Vào một buổi tối tháng 3 năm 1995, Bill Clinton nói với một đám đông nhà báo và các chính trị gia Washington: "Rất tiếc là tối nay, Đệ nhất Phu nhân không thể chung vui với các bạn". Anh nói tiếp: "Nếu các bạn tin vào điều đó, tôi sẽ có một vài mảnh đất ở Arkansas để bán cho các bạn". Lại một buổi ăn tối Gridiron nữa nhưng tôi không thề dự được vì đang bận công du tại Nam Á, do vậy tôi đã chuẩn bị thu sẵn một đoạn phim ngắn năm phút nhại lại bộ phim ăn khách Forest Gump để trình chiếu vào cuối buổi biểu diễn.
Đoạn phim bắt đầu bằng cảnh quay một chiếc lông chim trắng bay là đà trên nền trời xanh và đáp ngay gần một chiếc ghế đá công viên ở phía trước Nhà Trắng. Tôi, Hillary Gump, đang ngồi trên chiếc ghế đá đó với một hộp kẹo đặt trong lòng mình. Tôi bắt chước sao cho thật giống Tom Hanks: "Mẹ tôi luôn bảo tôi rằng Nhà Trắng y như là một hộp sô-cô-la. Bên ngoài trông rất đẹp nhưng bên trong thật nhiều chuyện dở hơi".
Đoạn phim trên do nhà văn kiêm diễn viên hài Al Franken với tác phẩm nổi tiếng Saturday Night Live viết, nhằm chế nhạo cả bộ phim Foest Gum lẫn cuộc đời tôi. Nó mô phỏng từ những cảnh thuở nhỏ, những ngày ở đại học và sự nghiệp chính trị của tôi. Mandy Grunwald, Paul Begala và Jay Leno, người dẫn chương trình của Tonight Show cũng tham gia đóng góp ý tưởng cho đoạn phim. Mỗi khi camera quay cảnh tôi đang ngồi trên ghế, bạn lại thấy tôi đội một kiểu tóc giả khác và đang tự chế gi những kiểu tóc luôn thay đổi của mình. Ở màn cuối của đoạn phim hài, Bill đóng một vai phụ. Anh ngồi cạnh tôi, với tay lấy hộp sô-cô-la của tôi rồi lại mời tôi một miếng và hỏi tôi có thể cho anh ấy một ít khoai tây chiên được không?
Khi tôi và Chelsea gọi cho Bill, anh ấy báo cho tôi biết rằng màn trình diễn đã nhận được sự tán thưởng nhiệt tình của khán giả. Ngoài ra, một vài việc khác mà chúng tôi định làm ở Washington cũng được thực hiện xuôi chèo mát mái.
Vào thời điềm tôi từ Nam Á trở về, Tổng thống cùng với Chính phủ đang chuyển hướng tấn công Quốc hội của phe Cộng hòa về vấn đề "Giao ước với nước Mỹ". Newt Gingrich đã ra sức vận động Hạ viện (mà phe Cộng hòa chiếm ưu thế) thông qua phần lớn Giao ước trong vòng 100 ngày đầu tiên của kỳ họp Quốc hội lần thứ 104, nhưng chỉ có hai điều khoản được ký kết thành luật. Sau đó, việc xem xét các dự luật được chuyển sang Thượng nghị viện, nơi có đủ thành viên Đảng Dân chủ để cản trở việc thông qua một dự luật cũng như chấp thuận quyền phủ quyết của Tổng thống. Trước tình hình đó, Bill buộc phải quyết định có nên cố gắng điều chỉnh lại dự luật của phe Cộng hòa bằng cách đe dọa sử dụng quyền phủ quyết hay phải đưa ra những dự luật thay thế. Cuối cùng Bill phải dùng cả hai hình thức. Bằng cách đối đầu trực diện với đối thủ của mình, người đã từng thẳng thừng tuyên bố chức Tổng thống của anh ấy là không thích hợp, Bill đã lấy lại sức bật mới cho bản thân.
Kể từ thời điểm giữa nhiệm kỳ, Nhà Trắng như bị mắc kẹt trong một tình thế khó khăn và thật sự đã đến lúc phải đề ra một đường lối mới. Bill nổi tiếng là một người kiên nhẫn hơn tôi rất nhiều. Khi mọi người yêu cầu anh phải đối đầu, thậm chí phải cứng rắn hơn đối với Gingrich, anh bảo rằng trước tiên cần phải mọi người hiểu chính xác sự khác nhau giữa quan điểm của anh và phe Cộng hòa. Như vậy, mọi người sẽ nhận ra rằng đó không phải là trận chiến mang tính cá nhân giữa Bill Clinton và Newt Gingrich mà là sự bất đồng của họ về việc cắt giảm các khoản ngân sách cho chương trình chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ y tế giáo dục và bảo vệ môi trường.
Bill có khả năng nhìn xa trông rộng thật phi thường, cũng như khả năng phán xét mọi động thái của các đối thủ để từ đó đưa ra kế hoạch lâu đài. Anh biết trước rằng vào thời điểm cuối năm này, cuộc chiến thật sự sẽ xoay quanh vấn đề ngân sách, và năm 1996 chính là thời điểm then chốt cho sự thành công của nhiệm kỳ Tổng thống của mình. Ban đầu, anh khuyên mọi người phải kiên nhẫn vì anh dự đoán - điều này đã đúng - rằng các cử tri sẽ chán nản trước mưa mẹo của Đảng Cộng hòa và họ sẽ lo sợ về những thay đổi triệt để mà Đảng Cộng hòa đề ra. Nhưng khi Gingrich tuyên bố dự định thuyết trình trên truyền hình tổ quốc để chào mừng thắng lợi của Quốc hội Cộng hòa, Bill quyết định đã đến lúc phải giành lại thế chủ động.
Ngày 7 tháng 4 năm 1995 tại Dallas, Bill đã biến một bài diễn văn về những vấn đề giáo dục thành một bản tuyên ngôn của Chính phủ. Anh trình bày những thành quả mà Chính phủ đã đạt được trong việc giảm thiếu hụt ngân sách, tạo việc làm và đề ra những mục tiêu cụ thể như: tăng mức lương tối thiểu, từng bước cải thiện bảo hiểm y tế và giảm thuế cho tầng lớp trung lưu. Anh đã tấn công vào những điểm yếu nhất của Giao ước Cộng hòa, chẳng hạn như dự luật về an sinh, như "yếu kém về vấn đề việc làm và khắt khe đối với các vấn đề trẻ em". Anh chỉ trích phe Cộng hòa về những đề nghị cắt giảm ngân sách giáo dục và các chương trình cho trẻ em, ví dụ như những buổi ăn trưa ở trường học và chủng ngừa cho trẻ. Anh đặt nềảng cho những. thỏa hiệp nhằm tránh tình trạng bế tắc cho Chính phủ. Nếu Đảng Cộng hòa không hợp tác thì họ và Gingrich phải chịu trách nhiệm về việc thất hứa đối với dân chúng Mỹ. Một bài diễn văn tuyệt vời, thể hiện rõ tầm nhìn của Bill và đồng thời đặt đối phương vào thế khó xử.
Suốt mùa xuân năm 1995, Bill không ngừng tham khảo ý kiến của bạn bè và các cộng sự, rồi tập hợp và phân tích các ý kiến để hoạch định và phát triển các chiến lược. Tôi khuyên Bill mời Dick Morris tham gia cố vấn cho một chiến lược mới, một phần vì Morris đã từng cố vấn cho Đảng Cộng hòa và những hiểu biết của ông ta về tư duy của Đảng Cộng hòa có thể hữu dụng vì Bill đang cố gắng tiến công. Morris cũng có thể là một kênh thông tin ngược rất hữu dụng khi Bill muốn đánh lừa đối phương.
Thoạt đầu, việc tham gia của Morris được giữ bí mật nhưng sau bài diễn văn ở Dallas, Bill đã quyết định giới thiệu Morris với nhân viên của mình. Các nhân viên cố vấn ở Dinh Tây của Bill hơi ngạc nhiên và bực bội khi biết Morris đã cố vấn cho Tổng thống từ hơn sáu tháng qua. Còn Harold Ickes thì thất kinh vì ông ta và Morris có một mối thù hằn cả về hệ tư tưởng lẫn vấn đề cá nhân từ 25 năm trước, khi họ còn là những đảng viên Dân chủ cứng cổ, ở Upper West Side của Manhattan. George Stephanopoulos giận điên lên vì Bill lại đi nghe một kẻ phản bội và không hài lòng khi phải cạnh tranh với một cố vấn của phe đối lập. Leon Panetra không thích tính cách của Morris, cũng như việc ông ta đã phá vỡ trật tự của Dinh Tây. Lo lắng của mọi người là chính đáng nhưng sự có mặt của Morris đã tỏ ra thật sự hữu ích về nhiều mặt.
Sau thất bại của Quốc hội, nhiều cố vấn của Bill còn chưa hết bàng hoàng. Nhưng không có gì làm cho họ đoàn kết hơn bằng việc có chung một kẻ thù. Bây giờ họ không chỉ có Quốc hội Cộng hòa mà còn có Dick Morris để làm động lực chiến đ̐
Một trong những điểm mạnh nhất của Bill là thiện chí lắng nghe những ý kiến khác hẳn nhau rồi phân tích chúng để đi đến kết luận của riêng mình. Anh tự thách thức bản thân cũng như các nhân viên của mình bằng cách tập hợp thành nhóm những người có kinh nghiệm rất khác nhau và thường là có quan điểm trái ngược nhau. Đó là cách giúp cho mọi người và đặc biệt là bản thân anh luôn được tỉnh táo và sáng suốt. Trong một môi trường nhạy cảm như Nhà Trắng, tôi không nghĩ bạn có thể cho phép những người xung quanh mình lại có cùng khí chất và quan điểm. Các cuộc họp có thể sẽ diễn ra tốt đẹp nhưng theo thời gian, sự nhất trí một cách dễ dãi sẽ dẫn đến những quyết định nghèo nàn. Việc đưa Dick Morris vào trong một tập thể với những cái tôi, những thái độ, những tham vọng khác nhau ở Dinh Tây đã giúp nâng cao thành tích của mọi người.
Morris phụ thuộc vào Mark Penn về các con số và các phân tích. Penn từng là một chuyên viên thăm dò ý kiến sáng giá do Ủy ban Dân chủ Quốc gia tuyển dụng. Penn và cộng sự của anh, Doug Schoen, một nhà chiến lược chính trị kỳ cựu khác, chịu trách nhiệm thực hiện các nghiên cứu cung cấp thông tin ở Nhà Trắng. Cùng với Morris, họ bắt đầu tham gia vào các buổi họp vào tối thứ Tư hàng tuần tại Phòng Bầu Dục Vàng. Bill và tôi đã học được cách chấp nhận những ý kiến đắng chát của Morris và loại bỏ tính hay phô trương và diễn tuồng của ông ta. Morris là một liều thuốc giải độc tất đối với sự thông thái cố hữu cũng như một sự kích thích đối với sức ỳ quan liêu của Washington. Đôi khi, những nhà phê bình tự do và thường hơn cả là chính Morris hay phóng đại về sự ảnh hưởng của ông ta đối với Chính phủ Clinton. Nhưng ông ta đã thật sự giúp Bill phát triển một chiến lược nhằm phá tan bức tường ngăn trở của những người thuộc Đảng Cộng hòa - những người luôn cản trở những dự luật của anh ấy và vận động những dự luật của riêng họ.
Khi các phe đối lập đang ở hai vị trí hoàn toàn đối ngược nhau và không bên nào tin rằng mình có thể tiến về phía đối phương thì họ có thể quyết định dịch chuyển đến một vị trí thứ ba, như là cái đỉnh còn lại trong một tam giác, đây được gọi là "phép đạc tam giác". Về cơ bản, đây chỉ là sự lặp lại triết lý mà Bill đã phát triển từ thời còn là Thống đốc và Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Dân chủ. Trong chiến dịch năm 1992, anh đã chiến thắng bằng cách thoát ra khỏi lối mòn tư duy của các chính trị gia "chết não" của cả hai đảng để tạo nên một "phái giữa năng động". Không chỉ đơn thuần là một sự thỏa hiệp chính trị cổ điển khi có sự bất đồng sâu sắc, "phép đạc tam giác" thể hiện phương cách mà Bill đã hứa mang đến cho Washington.
Ví dụ như khi Đảng Cộng hòa cố gắng đòi quyền sở hữu việc cải cách luật an sinh xã hội, một vấn đề mà Bill đã và đang theo đuổi từ năm 1980 và cam kết thực thi từ trước nhiệm kỳ đầu tiên của mình thì Bill đã không phản đối. Ngược lại Bill còn ủng hộ những mục tiêu cải cách nhưng nhấn mạnh đến những thay đổi nhằm cải thiện bộ luật, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ chính trị từ những đảng viên Cộng hòa và đảng viên Dân chủ có thái độ trung hòa để đánh bại luận điểm cực đoan của phe Cộng hòa. Dĩ nhiên trong chính trị cũng như trong cuộc sống, sự gian trá thể hiện ở những khía cạnh nhỏ nhặt nhất: những khía cạnh nhỏ nhặt của việc cải cách an sinh hay việc thỏa thuận ngân sách thật sự không dễ gì để tranh đấu, đôi khi giống như là một khối rubic hơn là một tam giác cân.
Mặc dù Morris là người mang lại năng lượng và ý tưởng cho các sáng kiến của Bill, ông ta không phải là người chịu trách nhiệm thực thi chúng. Đó là việc của Leon Panetta và những người còn lại trong Chính phủ. Leon đã trở thành Tham mưu trưởng của Tổng thống vào tháng 6 năm 1994, thay cho Mack McLarty, người đã hoàn thành xuất sắc công việc những điều kiện rất khó khăn trong một năm rưỡi đầu. Panetta từng là một chuyên viên về thâm hụt ngân sách khi còn phục vụ ở Thượng viện của California, rồi anh được Bill chọn vào vị trí Trưởng phòng Quản trị và Ngân sách. Panetta đóng vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách trước khi trình cho Quốc hội. Trong vai trò Trưởng phòng, anh quản lý một phòng ban khá đông đúc, kiểm soát chặt chẽ hơn lịch trình của Tổng thống và giờ giấc làm việc của các nhân viên phụ tá. Chuyên môn của Panetta về Quốc hội và về ngân sách hết sức quan trọng đối với cuộc chiến ngân sách trong tương lai.
Khối đa số mới thuộc Đảng Cộng hòa đang tìm mọi cách để thể chế hóa chương trình cấp tiến của họ. Họ bắt đầu bằng dự luật về ngân sách hàng năm, cố gắng phá hủy các chương trình của Chính phủ ngay từ trong trứng nước bằng cách từ chối tài trợ ngân sách. Họ muốn phá hủy các chức năng điều tiết của Chính phủ, ví dụ như các chương trình bảo vệ môi trường và người tiêu dùng, hỗ trợ người lao động nghèo khó, đẩy mạnh thuế má và các quy định đối với các công ty. Chương trình Great Society của Tổng thống Lyndon Johnson - sản sinh ra các luật về Chăm sóc Sức khỏe, Hỗ trợ Y tế, các quyền dân sự nổi tiếng trong lịch sử - bị Newt Gingrich lên án là "một hệ thống các giá trị phi văn hóa" và "một thử nghiệm dài đằng đẵng của cách cai trị chuyên nghiệp mà thật sự đã thất bại".
Càng ngày, Bill và tôi càng cảm thấy phiền toái bởi sự "nhiệt tình" của những nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa, họ không ngừng tuôn ra những lời nói khoa trương nhằm tấn công chính phủ, cộng đồng và ngay cả những quan niệm thông thường của xã hội. Dường như họ tin tưởng rằng chủ nghĩa cá nhân lạc hậu và thô kệch là điều quan trọng duy nhất đối với nước Mỹ vào cuối thế kỷ 20 này, dĩ nhiên trừ phi những người ủng hộ của họ muốn có những đặc ân về luật pháp. Tôi luôn coi mình là một người theo chủ nghĩa cá nhân và hơi thô kệch - có lẽ một chút nghèo nàn - nhưng tôi cũng tin tưởng rằng là một công dân Mỹ, tôi còn là một phần của một hệ thống về các quyền, đặc quyền và trách nhiệm vì lợi ích chung.
Chính trong ngữ cảnh của lối nói khoa trương của Đảng Cộng hòa cực đoan này mà tôi đã cho ra đời sớm hơn dự định quyển sách It Takes a Village. Việc ủng hộ tích cực của Gingrich về việc xây dựng các trại mồ côi dành cho nhưng đứa trẻ nghèo khổ, sinh ngoài giá thú đã tiếp thêm năng lượng cho tôi. Sau nhiều năm lo lắng suy nghĩ về cách thức bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ em, giờ đây tôi e rằng chủ nghĩa chính trị cực đoan có thể kết án những người nghèo và những người cô thế bằng một tương lai khốn khó và nghèo đói. Mặc dù quyển sách không mang tính bè phái chính trị, nhưng tôi muốn thể hiện một tư tưởng khác biệt so với những quan điểm tàn nhẫn, phân biệt đối xử và phi hiện thực xuất phát từ Điện Capitol.
Mặc dù cân thần chú của cánh hữu tố cáo "tính không trung thực của các phương tiện truyền thông tự do", thực tế là những tiếng nói truyền thông lớn nhất và hiệu quả nhất lại chẳng hề mang tính tự do. Ngược lại, việc giao tiếp với công chúng ngày càng bị chi phối bởi những nhà diễn thuyết phản động và những nhân vật của đài phát thanh và truyền hình. Tôi quyết định chuyển tải những suy nghĩ và ý kiến của mình trực tiếp đến với công chúng bằng cách tự mình viết ra những suy nghĩ đó. Vào cuối tháng Bảy, tôi bắt đầu viết cho một chuyên mục của một tờ báo tuần với tên gọi Talking is Over một lần nữa tôi lại đi theo bước chân của Eleanor Roosevelt, bà đã viết một mục báo sáu ngày trong một tuần với tên gọi My day từ năm 1935 đến năm 1962. Những mục báo của tôi bao gồm nhiều đề tài, từ lễ kỷ niệm lần thứ 75 quyền bầu cử của nữ giới đến những kỳ nghỉ mát gia đình. Bằng cách viết ra những ý kiến của mình trên báo, tôi nhận thức rõ hơn vai trò của mình với tư cách là một luật sư của Chính phủ. Vì vậy tôi đã bắt đầu tập trung vào những dự án nhỏ, cụ thể nhưng mang tính khả thi hơn là những việc có quy mô lớn như cải cách y tế. Bây giờ chương trình làm việc của tôi chỉ bao gồm những vấn đề về sức khỏe trẻ em, phòng chống ung thư vú, bảo vệ quỹ tài trợ truyền hình công, các dịch vụ pháp luật và các chương trình nghệ thuật.
Qua những cuộc nói chuyện với các bác sĩ, các bệnh nhân và những người sống sót qua các căn bệnh hiểm nghèo trong "chương trình lắng nghe" mà tôi thực hiện ở các trung tâm và bệnh viện chính trên khắp đất nước, tôi đã hiểu rõ hơn về ảnh hưởng và tính phổ biến của bệnh ung thư vú cũng như những trở ngại trong việc phòng và trị ung thư vú. Trong thời gian chiến dịch tranh cử Tổng thống vào năm 1992, từ một buổi gặp mặt tại Liên đoàn Ung thư vú Quốc gia (NBCC) ở Williamsburg, Virgina, tôi đã thật sự kinh ngạc vì sự kiên cường của nhưng người sống sót sau căn bệnh ung thư. Khi chiếc xe buýt chở những người tham dự bị hư trên đường, những người phụ nữ đó chỉ đơn giản xuống xe và đi bộ suốt chặng đường còn lại. Tôi đã làm việc với NBCC (do Fran Visco - một người sống sót từ căn bệnh, cũng là một luật sư - thành lập ) về đường lối của Chính phủ nhằm gây quỹ nhiều hơn cho việc nghiên cứu và điều trị trên diện rộng cho những người phụ nữ không được bảo hiểm.
Ở Nhà Trắng, tôi thường gặp gỡ những bệnh nhân còn sống sót của căn bệnh ung thư. Thông qua những kinh nghiệm của mẹ chồng tôi và nhiều người khác, tôi hiểu tâm lý sợ sệt, bất an, không dám đi khám bệnh ung thư. Một trong những tình nguyện viên trung thành nhất của tôi ở Nhà Trắng là Miriam Leverage đã chiến đấu thật can đảm với căn bệnh trong 6 năm trời trước khi mất vào năm 1996. Miriam, một cô giáo về hưu đồng thời là một người bà đáng tự hào, đã trải qua hai cuộc phẫu thuật, xạ trị và 5 vòng hóa ị liệu. Bà luôn nhắc nhở tôi và nhân viên của tôi kiểm tra và chụp nhũ ảnh định kỳ, đó là việc mà tôi đã làm đều đặn mỗi năm kể từ khi bước sang tuổi 40.
Nhân dịp lễ Ngày của Mẹ năm 1995, tôi đã phát động Chiến dịch Nhận biết Chụp Nhũ ảnh Medicare nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát hiện bệnh sớm và nhằm đảm bảo cho những phụ nữ đáp ứng đủ điều kiện có thể tận dụng chương trình chụp nhũ ảnh này. Chỉ có 40% phụ nữ lớn tuổi được kiểm tra với chi phí chụp nhũ ảnh do Medicare tài trợ. Việc phát hiện bệnh sớm là hết sức cần thiết vì ở Mỹ cứ tám phụ nữ thì có một người có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tôi đã làm việc với các nhà tài trợ, những chuyên gia trong lĩnh vực giao tế cộng đồng và những đại diện của người tiêu dùng trong chiến dịch "Mama-gram" nhằm khuyến khích những phụ nữ lớn tuổi đi chụp nhũ ảnh và giáo dục cho họ biết về lợi ích của việc phát hiện bệnh sớm. Chiến dịch tầm cỡ quốc gia này bao gồm rất nhiều hoạt động quảng bá như những tờ bướm được đính kèm trong các tấm thiệp mừng Ngày của Mẹ, nhằm nhắc nhở các bà mẹ về tầm quan trọng của việc chụp nhũ ảnh định kỳ, cùng với các chương trình trưng bày khuyến mãi tại các cửa hàng, những túi đựng hàng ở tiệm tạp hóa và nhưng thông báo thông qua các dịch vụ công. Những năm sau đó, tôi đã tiếp tục làm việc để mở rộng chương trình Medicare, tạo cơ hội gia tăng số phụ nữ có thể tham gia chương trình chụp nhũ ảnh hàng năm mà không phải trả chi phí. Tôi đã thật sự hài lòng khi Bill tuyên bố những quy định mới nhằm đảm bảo tính an toàn và chất lượng của việc chụp nhũ ảnh. Những nỗ lực này gắn liền một cách chặt chẽ với việc tôi giúp gây quỹ cho các nghiên cứu về khả năng phát hiện, phòng chống, điều trị bệnh ung thư vú. Tôi cũng đã làm việc với Sở Bưu chính Hoa Kỳ để phát hành một con tem về bệnh ung thư vú, mà qua đó góp một phần tài chính cho việc nghiên cứu căn bệnh.
Triệu chứng vùng Vịnh là một trong những vấn đề nhức nhối và đau lòng nhất đối với tôi trong chuyến đi vòng quanh nước Mỹ. Hàng ngàn nam và nữ quân nhân phục vụ ở Cuộc chiến vùng Vịnh Ba Tư trong Chiến dịch Bão Táp Sa Mạc năm 1991 đã mắc phải nhiều chứng bệnh khác nhau, trong đó phổ biến là tình trạng mệt mỏi kinh niên, rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn và các vấn đề hô hấp. Tôi nhận được nhiều lá thư buồn thảm từ những người cựu chiến binh, những người đã liều thân vì nước và giờ đây mất việc làm, không thể cưu mang gia đình bởi chính những căn bệnh này. Tôi gặp một cựu chiến binh, Đại tá Herbert Smith, ông đã có cuộc sống thật mạnh khỏe và sung túc trước khi tham gia cuộc chiến Vịnh Ba Tư. Nhưng trong thời gian phục vụ Chiến dịch Bão Táp Sa Mạc, ông đã có những triệu chứng như nổi hạch, nổi mẩn, mệt mỏi, đau khớp và sốt. Sáu tháng sau, ông được trả về nhà. Tuy nhiên các bác sĩ đã không thể chẩn đoán được căn bệnh hay phương pháp trị liệu.
Tôi thật sự đau lòng khi nghe Đại tá Smith mô tả sự đau đớn ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác mà không hề biết tại sao mình bị bệnh. Mọi chuyện còn tệ hơn cho Đại tá Smith khi bị một vài bác sĩ quân y nghi ngờ về nguyên nhân căn bệnh. Một bác sĩ tố cáo ông ta tự làm chảy máu, giả làm bệnh mất máu để nhận được những lợi ích của thương binh. Đại tá Smith bị tổn thương thần kinh, hệ tuần hoàn, mất khả năng vận động và không thể tiếp tục làm việc. Tuy nhiên, người ta đã bỏ ngoài tai những lời van nài của ông và những cựu binh khác.
Tôi đã yêu cầu Chính phủ mở một cuộc nghiên cứu toàn diện về triệu chứng Chiến tranh vùng Vịnh, bao gồm cả việc xác định khả năng các quân nhân bị nhiễm các tác nhân hóa học, sinh học hay các chất độc hoặc bị ảnh hưởng bởi các đám cháy từ dầu lửa, chất phóng xạ hay những chất độc khác. Tôi đã gặp gỡ các sĩ quộ Quốc phòng cũng như của Sở Nhân văn, Sức khoẻ và Vấn đề cựu chiến binh để xác định những việc mà chính phủ cần phải làm nhằm đáp ứng được nhu cầu của các cựu chiến binh cũng như ngăn chặn những vấn đề tương tự xảy ra trong tương lai. Tôi đề nghị Bill chỉ định một Ủy ban Tư vấn Tổng thống nhằm xem xét vấn đề này. Sau đó, Tổng thống đã ký pháp lệnh về việc đảm bảo các quyền lợi thương binh cho các cựu binh Vùng Vịnh mắc phải các căn bệnh lạ và chỉ đạo Ban Quản lý Cựu chiến binh thiết lập các hệ thống quản lý và gạn lọc tốt hơn cho quân nhân trong tương lai.
Những vấn đề quốc nội như vậy chiếm hầu hết chương trình làm việc của tôi tại Nhà Trắng suốt mùa xuân 1995. Sau đó thì sự quan tâm của cả nước đã đổ dồn về một thảm kịch mà không ai có thể đo lường được.
Ngày 19 tháng 4 bắt đầu như một ngày bình thường với các cuộc họp và phỏng vấn. Khoảng 11 giờ sáng, tôi đang ngồi trên chiếc ghế ưa thích nhất của mình trong Phòng khách phía Tây, cùng xem lại lịch làm việc với Maggie và Patti thì Bill gọi khẩn cấp từ Phòng Bầu Dục để báo tin về vụ nổ tại Cao ốc Văn phòng Liên bang Alfred P. Murrah, ở thành phố Oklahoma. Ba chúng tôi lập tức lao vào nhà bếp bật chiếc TV nhỏ lên để xem những hình ảnh khủng khiếp đầu tiên trực tiếp từ hiện trường.
Sau đó vài giờ, chúng tôi được biết nguyên nhân vụ nổ là do một quả bom trên một chiếc xe tải gây ra, nhưng chưa có thông tin chắc chắn về kẻ đánh bom. Ngay lập tức Bill đã phái các lực lượng từ FEMA, FBI và các cơ quan chính phủ khác đến thành phố Oklahoma đề xử lý tình huống khẩn cấp và tiến hành điều tra. Nhiều yếu nhân đã chết và bị thương vì các văn phòng liên bang đặt trong tòa cao ốc đã bị phá hủy hoàn toàn. Một nhân viên mật vụ, người vừa mới rời Nhà Trắng 7 tháng trước đó để nhận một nhiệm vụ ở Oklahoma, là một trong tổng số 5 nhân ên mật vụ bị sát hại vào ngày hôm đó. Có 19 trẻ em trong số 168 người vô tội bị chết trong vụ đánh bom, hầu hết bọn trẻ đang ở trong một nhà trẻ ở tầng hai của tòa nhà.
Những hình ảnh trực tiếp từ thành phố Oklahoma thật khủng khiếp: một bé gái nhỏ rũ rượi như con búp bê bằng vải được một lính cứu hỏa mang ra khỏi đống gạch đổ nát mù mịt khói, một nhân viên văn phòng hoảng loạn đang nằm trên cáng. Chính khung cảnh thân thuộc xung quanh hiện trường và số lượng thương vong làm cho cả nước Mỹ nhận thức rõ thảm kịch hơn bao giờ hết. Đó là thời điểm bị tấn công.
Thảm họa cũng nhắc chúng ta rằng "những quan chức nhà nước quan liêu”, những người luôn bị công kích bởi những kẻ chống chính phủ cực đoan, có thể là những người hàng xóm, những người bạn và người thân của chúng ta, rằng họ cũng có cuộc sống đời thường và họ có thể đánh mất cuộc sống đó.
Điều đầu tiên mà người dân cần chính là những thông tin về cuộc đánh bom và sự đảm bảo rằng chính phủ đã làm mọi thứ có thể nhằm bảo vệ họ khỏi những cuộc tấn công khác. Tôi đặc biệt lo ngại bọn trẻ biết về vụ nổ nhà giữ trẻ trong tòa nhà và chúng có thể lo sợ rằng trường học của chúng không được an toàn. Chúng tôi nói chuyện với Chelsea và muốn nó cho lời khuyên làm cách nào để trấn an bọn trẻ.
Vào thứ Bảy sau ngày đánh bom, Bill và tôi đã nói chuyện trong một chương trình truyền hình và truyền thanh với một nhóm các em nhỏ mà cha mẹ chúng là những nhân viên liên bang, cùng làm việc cho những cơ quan liên bang bị tấn công ở Oklahoma. Chúng tôi nghĩ điều quan trọng là chúng tôi phải nói ra những lo lắng về thảm họa khủng khiếp đó với tư cách là cha mẹ.
"Sự sợ hãi trước những gì khủng khiếp là điều hoàn toàn tự nhiên", Bil đã nói với bọn trẻ đang ngồi trên sàn nhà của Phòng Bầu Dục trong khi bố mẹ chúng đang đứng bên cạnh.
"Cô muốn các cháu biết rằng cha mẹ... yêu thương các cháu và cha mẹ đang làm mọi thứ để chăm sóc và bảo vệ các cháu”, tôi nói, "Trên thế giới này luôn có nhiều người tốt hơn những kẻ xấu và kẻ ác."
Bill nói với bọn trẻ rằng chúng tôi sẽ bắt giữ và trừng phạt những kẻ đã gây ra vụ đánh bom. Rồi anh bảo bọn trẻ hãy nói ra những suy nghĩ của chúng.
"Nó thật bần tiện", một đứa trẻ nói.
"Cháu cảm thấy buồn cho những người đã chết", một đứa khác nói.
Một câu hỏi làm tôi thật đau lòng và không biết phải trả lời ra sao: "Tại sao người ta lại muốn làm điều đó với những đứa trẻ vô tội đã không làm bất kỳ điều gì đối với họ?".
Cả nước đang trông cậy vào Bill và tôi biết anh là người có khả năng thấu cảm tuyệt vời cũng như khả năng kêu gọi sự đoàn kết của mọi người nhằm vượt qua những thời điểm khó khăn. Ngày hôm sau, chúng tôi đã trồng một cây sơn thù du ở Khu vườn phía Nam để tưởng niệm những nạn nhân, trước khi đi thăm gia đình của họ. Bill và tôi đã gặp gỡ riêng một số nạn nhân và gia đình trước khi tham dự một buổi cầu nguyện tưởng niệm lớn, tại đó Bill và Mục sư Billy Graham đã hứa giúp hàn gắn vết thương của quốc gia. Bất kỳ khi nào nhìn thấy Bill ôm các thành viên của những gia đình nạn nhân, trò chuyện với những người bạn đang đau khổ hay an ủi những người bệnh vô phương cứa chữa, tôi lại cảm thấy mình như phải lòng anh ấy một lần nữa. Sự đồng cảm xuấ phát từ những cảm xúc và sự quan tâm sâu sắc đã giúp anh ấy có khả năng chia sẻ với mọi người những đau thương mất mát.
Vào thời điểm chúng tôi đến thành phố Oklahoma, một kẻ tình nghi đã bị bắt, hắn ta có dính líu với những nhóm vũ trang chống Chính phủ. Dường như Timothy McVeigh đã chọn ngày 19 tháng 4 để tấn công đất nước mà hắn ta đã khinh miệt bởi vì đó là ngày kỷ niệm vụ cháy Waco khủng khiếp, giết chết hơn tám mươi thành viên của Giáo phái David, bao gồm cả trẻ con. McVeigh và đồng bọn đại diện cho những phần tử bạo lực và điên khùng của cánh hữu cực đoan mà những hành động của chúng làm cho những người Mỹ có lương tri phải ghê tởm. Những chương trình truyền thanh và những trang web của cánh hữu với lối nói khoa trương về sự cuồng tín, tức giận và sự hoang tưởng chống chính phủ đã làm bầu không khí thù địch càng nặng nề hơn. Nhưng vụ nổ bom ở thành phố Oklahoma dường như đã làm xẹp phong trào dân quân của cánh hữu và làm cho những kẻ cực đoan nhất trên làn sóng phát thanh phải im lặng.
Vào đầu tháng Năm, trong buổi đọc diễn văn phát bằng tại Đại học Michigan, Bill đã tuyên bố chống lại những "kẻ buôn bán thù hận", những phần tử chống Chính phủ quá khích: "Không có gì là yêu nước khi bạn tỏ ra căm thù đất nước hay giả vờ rằng bạn yêu nước nhưng lại khinh miệt Chính phủ của bạn".
Trong khi đất nước đang phải đương đầu với thảm họa ở thành phố Oklahoma, Văn phòng của Luật sư Độc lập (OIC) đã không hề ngơi nghỉ. Vào thứ Bảy, ngày 22 tháng 4, sau cuộc gặp mặt của chúng tôi với bọn trẻ tại Phòng Bầu Dục, Kenneth Starr và các trợ lý của ông ta đến Nhà Trắng để lấy lời khai của Tổng thống và tôi. Robert Fiske đã từng phỏng vấn tôi vào năm ngoái, trước khi ông ta bị thay thế nhưng đây là lần đầu tiên tôi chạm trán với Starr và phụ tá của ông ta. Cả David Kendall lẫn bản thân tôi không hề xem nhẹ việcị cho buổi phỏng vấn. Biết rõ rằng từng lời nói của tôi sẽ bị OIC phân tích kỹ lưỡng, David nài nỉ tôi dành nhiều thời gian chuẩn bị cho dù có bận rộn đến đâu chăng nữa. Thường thì điều đó có nghĩa là tôi phải họp hành tới khuya hay trải qua nhiều giờ để tiêu hóa những thông tin trong những cặp hồ sơ bìa đen dày cộm mà anh ta đưa đến cho tôi. Dường như tôi bị ám ảnh khi nhìn thấy những tập hồ sơ đó bởi vì nó nhắc tôi nhớ đến những điều tầm thường và vụn vặt mà tôi phải đối phó khi tuyên thệ, tất cả những thứ này có thể được OIC sử dụng để ngáng chân tôi về mặt luật pháp.
Bill đã vào Phòng Hiệp ước (Treaty Room) đề phỏng vấn, đó là phòng nghiên cứu của Tổng thống trên tầng hai của căn nhà. Đại diện cho Nhà Trắng là Abner Mikva, cựu thành viên Quốc hội và thẩm phán liên bang, hiện là luật sư của Nhà Trắng, và Jane Sherburne, một nhà lập pháp đầy kinh nghiệm đã rời bỏ công ty luật tư nhân của mình để phụ trách các vấn đề pháp luật liên quan đến cuộc điều tra. Họ cùng phối hợp với các luật sư riêng của chúng tôi là David Kendall và cộng sự Nicole Seligman của anh, hai trong số những người thông minh nhất và tận tâm nhất mà tôi đã từng biết. Starr cùng với ba luật sư khác ngồi một phía của chiếc bàn hội nghị dài mà chúng tôi đã chuẩn bị cho buổi phỏng vấn và chúng tôi ngồi phía đối diện.
Khi Bill bước ra khỏi phòng phỏng vấn, anh ấy nói rằng cuộc trạm chán với Starr diễn ra một cách thân mật và tôi thật ngạc nhiên khi nghe Bill bảo Jane Sherburne dẫn Starr và các phụ tá đi tham quan phòng ngủ của Tổng thống Lincoln bên canh. Xét về tính cách, tôi không thể tỏ ra độ lượng như chồng mình và đây chỉ là một ví dụ đầu tiên về những điểm khác nhau giữa Bill và tôi trong cách ứng xử với Starr. Chúng tôi đều đang ở trị trí tâm bão nhưng dường như tôi bị vùi dập theo mỗi đợt gió trong khi Bill chỉ đơn giản lướt đi êm ả. Mỗi khi nghĩ đến việc bị những thành viên nòng cốt của Đảng Cộng hòa lục lọi của mình, xem xét từng tấm séc mà chúng tôi đã ký trong 20 năm và quấy rối bạn bè của chúng tôi với những lời xin lỗi thật hời hợt là tôi phát điên lên.
Đảng Cộng hòa mở một mặt trận mới khi Al D'Amato, Nghị sĩ Cộng hòa ở New York và Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện triệu tập phiên điều trần về vụ Whitewater. Tôi luôn giữ hòa khí với Nghị sĩ D'Amato, một trong những đại biểu cử tri lỗi lạc nhất mà tôi được biết, nhưng phiên điều trần mà ông ta và những đồng liêu Nghị sĩ Cộng hòa của ông ta thực hiện đã giáng một đòn thiệt hại nặng nề về vật chất và tinh thần lên những người vô tội.
Mặc cho phát hiện của Fiske về cái chết của Vince Foster là một vụ tự sát và không liên quan đến Nhà Trắng, D’Amato dường như quá luyến tiếc về cái chết của Vince nên đã cho tập hợp tất cả những nhân viên phụ tá cũ và mới ở Nhà Trắng phía trước máy quay và tra hỏi họ về vụ việc đau buồn đó. Maggie Williams, bình thường rất cứng rắn và mạnh mẽ, đã phát khóc vì những câu hỏi thật tàn nhẫn về cái chết của Vince Foster. Thật không thể chịu nổi khi phải chứng kiến Maggie bị xỉ vả liên tục và các hóa đơn chi phí pháp luật của cô ngày càng chất đống lên.
D’Amato gọi bạn tôi, Susan Thomases, là một kẻ nói dối khi cô cố trả lời các câu hỏi của ông ta. Cuộc chiến hàng chục năm với căn bệnh xơ cứng động mạch đã làm cho trí nhớ của Susan suy giảm và cô phải cố gắng thật nhiều để trả lời cuộc thẩm vấn hóc búa. Tôi không thể an ủi cô hay bất kỳ người nào vướng vào cơn ác mộng này, vì bất kỳ cuộc thảo luận nào của tôi với bất cứ ai về bất kỳ điều gì sẽ là cơ hội cho các thanh tra đi đến kết luận về việc đồng lõa hay mớm cung. Tôi tránh mọi thảo luận có thể dẫn đến việc họ buộc phải trả lời "Vâng" nếu bị hỏi là có nói chuyện với tôi trước đó
Một trong những thứ khó chịu nhất mà tôi từng chịu đựng là phải đứng ngoài lề, không thể lên tiếng để bảo vệ những người bạn, những đồng nghiệp của mình hay thậm chí không thể nói chuyện với họ về những bất công mà họ đang chịu đựng. Và sự việc còn tệ hại hơn nữa trước khi nó trở nên tốt đẹp hơn.