Cuộc đối đầu về Hiến pháp tại Quốc hội đã tạo ra một phông nền kỳ quặc cho sự suy đoán ngày càng tăng về việc tôi tham gia cuộc chạy đua vào vị trí Thượng nghị sĩ New York. Tôi còn chưa quan tâm gì đến việc chạy đua vào chiếc ghế của Thượng nghị sĩ Moynihan, nhưng đến đầu năm 1999, những nỗ lực hết mình của giới lãnh đạo Đảng Dân chủ đã làm tôi thay đổi ý định. Tom Daschle, thủ lĩnh nhóm thiểu số ở Thượng viện, người tôi vô cùng kính trọng, đã gọi điện động viên tôi. Nhiều đảng viên Đảng Dân chủ từ New York và trên khắp đất nước cũng làm như vậy. Tôi cảm thấy các đảng viên Đảng Dân chủ New York dày dạn khác sẽ thích hợp hơn cho cuộc chạy đua vì họ tỏ ra không kém phần nổi trội. Nữ đại biểu Quốc hội Nita Lowey, Trưởng ban Quản trị bang New York H. Carl McCall và Bộ trưởng Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị dưới Chính quyền Clinton Andrew Cuomo những nhân vật đứng đầu danh sách đó.
Nhân vật có khả năng được đề cử của Đảng Cộng hòa là Rudolph Giuliani, Thị trưởng thành phố New York, sẽ là một đối thủ đáng gờm cho bất kỳ một ứng cử viên Đảng Dân chủ nào. Lo lắng về viễn cảnh mất đi một chiếc ghế đã có từ lâu đời của Đảng Dân chủ, các thủ lĩnh Đảng dốc sức đưa ra một ứng viên có tiểu sử xuất sắc tương đương, đó phải là người có thể huy động những khoản tiền thật lớn để đáp ứng yêu cầu của một cuộc chạy đua như thế. Trong một khía cạnh nào đó, tôi là một sự lựa chọn liều lĩnh - một nhân vật nổi tiếng của công chúng có lẽ có khả năng để đấu lại tiểu sử tầm cỡ quốc gia của Giuliani và những túi tiền kếch sù của đảng ông ta. Trong bối cảnh đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ý tưởng ra tranh cử của tôi được khuấy động lên vài ngày trong năm mới trong chương trình Meet the Press của Hãng NBC.
Vị khách vào ngày Chủ nhật, mùng 3 tháng 1 là Thượng nghị sĩ Robert Torricelli bang New Jersey, người đứng đầu Ủy ban Chiến dịch tranh cử Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ, chịu trách nhiệm tuyển chọn ứng cử viên và quyên góp tiền cho các chiến dịch của Đảng Dân chủ. Người dẫn chương trình Tim Russert đã hỏi Torricelli về cuộc chạy đua vào Thượng viện và loan báo trên đài phát thanh rằng Torricelli tin chắc tôi sẽ tranh cử.
Khi nghe được những nhận định của Torricelli, tôi đã gọi điện cho ông ta. Tôi nói: "Bob, anh xuất hiện trên đó bàn luận về cuộc đời tôi. Anh biết là tôi sẽ không tranh cử. Tại sao anh lại phát biểu như vậy?”. Torricelli đã lảng tránh câu hỏi; tôi biết rõ là ông ta đã trải hết nỗi lòng mình. Andrew Cuomo và Carl McCall tự động rút lui khỏi cuộc chạy đua, thay vào đó họ đã chọn cuộc tranh cử chức thống đốc bang năm 2002, còn Nita Lowey cho biết bà sẽ chờ một thời gian để quyết định có nên tiến hành một chiến dịch cho mình hay không.
Với mỗi diễn tiến như vậy thì công chúng lại càng suy đoán mạnh mẽ hơn về việc tham gia vào cuộc chạy đua của tôi. Nhưng trong chốn riêng tư, tôi lại được tư vấn là không nên tham gia vào cuộc đua đó. Một vài người bạn mà tôi đã nói chuyện nhất quyết thuyết phục tôi không ra tranh cử. Các nhân viên hàng đầu ở Nhà Trắng cũng phản đối. Họ lo lắng về những căng thẳng mà tôi sẽ phải chịu đựng với tư cách là một ứng cứ viên và cái giá phải trả về tinh thần của một chiến dịch dài hơi.
Khi Quốc vương Hussein của Jordan băng hà vào ngày 7 tháng 2 sau khi can đảm chống chọi với căn bệnh ung thư, Bill và tôi dẹp tất cả sang một bên trong vài ngày để thực hiện một chuyến đi thật dài và thật buồn đến vùng Trung Đông, đến thủ đô Amman của Jordan. Các cựu Tổng thống Ford, Carter và Bush cũng đến đó trên chiếc Air Force One. Triển vọng cho hòa bình ở Trung Đông gánh chịu những tổn thất không thể bù đắp được với sự qua đời của hai vĩ nhân, đầu tiên là Rabin và giờ đây là Hussein. Đường phố Amman đông nghẹt những người đưa tang từ khắp nơi trên thế giới. Hoàng hậu Noor trong bộ trang phục màu đen và một chiếc khăn choàng đầu trắng nhã nhặn, chào hỏi các nhà lãnh đạo cấp cao đến tỏ lòng kính trọng đối với người chồng xuất chúng của bà. Không lâu trước khi băng hà, Quốc vương đã chỉ định con trai cả của mình là Abdullah làm người kế vị. Quốc vương Abdullah và Hoàng hậu vẹn toàn Rania của ông vượt xa mọi sự mong đợi của mọi người, có một phong độ tuyệt vời để gánh vác những trách nhiệm khó khăn đang chờ đợi họ.
Khi chúng tôi trở về nhà từ đám tang của Quốc vương, phiên tòa luận tội là một đám mây đen bao trùm lên gia đình chúng tôi. Bill và tôi vẫn đang phải nỗ lực khôi phục mối quan hệ của chúng tôi và cố bảo vệ Chelsea khỏi bị ảnh hưởng xấu của vụ cãi vã ở Quốc hội. Chen vào giữa mớ lùng ng đó là áp lực của công chúng đối với tôi trong việc quyết định về cuộc chạy đua vào Thượng viện - một quyết định mà tôi biết là sẽ có những tác động lâu dài và ngay lập tức lên cuộc sống của bản thân cũng như gia đình mình.
Cuộc trò chuyện với chuyên gia về chính trị New York Harold Ickes đã thuyết phục tôi, rằng tôi phải thừa nhận áp lực ngày càng gia tăng của công chúng về việc tranh cử của tôi và tôi nên xem xét việc thực hiện chiến dịch một cách nghiêm túc. Điểm mạnh nhất của Harold với tư cách một người bạn là tính bộc trực của ông ấy, có khi còn thẳng thắn quá mức. Cho dù vốn là một người dễ chịu và dịu dàng, ông ấy có thể quát lên khiến bạn sợ chết khiếp. Mỗi một từ ông dùng là một từ rất mạnh bạo, ngay cả khi ông ta cho ra một câu khen ngợi. Bằng cách nói đa dạng điển hình thường thấy, ông đã cho tôi một số lời khuyên.
"Nếu bà định ra tranh cử, thì hãy xuất hiện trước công chúng và phát biểu theo kiểu Shermanesque ấy", Harold nói. "Nhưng nếu bà vẫn đang do dự về chuyện đó, hãy đừng vội tuyên bố điều gì hết. Khi vụ luận tội đang tiếp diễn thì không ai thúc ép bà đưa ra quyết định ngay bây giờ đâu."
Harold và tôi đồng ý gặp gỡ vào ngày 12 tháng 2, mà hóa ra là ngày Thượng viện phải bỏ phiếu về lời buộc tội. Tôi tin rằng đa số thành viên Thượng viện sẽ tuân theo những chỉ dẫn của Hiến pháp và bỏ phiếu tha bổng. Khi chúng tôi chờ đợi kết quả bỏ phiếu, tôi đã lắng nghe chăm chú sự đánh giá của Harold về chính trường New York và sự giảng giải của ông về những thăng trầm của một chiến dịch tranh cử vào chiếc ghế Thượng nghị sĩ New York. Harold trải ra một tấm bản đồ tiếu bang thật lớn, rồi chúng tôi mải mê nghiên cứu nó hàng giờ liền trong khi ông luôn miệng bình luận về những trở ngại mà tôi sẽ đương đầu. Ông chỉ vào các thành phố từ Montauk đến Plattsburgh đến Niagara Falls. Rõ ràng là để một chiến dịch ở bang New York 19 triệu dân, tôi sẽ phải hiện diện bằng xương bằng thịt khắp nơi trên một diện tích bang rộng 54 ngàn dặm này. Trên tất cả là việc tôi phải thông hiểu sự phức tạp của chính trị địa phương, của những khác biệt đầy kịch tính về tính cách, văn hóa và kinh tế của vùng bắc New York và các vùng phụ cận. Thành phố New York là một hành tinh riêng: là một nơi dầu sôi lửa bỏng của những nhà chính trị và các đảng phái. Năm khu vực của thành phố giống như năm tiểu-tiểu bang mà mỗi tiểu-tiểu bang đại diện cho những nhu cầu và thử thách khác nhau từ các địa hạt và các thành phố phía bắc cùng các khu phụ cận của Long Island và Westchester kề bên.
Cuộc bàn luận của chúng tôi kéo dài hàng giờ, Harold vẫn tập trung cao độ vào tất cả những mặt trái của việc dấn thân vào cuộc chạy đua. Tôi không phải là dân gốc New York, chưa bao giờ ra tranh cử và sẽ đương đầu với Giuliani, một đối thủ không mấy thân thiện. Chưa từng có phụ nữ nào xuất sắc thắng cử trên toàn bang New York. Đảng Cộng hòa sẽ làm mọi việc trong quyền lực của mình để cản trở tôi và sự nghiệp chính trịcủa tôi. Chiến dịch vận động sẽ hết sức khó khăn và làm kiệt quệ tinh thần. Và tôi sẽ thực hiện chiến dịch ở New York thế nào đây trong khi tôi là Đệ nhất Phu nhân? Bảng danh sách những trở ngại cứ dài thêm ra.
"Tôi thậm chí còn không biết bà có phải là một ứng cử viên xứng đáng không nữa, Hillary à", ông ta nói.
Tôi cũng thế.
Chiều đó, Thượng viện Hoa kỳ đã bỏ phiếu tha bổng Bill trước những lời buộc tội với sự nhất trí cao. Không lời buộc tội nào nhận được đa số phiếu, chưa nói đến phải đạt được hai phần ba số phiếu. Đó là một kết quả đáng thất vọng cho phe Cộng hòa nhưng không đem lại niềm hân hoan nào cho chúng tôi mà chỉ là sự nhẹ nhõm. Quan trọng nhất làiến pháp và chức Tổng thống đã không bị ảnh hưởng.
Tôi vẫn còn chưa quyết định có tranh cử không, nhưng nhờ Harold, bây giờ tôi đã có một cái nhìn thực tế hơn về điều mà một cuộc vận động đòi hỏi. Phiên luận tội đã trôi qua, giờ đây là thời gian để suy nghĩ về vấn đề tranh cử hay không. Vào ngày 16 tháng 2, văn phòng của tôi đưa ra lời tuyên bố rằng tôi sẽ suy nghĩ cẩn thận về việc ứng cử trong thời gian tới và sẽ quyết định sau.
Harold đưa cho tôi một bản danh sách gồm 100 người New York cần phải tiếp xúc, và vào cuối tháng Hai, tôi bắt đầu gọi điện và gặp gỡ lần lượt từng người trong số họ. Đầu tiên là với Thượng nghị sĩ Moynihan và vợ ông, bà Liz là người đã tổ chức các chiến dịch tranh cử cho chồng và cực kỳ tinh thông về chính trị của New York. Thượng nghị sĩ Moynihan thể hiện một sự ủng hộ nhiệt tình trước công chúng, nói với Tim Russert của Hãng NBC là người đã từng làm việc cho ông, rằng "tinh thần làm việc hăng say kết hợp giữa Illinois và Arkansas, sự thông minh, trẻ trung, xuất chúng" của tôi sẽ phù hợp với New York và người New York. Ông ấy còn nói: "Bà sẽ được đón chào và bà sẽ chiến thắng". Lời nhận xét đó làm tôi kinh ngạc - nhất là tính từ "trẻ trung". Tôi còn được tham vấn với các cựu Thị trưởng thành phố New York Ed Koch và David Dinkins, họ rất ủng hộ và khích lệ tôi. Thượng nghị sĩ Schumer, người vừa mới vượt qua cuộc vận động toàn bang thật khốc liệt của mình, thì tỏ ra rất thực tế và sẵn sàng giúp đỡ. Người phát ngôn của Đảng Dân chủ Sheldon Silver, Chủ tịch Đảng Judith Hope và các thành viên Quốc hội, thị trưởng, các nhà lập pháp bang, trưởng địa hạt, các thủ lĩnh lao động, các nhà hoạt động và bạn bè, tất cả đều tham gia đóng góp ý kiến. Kể cả Robert F. Kennedy, Jr., một nhà hoạt động môi trường mà cha ông từng giữ chiếc ghế Thượng viện trước Thượng nghị sĩ Moynihan cũng tham gia. Ông rất nhiệt tình và hứa sẽ hỗ trợ tôi trong việcnh các vấn đề môi trường tại tiểu bang.
Tuy nhiên, số người vội vã can ngăn tôi cũng đông không kém số người động viên tôi. Đặc biệt, các bạn bè thân thiết không thể hiểu nổi tại sao tôi lại xem xét một cuộc vận động vào Thượng viện đầy mệt mỏi sau những chấn động tinh thần trong vài năm vừa qua. Đoạn đời trên con đường vận động tranh cử sẽ khác xa với sự tiện nghi và an ninh chốn Nhà Trắng. Mỗi ngày sẽ bắt đầu vào lúc bình minh và ít khi kết thúc trước lúc tảng sáng của ngày hôm sau. Cách sống lưu động này còn hàm ý việc ăn trong khi đang bay, sống bằng chiếc vali hàng tháng trời và ở nhờ nhà bạn bè khắp bang. Tệ hơn cả, việc này có nghĩa là tôi sẽ có rất ít thời gian trong năm cuối cùng tại Nhà Trắng này để dành cho gia đình và thời gian cho bạn bè sẽ còn ít hơn nữa.
Còn có những mối nghi ngại về việc liệu Quốc hội có là nơi tôi có thể hoạt động hiệu quả nhất không. Trong nhiều tháng qua, tôi đã ngẫm nghĩ về những lựa chọn của mình trong cuộc sống sắp tới, sau khi ra khỏi Nhà Trắng. Một số người bạn nghĩ rằng tôi sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn trong việc cổ vũ cho sự thay đổi trên vũ đài quốc tế so với làm việc ở Thượng viện gồm 100 thành viên. Sau gần ba thập kỷ làm luật sư và tám năm là Đệ nhất Phu nhân, tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đáng kể trong việc hoạt động vì phụ nữ, trẻ em và gia đình. Cho dù có thể thắng cử thì tôi cũng không chắc là có đáng hy sinh nền tảng mà tôi đã đạt được cho một cuộc vận động chính trị căng thẳng và những đòi hỏi hàng ngày trong cuộc sống của một chính trị gia hay không. Và còn có nhiều cơ hội khác để xem xét như việc tôi được đề nghị điều hành các hiệp hội, dẫn một chương trình truyền hình, đảm đương chức chủ tịch một trường đại học hay trở thành CEO của một tập đoàn. Đây là những lựa chọn hấp dẫn và thoải mái hơn nhiều so với triển vọng của một cuộc chạy đua chiếc ghế Thượng viện đầy khó khăn.
Mandy Grunwald, một nhà tư vấn tài năng về truyền thông đại chúng trưởng thành ở New York và là một nhân vật kỳ cựu trong các chiến dịch gần đây của Thượng nghị sĩ Moynihan đã lặp lại những lời cảnh báo của Harold. Bà báo trước rằng tôi sẽ phải học cách đối đáp với các tập đoàn báo chí New York vốn hay gây gổ (Đó không phải là một trong những chuyên môn của tôi !). Mandy thẳng thắn giải thích rằng dù tôi là một tên lính mới tò te, tôi cũng sẽ không nhận được bất kỳ một sự dễ dãi nào, các sai sót sẽ không được giới báo chí New York bỏ qua. Chúng sẽ được thổi phồng trên các trang báo, phát trên các bản tin địa phương lúc 6, 7, 12, 4, 5, 6, 10 và 11 giờ, và được các nhà báo chuyên mục chính trị mổ xẻ. Sau đó sẽ đến lượt các tay phụ trách các chương trình tọa đàm trên đài phát thanh vào cuộc. Và đó chưa phải là tất cả. Với bản chất lịch sử của một Đệ nhất Phu nhân chạy đua vào Thượng nghị viện, tôi còn phải chuẩn bị cho những "nghiên cứu" kỹ lưỡng bất ngờ hơn mức thông thường của giới báo chí New York đối với cuộc vận động của mình. Ngay khi khả năng tranh cử của tôi gây cảm hứng cho các hãng thông tấn quốc gia và quốc tế thì văn phòng báo chí Nhà Trắng đã tràn ngập với các yêu cầu xin phỏng vấn.
Các dòng chảy khó lường của chính trị New York cũng gây cho tôi một số lo lắng. Những người New York am hiểu khuyến cáo rằng tôi không thể thắng cử được vì tôi không phải là người Ireland, người Ý, tín đồ Công giáo hay Do Thái giáo trong khi thành phần dân tộc vốn là điều cần phải chú ý trong một bang đa dạng như thế. Một thách thức khác thường nữa sẽ đến từ các cử tri nữ thuộc Đảng Dân chủ, nhất là ở nhóm phụ nữ có nghề nghiệp và trạc tuổi tôi; những người này bình thường sẽ là thành phần ủng hộ tôi, nhưng nay họ lại nghi ngờ các động cơ và quyết định của tôi về việc tôi vẫn giữ cuộc hôn nhân với Bill.
ột ngày mùa xuân, tôi đang xem lại bản danh sách các khó khăn tôi sẽ gặp phải thì Patti Solis Doyle, người lên chương trình và là một nhà tư vấn chính trị sắc sảo đã cắt ngang sự độc thoại trong tôi và thốt lên: "Hillary, tôi không nghĩ là bà có thể thắng cuộc đua này". Cô ấy quá chắc chắn về việc tôi không nên và sẽ không tranh cử đến nỗi cô và Jim, chồng cô đang lên kế hoạch dời nhà về Chicago.
Các nhân viên Nhà Trắng của tôi có các lý do khác để lo lắng về ý nghĩa của việc Đệ nhất Phu nhân đột nhiên trở thành một ứng cử viên tranh chiếc ghế thượng nghị sĩ. Các nhân viên của tôi đã cố gắng cật lực để phát triển chương trình chính trị trong nước của tôi. Họ muốn chắc chắn rằng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ các nỗ lực này một khi tôi ra tranh cử. Tôi đã bảo họ rằng dù có chạy đua vào Thượng viện hay không thì tôi vẫn sẽ tiếp tục ủng hộ tất cả các sáng kiến mà họ và tôi đã nghĩ ra từ việc bảo tồn các của cải quốc gia đến việc chăm sóc học sinh sau giờ học. Triển vọng của chiến dịch cũng gợi lên một câu hỏi là liệu tôi có tiếp tục phục vụ như một đại diện cho các lợi ích của nước Mỹ ở nước ngoài nữa hay không. Xuyên suốt nhiệm kỳ của Bill, tôi đã chu du khắp thế giới để đại diện cho quyền lợi của phụ nữ, nhân quyền, sự khoan dung tôn giáo và nền dân chủ. Việc suy nghĩ và hành động mang tính toàn cầu có thể hoàn toàn đối lập với những gì tôi cần làm nếu tôi tiến hành một chiến dịch tranh chiếc ghế Thượng nghị sĩ New York. Giữa những cân nhắc đó, tôi còn phải tuân thủ các cam kết thăm viếng chính thức đến Ai Cập, Tunisia, và Morocco và một chuyến công du đến trại tị nạn của người Kosovo dọc theo biên giới Macedonia. Tôi đã lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Bill tại NATO trong chiến dịch ném bom để buộc quân lính của Slobodan Milosevic rút khỏi Kosovo. Tôi đã giúp đỡ người Macedonia mở cửa trở lại các nhà máy dệt để người dân quay lại làm việc, nhằm tránh đi một sự bất ổn về kinh tế có thể ục tiêu của NATO đưa người Kosovo trở về nhà của họ.
Trong mùa xuân đó, tôi bị rối tinh với mọi viễn tưởng của cuộc vận động cùng với các nhà tư vấn và bạn bè, mà mỗi cuộc thảo luận đều biến thành một cuộc tranh cãi mạnh mẽ về tương lai của tôi. Có một điều cũng được nhắc tới và được ví von như là "một vấn đề vợ chồng". Trong trường hợp của tôi, đó là một cách nói đơn giản. Luôn luôn khó định nghĩa vai trò thích hợp đối với người vợ hoặc chồng của một ứng cử viên chính trị. Tình trạng của tôi còn khó xử hơn và là tình huống độc nhất. Một số người lo ngại rằng Bill vẫn còn rất được ưa chuộng ở New York, và với một nhân vật chính trị xuất chúng như thế ở Mỹ thì tôi sẽ không bao giờ có thể tạo lập được tiếng nói chính trị độc lập. Những người khác thì cho rằng sự tranh cãi gần đây gắn liền với anh ấy sẽ lấn át thông điệp của tôi. Những cân nhắc hậu cần liên quan đến "người phối ngẫu của tôi" là rất tế nhị. Nếu tôi sắp sửa thông báo sự ứng cử của tôi tại một sự kiện khởi đầu, liệu Tổng thống Hoa Kỳ có ngồi yên đằng sau tôi trên sân khấu, hay anh ấy cũng phát biểu? Trong khoảng thời gian diễn ra cuộc chạy đua, anh ấy sẽ vận động cho tôi như anh vẫn làm cho các ứng cử viên Đảng Dân chủ khác trên khắp đất nước, hay sẽ gửi gắm tôi là người đại diện cho anh ấy như mọi lần? Một ranh giới rõ ràng cần được vạch ra giữa việc tự khẳng định mình như là một ứng cử viên theo quyền lợi của riêng tôi và việc tận dụng lợi thế từ sự ủng hộ và tư vấn của Tổng thống.
Một điều thuận lợi cho quá trình đưa ra quyết định của tôi là Bill và tôi đã đàm đạo trở lại về nhiều vấn đề, ngoại trừ vấn đề tương lai của mối quan hệ giữa chúng tôi. Thời gian trôi qua và cả hai chúng tôi đều bắt đầu thư giãn. Anh ấy nóng lòng được giúp đỡ và tôi tiếp nhự thông thạo của anh. Bill kiên nhẫn thảo luận từng mối lo ngại của tôi và cẩn thận đánh giá những rắc rối mà tôi gặp phải. Vị trí giờ đây đã đảo lại: Bill giữ vai trò mà tôi luôn luôn đảm nhận cho anh ấy trước đây. Khi Bill đưa ra lời khuyên thì tôi là người đưa ra quyết định. Cả hai chúng tôi đều biết rằng nếu tôi ra tranh cử thì tôi sẽ phải tự mình làm điều mà trước đó tôi chưa từng làm bao giờ. Với mỗi cuộc trò chuyện, tôi tự nhận thấy mình dao động rất nhiều. Một phút trước đó việc tranh cử dường như là một ý tưởng tuyệt vời thì phút tiếp theo tôi lại cho đó là ý tưởng điên rồ. Do đó, tôi tiếp tục đào sâu suy nghĩ về việc phái làm gì và chờ đến khi cảm thấy thích hợp.
Tôi cần một cú hích. Cuối cùng tôi đã tìm ra, nhưng nó chẳng phải đến từ một nhà tư vấn chính trị hay một thủ lĩnh nào thuộc Đảng Dân chủ. Vào tháng Ba, tôi đến thành phố New York để cùng với huyền thoại tennis Billie Jean King tham dự vào một sự kiện quảng cáo cho bộ phim đặc biệt của HBO về phụ nữ trong thể thao. Chúng tôi tập trung tại Trường Thực nghiệm Sư phạm ở vùng lân cận Chelsea thuộc Manhattan, nơi có hàng chục nữ vận động viên trẻ tuổi đang đứng trên sân khấu được trang trí với dải băng khổng lồ mang dòng chữ "Vượt lên chính mình", tựa đề phim của HBO. Sofia Totti, đội trưởng đội bóng chuyền nữ giới thiệu tôi. Khi tôi tiến đến bắt tay cô, cô đã ngả người về phía tôi và thì thầm vào tai tôi.
"Hãy vượt lên chính mình, bà Hillary", cô ấy nói. "Hãy can đảm lên."
Lời động viên của cô đánh thức tôi mạnh mẽ và tôi bắt đầu nghĩ: Tôi có thể e ngại điều mà tôi đã thuyết phục những phụ nữ khác làm ư? Tại sao tôi lại do dự về việc tham gia cuộc đua này? Tại sao tôi không suy nghĩ nghiêm túc hơn về nó? Có lẽ tôi nên “vượt lên chính
Sự động viên của Sofia Totti và rất nhiều người khác nhắc tôi nhớ đến cảnh trong một bộ phim mà tôi yêu thích là A League of Their Own. Ngôi sao của đội bóng chày chuyên nghiệp nữ do
Geena Davis thủ vai muốn rời khỏi đội trước khi mùa giải kết thúc để trở về nhà với chồng mình. Khi huấn luyện viên của đội do Tom Hanks đóng không đồng ý với quyết định của cô ta thì cô ta đã nói: "Chỉ vì quá khắc nghiệt". Hanks đáp: "Rõ ràng là phải khắc nghiệt rồi. Nếu không thì ai cũng làm được - sự khắc nghiệt là điều làm nó trở nên vĩ đại". Sau nhiều năm làm vợ của một chính trị gia, tôi vẫn không có ý định sẽ bước từ hậu trường vào chính trường, nhưng tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ tôi yêu thích vai trò độc lập trong chính trị. Trên khắp nước Mỹ và ở nhiều nước khác, tôi đã phát biểu về tầm quan trọng của phụ nữ khi tham gia vào chính trị và chính phủ, đảm đương các chức vụ dân cử và có tiếng nói riêng trong việc tạo dựng chính sách công và lập biểu đồ cho tương lai của quốc gia họ. Làm sao tôi có thể chối bỏ một cơ hội để thực hiện những việc giống như mình đã từng kêu gọi?
Nhiều người bạn của tôi vẫn chưa an tâm. Một chiều xuân nọ, Maggie Williams và tôi đi dạo thật lâu. Maggie, một trong những người bạn và nhà tư vấn thân cận nhất của tôi, là một phụ nữ có sự nhạy cảm chính trị tuyệt vời. Cô ấy biết rằng thời gian đưa ra quyết định đang gần kề. Cô đã lắng nghe tôi nói trong hơn một tiếng đồng hồ về việc tôi có nên tham gia cuộc chạy đua hay không.
Tôi bảo Maggie rằng: "Tôi chẳng biết nên làm gì nữa".
Cô ấy đáp: "Tôi nghĩ chuyện ấy thật là điên rồ. Và bất kỳ ai quan tâm đến bà cũng sẽ nói với bà như thế.”
"Nhưng tôi nghĩ tôi sẽ làm chuyện ấy", tôi nói.
Tôi không bị ngạc nhiên trước phản ứng của Maggie. Cô ấy có ý muốn che chở và không muốn tôi bị tổn thương. Nhưng bằng cách cố gắng khuyên tôi né tránh chuyện đó, Maggie giúp tôi suy nghĩ đến cùng và đối diện với những lý do thúc đẩy tôi tiến lên phía trước.
Một số người nói rằng việc phục vụ cho Thượng viện có thể là một sự xuống cấp sau thời gian ở Nhà Trắng. Nhưng tất cả các vấn đề tôi quan tâm từ trước đến nay đều chịu sự ảnh hưởng của Thượng viện Mỹ. Và nếu tôi không phải là một Thượng nghị sĩ thì chắc chắn tôi phải cố gắng tác động đến nhưng người giữ cương vị đó. Bob Rubin đã bảo tôi: "Thượng viện Hoa Kỳ là cơ quan dân chủ quan trọng nhất trên thế giới. Thật vinh dự khi được lựa chọn vào phục vụ nơi đó".
Cơ chế điều hành một cuộc vận động cũng bắt đầu có vẻ thông suốt hơn. Tôi nghĩ tôi có thể thắng nếu quyên góp được 25 triệu đô la cần thiết cho cuộc chạy đua toàn bang New York. Một người bạn tốt của chúng tôi là Terry McAuliffe - người xứ Syracuse, là một tay quyên tiền hiệu quả và đầy kinh nghiệm - đã bảo tôi rằng nếu tôi sẵn lòng làm việc chăm chỉ hơn bao giờ hết trong suốt cuộc đời của tôi thì tôi có thể thắng. Điều đó đã khích lệ tôi rất nhiều. Tôi cũng nghĩ rằng tôi có thể xâm nhập vào thành trì truyền thống của Đảng Cộng hòa. Các khu vực phía bắc New York nhắc tôi nhớ đến vùng Pennsylvania láng giềng là nơi cha tôi đã gắn bó. Và nhiều vấn đề của vùng nông thôn New York cũng tương tự như các vấn đề đã từng làm đau đầu Arkansas như những bần cố nông cơ hàn, sự triệt tiêu dần những công việc sản xuất và thanh niên bỏ đi tìm kiếm những cơ hội tốt hơn. Ngoài ra, Thị trưởng Giullian có vẻ không mặn mà gì với việc dành thời gian cho những vùng ngoài thành phố New York mà phần lớn vẫn do Đảng Dân chủ điều hành. Nếu tôi chứng tỏ với các cử tri New York rằng tôi hiểu được các vấn đề mà gia đình họ đang đương đầu và kiên quyết dốc sức làm việc vì họ thì tôi có thể xứng đáng được bầu chọn.
Nếu như việc bầu cử đôi khi có vẻ như là một hành tinh biệt lập thì hiện thực vẫn còn nhiều vấn đề giúp tôi giữ vững lập trường qua suốt cuối mùa xuân và đầu mùa hè năm 1999. Cuối cùng thì vào ngày 12 tháng 4 năm 1999 Susan McDougal đã được tuyên bố trắng án về cáo buộc cản trở công lý trong vụ Whitewater sau khi đã trải qua 18 tháng trong tù vì từ chối tuyên thệ trước Hội thẩm đoàn xứ vụ Whitewater. Trong quá trình diễn ra phiên tòa xét xứ bà, các nhân chứng khác đã bước lên phía trước tuyên bố rằng họ cũng bị Starr gây áp lực. Lại một sự bác bỏ khác đối với các thủ thuật pháp lý của Starr, nhưng tôi cảm thấy buồn cho cái giá đắt mà Susan McDougal đã phải trả. Bà luôn khẳng định rằng Starr đã gây áp lực buộc bà vu khống Bill và tôi, và khi bà từ chối thì đã bị xúc phạm và cầm tù, có một khoảng thời gian bị biệt giam. Tôi chợt nhớ đến một câu nói Trung Hoa có thể tóm gọn được suy nghĩ của tôi về những cuộc điều tra của Starr : "Nơi đâu có một mong muốn kết tội thì ở đó có bằng chứng".
Sau đó vào ngày 20 tháng 4, hai học sinh ở trường trung học Columbine ở Colorado đã nổ súng vào các bạn học của mình và bao vây nhà trường nhiều giờ liền trước khi tự kết liễu. Mười hai học sinh và một giáo viên đã thiệt mạng trong cuộc thảm sát. Có tin là những kẻ giết người trẻ tuổi này cảm thấy bị gạt ra ngoài trường học và đã lên kế hoạch tỉ mỉ cho cuộc tấn công để trả thù và chứng minh quyền lực của mình. Chúng đã có được một kho nhỏ chứa các loại súng lục, súng ngắn và những vũ khí khác mà một số trong đó được giấu dưới áo khoác khi chúng đến trường học
Một tháng sau vụ nổ súng, Bill và tôi đến Littleton, Colorado để thăm viếng các gia đình nạn nhân và những người sống sót. Thật xé lòng khi thấy khuôn mặt của các bậc phụ huynh, những người đã sống qua cơn ác mộng kinh hoàng nhất, chịu đựng nỗi mất mát những đứa con của mình vì một hành động bạo lực gây chấn động và vô nghĩa như vậy. Các bậc cha mẹ và các thanh thiếu niên tuổi học sinh yêu cầu Bill và tôi phải đảm bảo rằng những tổn thất nặng nề như vậy không phải là vô ích. Bill nói với các học sinh trường Columbine đang tụ tập trong phòng tập thể dục của một trường trung học gần đó rằng: "Các em có thể tạo ra một nền văn hóa của các giá trị thay vì một nền văn hóa bạo lực. Các em có thể giúp chúng tôi không để súng rơi vào những bàn tay xấu xa. Các em có thể giúp chúng tôi chắc chắn rằng những đứa trẻ gặp rắc rối - và luôn luôn có vài em như thế - được phát hiện sớm và tiếp cận để giúp đỡ".
Thảm kịch Columbine không phải là vụ đầu tiên, cũng không phải là vụ cuối cùng liên quan đến bạo lực súng ống tại một trường trung học Mỹ. Nhưng nó là một lời kêu gọi cho một hành động mang tính toàn liên bang hơn để giữ súng ống tránh xa những cánh tay bạo lực, rắc rối và tuổi trẻ - vốn là một sự kết hợp gây chết người. Bill và tôi triệu tập một cuộc họp có sự tham dự của bốn mươi thành viên Quốc hội từ cả hai đảng để thông báo một đề nghị từ Nhà Trắng về việc nâng độ tuổi hợp pháp để có thể sở hữu súng ngắn lên hai mươi mốt tuổi và giới hạn việc mua súng xuống mức một tháng một khẩu. Và tôi đã lên tiếng một lần nữa về sự tràn lan các cảnh bạo lực trên truyền hình, phim ảnh và các trò chơi video. Cho dù công chúng kêu than, Quốc hội đã thất bại trong việc luật hóa hai biện pháp đơn giản liên quan đến súng: thứ nhất là vẫn không ngăn được việc cho phép công dân mua súng không cần kiểm tra giấy tờ và thứ hai là thất bại trong việc yêu cầu có khóa an toàn cho trẻ em được trang bị trên s
Việc Quốc hội không chống lại được sự vận động hành lang của những tay buôn bán vũ khí, cũng như chần chừ trong việc thông qua các quy định cần thiết về an toàn súng đạn đã khiến tôi tin rằng nếu tôi đóng vai trò của một Thượng nghị sĩ thì tôi có thể làm tốt hơn trong việc thông qua các luật cơ bản như vậy. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng Năm, tôi đã bảo với Dan Rather, biên tập viên tin tức của Hãng CBS rằng nếu tôi tranh cử vào Thượng viện thì đó là do những gì tôi đã học được ở nhưng nơi như Littleton - bất chấp những gì tôi đã trải qua ở Washington.
Cuộc chạy đua vào Nghị viện đã bắt đầu thành hình. Ở Texas, Giuliani gặp gỡ Thống đốc George W. Bush, người vừa mới tuyên bố thành lập một Ủy ban thăm dò chức Tổng thống. Viên Thị trưởng còn gán cho tôi là người ứng cử nghị viện ngoài địa hạt của mình và thông báo ràng ông ta sẽ đến Arkansas để quyên tiền cho chiến dịch của ông ta. Một thủ đoạn khôn khéo, tôi cho là thế - thủ đoạn đó đem lại cho ông ta sự chú ý và cả nguồn tiền, đồng thời cho tôi nếm mùi vị của một cuộc vận động sắp diễn ra. Nghị sĩ Lowey, một trong những thành viên được mến chuộng và có ảnh hưởng nhất của Quốc hội đã thông báo rằng bà sẽ không tham gia cuộc đua này. Vào tháng Sáu, tôi thực hiện bước đi cụ thể đầu tiên cần thiết cho một cuộc vận động vào Thượng viện, đó là thông báo rằng tôi sẽ thành lập một Ủy ban thăm dò. Tôi đã tranh thủ sự giúp đỡ của nhà tư vấn về phương tiện thông tin đại chúng Mandy Grunwald và Mark Penn, một nhà thăm dò ý kiến sâu sắc và khôn ngoan, người đã từng làm việc với Bill, và tôi bắt đầu phỏng vấn tuyển chọn các nhân viên tiềm năng cho chiến dịch tranh cử.
Trong suốt những năm ở Nhà Trắng, tôi thường trốn đến thành phố New York với mẹ tôi hoặc Chelsea để xem các chương trình biểu diễn ở Broadway, những cuộc triển lãm ở bảo tàng hoặc đơn thuần là thăm viếng bạn bè. Ngay cả trước khi tôi dự định tham gia cuộc chạy đua vào Nghị viện, New York đã là bang đứng đầu danh sách rút gọn của chúng tôi về những nơi chúng tôi muốn sống sau khi nhiệm kỳ của Bill kết thúc. Mong ước này lớn dần theo năm tháng và bây giờ đã được củng cố thành một quyết định vững chắc. Tuy Bill có ý định xây dựng một thư viện Tổng thống của anh ở Arkansas và dành nhiều thời gian ở đó, anh ấy cũng yêu thích New York. Thực tế, đó là một nơi hoàn hảo cho các hoạt động của anh, với quỹ thời gian hợp lý để anh dành cho các chuyến công du và phát biểu trong nước cũng như ở nước ngoài, và tiếp tục phục vụ công chúng thông qua hiệp hội của anh ấy.
Chúng tôi đã bàn bạc về việc mua một căn nhà, và rất lâu trước đó chúng tôi đã săn lùng nhà. Nhưng một việc làm bình thường như thế đã trở nên phức tạp vì những mối lo ngại về an ninh của Cục Tình báo. Chúng tôi không thể sống trên một số loại đường phố nào đó, và bất kỳ căn nhà nào được chúng tôi mua đều phải có chỗ cho nhân viên an ninh. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một ngôi nhà mới cũng đem lại niềm vui cho tôi. Chúng tôi đã sống ở dinh thự của Thống đốc bang Arkansas và Nhà Trắng, nhưng chúng tôi đã không sở hữu một ngôi nhà riêng nào trong gần hai mươi năm. Cuối cùng, chúng tôi đã tìm được một nơi hoàn hảo là một nông trại cũ và khu chuồng trại ở Chappaqua thuộc Hạt Westchester, phía bắc thành phố New York.
Lần đầu tiên đại diện cho chính bản thân mình, tôi cũng bắt đầu liên lạc với các nhà đóng góp tiềm năng. Tại một buổi gây quỹ chính cho Đảng Dân chủ ở Washington vào ngày 7 tháng 6 năm 1999, Bill và tôi đã được cựu Thống đốc bang Texas là Ann Richards đón tiếp trên sân khấu, bà là người nổi tiếng với khả năng pha trò dí dỏm và nhanh trí trong giới chính trị.
"Hillary Clinton, Thượng nghị sĩ mới kế tiếp từ New York, vĩ nhiên cùng với Bill, phu quân đáng yêu của bà", bà ta nói với giọng Texas đặc sệt, kéo dài. "Thưa quý vị, tôi cá là ông ta sẽ quấy rầy ra trò câu lạc bộ các cặp vợ chồng Thượng nghị sĩ."
Bill chấp nhận sự trêu ghẹo nhẹ nhàng đó và hân hoan trước sự ủng hộ của công chúng dành cho tôi. Anh ấy hiểu được sự hy sinh của tôi trong những năm qua để anh có một vị trí trong chính phủ. Giờ đây, nhận ra rằng tôi có cơ hội vượt qua vai trò thứ yếu của một người vợ của nhà chính trị và thử thách bản lĩnh chính trị của mình, anh ấy đã động viên tôi tiến nhanh về phía trước Thật là một hình ảnh lạ khi thấy anh ấy là người đứng bên ngoài quan sát, nhưng Bill đã nhiệt tình ủng hộ tôi vô điều kiện vì tôi vừa là vợ vừa là một ứng cử viên.
Tôi đã nhận được một sự nâng đỡ tinh thần khác vào cuối tháng Sáu từ một nguồn bất ngờ: Cha George Tribou, vị linh mục điều hành trường trung học dành cho các bé trai Công giáo ở Little Rock trong nhiều năm. Cha đã trở thành một trong những người bạn của tôi cho dù trước đây cha đã không tán thành sự lựa chọn nghề nghiệp của tôi. Có lần, cha đã nghỉ đêm tại Nhà Trắng, và tôi đã thu xếp cho cha gặp Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị trong thời gian Đức Giáo hoàng thăm St. Louis năm 1999. Cha Tribou đã viết cho tôi một lá thư đề ngày 24 tháng 6 năm 1999 như sau:
Hillary thân yêu,
Cha muốn nói với con những điều cha đã dạy dỗ học sinh trong 50 năm qua :
Chính tôi cho rằng vào Ngày Phán quyết, câu hỏi đầu tiên Đức Chúa Trời hỏi không phải về Mười Điều răn (cho dù Ngài hỏi đến sau đó !) mà điều ngài sẽ hỏi mỗi chúng ta là :
NGƯƠI ĐÃ LÀM GÌ VỚI THỜI GIAN VÀ CÁC TÀI N MÀ TA ĐÃ BAN CHO NGƯƠI ?...
Những người cảm thấy con không thể xử lý giới báo chí hay soi mói của New York và những lời chế nhạo của các đối thủ, thật ra đã không nhận ra rằng, con có thể xoay xở mọi việc vì con đã được tôi rèn trong lửa.
...Dòng cuối cùng : hãy tranh cử đi Hillary, hãy tranh cử ! Cha sẽ luôn luôn cầu nguyện cho con.
Những quyết định khó khăn nhất mà tôi đã thực hiện trong cuộc đời mình là duy trì cuộc hôn nhân với Bill và chạy đua vào Thượng viện. Cho đến bây giờ, tôi đã biết tôi muốn cuộc hôn nhân của chúng tôi kéo dài mãi mãi vì tôi yêu Bill và trân trọng biết bao những năm tháng chúng tôi đã cùng trải qua. Tôi biết tôi không thể một mình chăm sóc Chelsea tốt bằng cả hai chúng tôi cùng làm. Tôi không nghi ngờ việc tôi có thể tự mình xây dựng một cuộc sống vừa ý và kiếm được nhiều tiên, nhưng tôi hy vọng Bill và tôi có thể sống đến già cùng nhau. Cả hai chúng tôi cùng cam kết gầy dựng lại cuộc hôn nhân của mình với sự hỗ trợ của niềm tin, tình yêu và quá khứ bên nhau. Với một sự xác định rõ ràng hơn về con đường mà tôi muốn đi cùng Bill, tôi cảm thấy dễ dàng hơn trong việc dấn bước đầu tiên để vào Thượng viện.
Tôi biết rằng bất kỳ chiến dịch tranh cử nào cũng sẽ là một cuộc thử lửa. Cho dù đến lúc này tôi đã là một người vận động dày dạn, đặt chân đến hết đầu này rồi tận đầu kia của tổ quốc để thay mặt cho ứng cử viên cho chức Thống đốc, Nghị sĩ và cả Tổng thống, nhưng tôi chưa bao giờ xuất hiện để cổ động cho chính mình. Tôi sẽ phải học cách xưng hô với đám đông theo ngôi thứ nhất - tôi đã quen xưng "anh ấy," "cô ấy" hay "chúng tôi" chứ không phải là "tôi". Và thực tế sẽ có khả năng tôi nêu ý kiến chống lại các chính sách của Chính quyền Clinton nếu chúng không có lợi cho New York. Nhưng vào lúc này, tôi chú trọng đến việc hiểu rõ các cử tri tương lai của tôi. Tôi hoạch định một chuyến "vi hành" vòng quanh New York vào tháng Bảy và tháng Tám để lắng nghe những nỗi lo lắng và nguyện vọng của dân chúng cùng các lãnh đạo địa phương đối với gia đình và cộng đồng của họ. Chuyến đi bắt đầu ở nơi thích hợp nhất cho việc phát động chiến dịch tranh cử chiếc ghế của Thượng nghi sĩ Daniel Patrick Moynihan - chính là ở nông trại rộng 900 mẫu tuyệt đẹp của ông ấy ở Pindars Corners. Khi tôi đến đó vào ngày 7 tháng 7, tôi nhìn thấy Thượng nghị sĩ, bà Liz vợ ông và hơn 200 phóng viên đang chờ nghe tuyên bố của tôi. Một nhân viên kỳ cựu của tôi Rick Jasculca đã kinh ngạc thốt lên: "Còn có cả một phóng viên đến từ Nhật Bản nữa kìa !".
Với ngài Thượng nghị sĩ đứng bên cạnh, tôi đã thông báo rằng tôi đang thành lập một Ủy ban vận động chính thức phục vụ cho việc tranh cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. Tôi nói với giới báo chí có mặt: "Tôi cho là mọi người đã đặt những câu hỏi trong đầu như: Tại sao lại là Thượng viện? Tại sao lại là New York? Và tại sao là tôi?”. Sau đó tôi nói ngắn gọn về các vấn đề có tầm quan trọng với tôi và với New York cũng như tuyên bố tính hợp pháp của việc tôi ra tranh cử ở một tiểu bang mà tôi chưa hề sinh sống.
"Tôi cho rằng đó là một câu hỏi rất công bằng và tôi hiểu lý do để nhiều người nêu ra câu hỏi đó. Nhưng tôi nghĩ, có một công việc thật sự mà tôi phải làm là lắng nghe và học hỏi từ người dân New York. Và việc chứng tỏ rằng tôi làm được những gì có lẽ cũng quan trọng như - nếu không muốn nói là quan trọng hơn - nơi tôi sinh ra."
Một vài phút sau đó, Thượng nghi sĩ Moynihan và tôi quay vào căn nhà nông trại của ông để ăn chút thịt nguội và bánh bích quy. Ngay sau đó, tôi lại lên đ