều đều có liên hệ gia phả với nhau theo cách này hay cách khác.
Chiều tối hôm đó, chúng tôi đã thật sự phấn khích khi gặp Scanlus Heaney, nhà thơ đoạt giải Nobel và vợ ông, bà Marie tại tư gia của Đại sứ Smith. Bài thơ The Cure at Troy của Heaney đã tạo hứng khởi cho đề tài của Bill, anh cho rằng đây chính là thời điểm mà "niềm hy vọng và lịch sử cùng hòa điệu tại mảnh đất Ireland này".
Ireland đã tiếp thêm sức mạnh và hứng khởi cho tôi, và lúc đó tôi đã ước rằng chúng tôi có thể đóng vào chai những cảm xúc tốt đẹp ấy và mang chúng trở về .