KỲ NGHỈ GIỮA NHIỆM KỲ

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kỳ Nghỉ Giữa Nhiệm Kỳ

❊ ❊ ❊

Nữ danh ca Aretha Franklin đã làm "rung chuyển" cả Vườn Hồng bằng một buổi tối ca nhạc không thể nào quên vào tháng Sáu - một hoạt động văn nghệ nằm trong khuôn khổ chuỗi biểu diễn hòa nhạc do chúng tôi tổ chức tại Nhà Trắng mà sau đó được phát lên truyền hình. Bà đã di chuyển như một "Nữ hoàng" giữa các bàn quan khách - là những người say mê thưởng thức khi Aretha cùng với danh ca Lou Rawls cất cao giọng ca trong một chương trình nhạc soul và các điệu thánh ca dân gian. Sau đó bà tiếp tục hòa giọng và rướn gần đến Bill đang đung đưa theo nhạc khi bà hát: "Nụ cười là những gì có ích cho những giọt nước mắt...".

Mười ngày sau, Robert Fiske tiết lộ những phát hiện sơ bộ trong cuộc điều tra vụ Whitewater đang được tiến hành nhanh chóng: Thứ nhất, không có thành viên nào dưới quyền Clinton ở Nhà Trắng hoặc thuộc Bộ Tài chính đã cố gắng tạo ảnh hưởng đối với cuộc điều tra của RTC. Thứ hai, Fiske bày tỏ sự đồng tình với quan điểm của Cục Điều tra Liên bang và Cảnh sát rằng cái chết của Vince Foster là do tự s. Ông còn kết luận thêm rằng không có bằng chứng nào cho thấy việc tự sát của ông ta có bất kỳ liên quan gì đến vụ bê bối Whitewater.

Fiske không đưa ra một bản cáo trạng nào giống như mong muốn của nhiều người thuộc phái cánh hữu Đảng Cộng hòa vốn hay công khai tung ra những lời suy đoán về cái chết của Vince Foster. Một vài nhà bình luận bảo thủ và nghị sĩ Quốc hội, chẳng hạn như Thượng nghị sĩ Lauch Faircloth thuộc Đảng Cộng hòa ở Bắc Carolina, đã yêu cầu Fiske xem xét thêm. Mỉa mai thay, vào ngày những kết luận điều tra của Foster được công bố, chồng tôi vô tình đã dọn đường cho việc công kích mình bằng cách ký khôi phục Đạo luật Luật sư Độc lập do Quốc hội gởi đến cho anh. Đó là điều mà chồng tôi đã hứa thực hiện và anh đã làm đúng lời hứa của mình.

Do sự chỉ trích đối với Fiske từ Đảng Cộng hòa đang gia tăng, tôi đã tranh luận phản đối việc ký văn bản pháp lý này trừ phi việc bổ nhiệm Fiske đã được công nhận trong dự luật. Tôi sợ rằng Đảng Cộng hòa và các đồng minh của họ trong bộ máy tư pháp, đứng đầu là Chánh án William Rehnquist, sẽ toan tính bằng cách nào đó loại bỏ Fiske bởi vì ông công minh và giải quyết công việc rất nhanh chóng, mau lẹ. Tôi chia sẻ nỗi lo ngại của mình cùng với Lloyd Cutler - người thay thế Bernie Nussbaum làm luật sư cố vấn của Nhà Trắng. Lloyd là một trong những người có tiếng tăm ở Washington, là luật sư của Tổng thống Carter và là cố vấn cho nhiều vị lãnh đạo chính trị khác. Với địa vị của một luật sư cao cấp, ông đã giúp đỡ xây dựng một trong nhưng hãng luật có uy tín nhất ở Mỹ. Khi tôi nói với ông về những điều làm tôi lo ngại, thì ông bảo tôi đừng lo. Lloyd là một quý ông thực sự, ông cho rằng ông đang làm việc với những con người có tính cách tương tự nhau. Thậm chí ông còn bảo rằng ông sẽ "đi lộn đầu xuống đất" nếu Fiske bị thay thế.

Theo đạo luật mới được ban hành, luật sư độc lập phải được chọn lựa bởi một "Tiểu ban Đặc biệt" - là một ban hội thẩm gồm ba thẩm phán liên bang do Chánh án Tòa án Tối cao chỉ định. Rehnquist đã cân nhắc chọn David Sentelle - một người theo Đảng Cộng hòa cực kỳ bảo thủ thuộc tiểu bang Bắc Carolina - làm trưởng Tiểu ban này.

Cũng theo những tài liệu báo cáo, vào giữa tháng Bảy, người ta đã nhìn thấy ngài Thẩm phán Sentelle dùng cơm trưa với Faircloth và Thượng nghị sĩ Jesse Helms - một trong những nhà phê bình trực tính khác của chồng tôi. Có lẽ đây là sự trùng hợp, vì sau đó, Sentelle đã tuyên bố rằng ba người họ chỉ là những người bạn cũ đang thảo luận với nhau về một số vấn đề. Nhưng vào ngày 5 tháng 8, chỉ một vài tuần sau bữa cơm trưa đó, Tiểu ban Đặc biệt đã thông báo về việc bổ nhiệm một luật sư độc lập mới. Robert Fiske đã bị loại, thay cho ông là Kenneth Starr.

Starr là "tay trong" của Đảng Cộng hòa, 48 tuổi, một cựu thẩm phán tòa án từng từ chức để trở thành Cố vấn Pháp luật trong thời Chính quyền Bush (cha). Đây cũng là cách truyền thống để "đến" được Tòa án Tối cao. Ông là một hội viên trong Công ty Kirkland & Ellis - một công ty luật có hoạt động sinh lợi từ việc bảo vệ các công ty thuốc lá. Ông là người bảo thủ trung thành không giống như Fiske, trước đây ông chưa bao giờ là luật sư bên nguyên. Ông đã rất thẳng thắn trong vụ kiện của Paula Jones khi xuất hiện trên truyền trình vào mùa xuân năm ấy để tranh cãi cho quyền lợi của Jones kiện vị Tổng thống đương nhiệm, đề xuất xử lý vụ việc một cách nhanh chóng. Ông cũng đề nghị thảo cho một người bạn ở tòa án bản tóm tắt hồ sơ tố tụng thay mặt bà ấy. Dựa trên bằng chứng của những mâu thuẫn về quyền lợi này, năm vị cựu chủ tịch của Hiệp hội Luật sư Mỹ đã yêu cầu Starr rút lui khỏi nhiệm vụ làm luật sư độc lập. Họ cũng đưa ra những câu hỏi chất vấn ban hội thẩm gồm ba thẩm phán đã chọn Starr.

Việc bổ nhiệm Starr làm chậm đi tiến trình điều tra rất nhiều. Hầu hết các nhân viên của Fiske thà từ chức còn hơn là làm việc cho Starr. Ông ta đã không xin nghỉ công việc luật sư ở công ty của mình như Fiske đã làm, do vậy, ông chỉ làm việc bán thời gian. Starr không hề có kinh nghiệm về luật hình sự nên ông phải học hỏi qua công việc. Bất chấp quy định quan trọng rằng một luật sư độc lập phải tiến hành cuộc điều tra "với một cách thức đầy hiệu quả, trách nhiệm, và kịp thời", Starr đã không lập thời gian biểu hoặc thể hiện bất kỳ sự khẩn trương nào. Điều này hoàn toàn ngược lại với Fiske. Fiske đã định gói gọn cuộc điều tra vào cuối năm 1994. Có thể thấy rõ ngay từ đầu, mục đích của Starr là kéo dài sự việc, ít nhất là qua cuộc tuyển cử năm 1996.

Căn cứ vào những mâu thuẫn về lợi ích này và những dấu hiệu cảnh báo sớm, rõ ràng là Starr đang thay thế Fiske nhưng không phải là để tiếp tục cuộc điều tra độc lập, mà vì những mục đích thiên vị. Lập tức tôi hiểu ngay là chúng tôi đang đối mặt với những vấn đề gì nhưng tôi cũng biết rằng tôi không thể làm được gì để giải quyết vấn đề cả. Tôi phải tin tưởng vào hệ thống công lý của chúng ta và hy vọng cho những điều tốt đẹp nhất. Tuy nhiên, tôi cũng đã nhắc Lloyd Cutler nhớ đến việc "đi lộn đầu xuống đất" của ông ấy và đề nghị ông có thể chọn cho mình cách thức đi sao cho tự nhiên nhất.

Việc làm chính trị mang tính chất phe phái không phải là điều mới mẻ ở Washington; nó đi kèm với phạm vi hoạt động. Nhưng nó là thứ chính trị hủy diệt cá nhân - theo bản năng, đó là những cuộc vận động tranh cử với thái độ hèn hạ nhằm hủy hoại cuộc đời của những người thuộc về công chúng - đó cũng là điều làm tôi cảm thấy chán nản và thấy có hại cho đất nước.

Suốt mùa xuân và mùa hè, những phát thanh viên trên vô tuyến truyền thanh của phe cánh hữu đã kích động bạn nghe đài bằng những câu chuyện kinh hoàng ở Washington. Theo thường nhật, Rush Limbaugh nói với 20 triệu bạn nghe đài rằng “Vụ Whitewater là về vấn đề chăm sóc y tế". Và cuối cùng, tôi cũng hiểu được rằng, vâng, đúng nó là về vấn đề cải cách hệ thống chăm sóc y tế. Bất chấp những phát hiện của Fiske, cuộc điều tra đang tiếp diễn về vụ Whitewater là nhằm phá hoại chương trình tiến bộ này bằng mọi cách. Limbaugh và những người khác hiếm khi phê bình những nội dung của Đạo luật Chăm sóc Y tế hoặc bất cứ chính sách nào do Đảng Dân chủ đưa ra. Nếu bạn tin tưởng vào mọi điều bạn nghe thấy trên đài phát vào năm 1994, có lẽ bạn sẽ kết luận rằng Tổng thống của bạn là một người Cộng sản, rằng Đệ nhất Phu nhân là một nữ sát thủ và rằng vợ chồng Tổng thống cùng nhau ngấm ngầm âm mưu tước đi vũ khí của bạn và buộc bạn phải từ bỏ bác sĩ riêng của gia đình bạn (nếu có) vì hệ thống chăm sóc y tế xã hội chủ nghĩa.

Một buổi chiều cuối tháng Bảy ở Seattle, tôi ghé vào thành phố như là một hoạt động nằm trong Chương trình Chăm sóc Y tế Cấp tốc. Được cổ vũ bởi nhóm Freedom Riders - là những người đi xe buýt xuyên qua miền Nam vào đầu thập niên 60 để tuyên truyền thông điệp về xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc - những người ủng hộ cải cách y tế đã tổ chức chuyến xe buýt đi vòng quanh đất nước vào mùa hè năm 1994. Ý tưởng này nhằm tuyên truyền về kế hoạch chăm sóc y tế đến tận cơ sở và sẽ góp phần hình thành những đám đông từ các miền duyên hải phía Tây cho đến Washington, chứng tỏ cho Quốc hội thấy rằng dự luật về chăm sóc y tế được mọi người ủng hộ.

Chúng tôi bắt đầu ở Pordand, Oregon - nơi tôi gửi đi đội quân du hành tuyên truyền đầu tiên. Đó là một sự kiện sống động, bất chấp cái nóng khủng khiếp và những người la hét phản đối vây quanh nơi tuyên truyền. Khi những chiếc xe buýt khởi hành, một chiếc máy bay nhỏ kéo theo một biểu ngữ bay trên bầu trời với dòng chữ: "Coi chừng Chương trình Cấp tốc Dỏm”. Đây không phải là một trò quảng cáo rẻ tiền.

Các đài phát thanh quốc gia và địa phương liên tục kích động những người phản đối trong suốt một tuần. Một trong số những đài này đã thúc giục thính giả nghe đài hãy xuống đường và "chỉ cho bà Hillary biết" điều mà họ nghĩ về tôi. Lời kêu gọi này đã lôi kéo hàng trăm người theo những kẻ cánh hữu nòng cốt: những người ủng hộ lực lượng phòng bị dân sự, những người phản đối chính sách thuế, những người phong tỏa phòng khám. Có ít nhất một nửa trong số 4.500 người đến nghe bài diễn văn của tôi ở Seattle là những người phản đối.

Cơ quan An ninh cảnh báo với tôi rằng chúng tôi có thể gặp rắc rối. Có một lần, tôi đồng ý mặc áo chống đạn. Từ đó, tôi trở nên quen với sự hiện diện thường xuyên của nhân viên an ninh, quen với việc có những cuộc đối thoại riêng tư bị các nam và nữ nhân viên an ninh nghe lén - họ là những người mà tôi cho rằng họ biết nhiều về bản thân tôi và gia đình tôi hơn cả những người bạn thân nhất. Họ hối thúc tôi tránh khỏi nơi nào đó hay phải mặc quần áo bảo vệ. Và bấy giờ là lần đầu tiên tôi chú ý đến lời cảnh báo của họ. Đó là một trong vài lần tôi cảm thấy tính mạng mình thật sự bị nguy hiểm. Trong suốt cuộc mít-tinh lớn này, tôi hầu như không thể nghe thấy giọng nói của mình trong tiếng la ó và những câu ngắt lời thô bạo. Sau khi bài diễn văn kết thúc và chúng tôi lái xe ra khỏi sân khấu thì hàng trăm người phản đối vây quanh chiếc limousine. Nhưng gì tôi có thể nhìn thấy từ trong xe là một đám đông thanh niên trạc tuổi 20, 30. Tôi sẽ không bao giờ quên ánh mắt của họ và những cái miệng tru lại la hét tôi trong khi các nhân viên đẩy họ đi. Cơ quan An ninh đã bắt giữ nhiều người vào cái ngày hôm đó, họ tịch thu hai khấu súng và một con dao do đám đông cất giấu.

Theo các nhà báo David Broder và Haynes Johnson, việc phản kháng này không phải ngẫu nhiên hay tình cờ, mà là một phần của một chiến dịch được tổ chức rất tốt nhằm làm gián đoạn chiếc xe buýt tuyên truyền cải cách y tế và làm vô hiệu thông điệp của cuộc tuyên truyền. Ở những nơi đoàn xe buýt dừng lại, họ đều gặp những người biểu tình. Những cuộc biếu tình chống đối được tài trợ bởi một nhóm quan tâm đến chính trị nghe có vẻ ôn hòa với tên gọi Những Công dân vì một Nền Kinh tế Vững mạnh (CSE). Cuối cùng, các nhà báo đã phát hiện và vạch trần sự việc rằng nhóm CSE đã phối hợp với văn phòng ở Washington của Newt Gingrich. Và như Broder và Johnson đã viết trong cuốn sách The Sytem thì những nhà tài trợ hào phóng hậu thuẫn cho nhóm CSE không ai khác hơn là một người sống ẩn dật - nhưng thực tế lại đang hoạt động rất tích cực - đó là ông Richard Mellon Scaife, một nhà triệu phú thuộc phe cánh hữu, cũng là người đã hỗ trợ tài chánh cho Dự án Arkansas.

Khi quay trở về Washington sau chuyến đi này, chúng tôi tiếp tục cố gắng thỏa hiệp với những người thuộc Đảng Cộng hòa trong Quốc hội về nhiều vấn đề của cuộc cải cách. Tôi rất ngưỡng mộ Thượng nghị sĩ John Chafee ở tiểu bang Rhode Island vì lập trường rất nguyên tắc và phong cách lịch thiệp của ông. Ông là người sớm ủng hộ việc cải cách và xu hướng bảo hiểm thanh toán toàn bộ chi phí điều trị. Nghị sĩ Chafee đã làm việc với những đồng nghiệp thuộc Đảng Cộng hòa để phát triển đề xuất sâu sắc của mình. Ông hy vọng rằng, bằng cách kết hợp kế hoạch của ông với kế hoạch của chúng tôi, ông sẽ có được sự ủng hộ của cả hai Đảng để có thể thông qua dự luật. Chafee đã nỗ lực để tạo cầu nối giữa Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ, duy trì nỗ lực đó cho đến khi ông là người Cộng hòa duy nhất đấu tranh cho công cuộc cải cách. Và cuối cùng, ông cũng từ bỏ mục tiêu của mình. Không có sự ủng hảng Cộng hòa, cuộc cải cách y tế giống như một bệnh nhân thoi thóp phụ thuộc vào phương tiện hỗ trợ sự sống trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn nỗ lực cho đến cuối cùng để làm cho Đảng Cộng hòa đi đến chấp nhận một vài thỏa hiệp nào đó. Thượng nghị sĩ Kennedy nhiều lần tạo áp lực với Chafee, nhưng không có kết quả. Trong một cuộc họp nóng bỏng tại Nhà Trắng, vài cố vấn của Bill đã cho rằng anh ấy nên công khai với dân chúng cả nước và giải thích cho họ hiểu giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa đã cố gắng ngăn cản cuộc cải cách như thế nào. Tổng thống có thể nói về những nỗ lực để đạt sự đồng thuận và hỏi tại sao Dole, Gingrich và những người khác không sẵn lòng ngồi vào bàn thương lượng. Thông điệp của Tổng thống sẽ là một thách thức đối với Quốc hội để công việc cải cách được thực hiện. Một nhóm khác tranh cãi rất kịch liệt rằng việc để cho dự luật chết luôn trong im lặng là điều khôn ngoan hơn cả. Trước cuộc bầu cử, họ tin rằng chúng tôi không cần phải tranh luận thêm nữa và lo lắng rằng bài phát biểu của Tổng thống sẽ thu hút sự chú ý nhiều hơn đến thất bại chính trị.

Tôi cho rằng đất nước cần được nhìn thấy vị Tổng thống của mình đang đấu tranh cho dù ông có thất bại, rằng chúng tôi nên cố gắng cho một cuộc bỏ phiếu ở Thượng viện. Ủy ban Tài chính đã bỏ phiếu không chấp thuận sự thỏa hiệp, Thượng nghị sĩ Mitchell với tư cách là Thủ lĩnh phe đa số, có thể trực tiếp đưa điều này ra trước Thượng viện. Cho dù chiến lược đó có dẫn đến việc Đảng Cộng hòa cản trở vấn đề thông qua dự luật, như một số người phía chúng tôi dự đoán, thì tôi nghĩ ràng chiến lược đó vẫn có thể phát huy tác dụng theo hướng có lợi. Các thành viên Quốc hội có thể sẽ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn trước cử tri của họ trong các cuộc bầu cử vào tháng 11. Và Đảng Dân chủ sẽ không bị kẹ một tình thế mà tôi cho là sẽ thật tồi tệ đối với cả hai Đảng : Đảng Cộng hòa không phải bỏ phiếu ủng hộ việc chống lại cuộc cải cách và Đảng Dân chủ chiếm đa số sẽ thất bại trong việc thông qua các quy định pháp lý mới. Chiến lược cẩn trọng hơn cuối cùng đã chiến thắng, cũng đồng nghĩa là vấn đề chăm sóc y tế sẽ chìm dần vào quên lãng. Tôi vẫn cho rằng kế sách đó là sai lầm. Việc từ bỏ mà không có cuộc đấu tranh công khai cuối cùng nào đã làm thoái chí các đảng viên Đảng Dân chủ và để cho phe đối lập viết lại lịch sử.

Sau 20 tháng, chúng tôi thừa nhận sự thất bại. Chúng tôi biết rằng mình đã thờ ơ với rất nhiều chuyên gia và giáo sư về công nghệ chăm sóc y tế, cũng như một số liên minh luật pháp của chúng tôi. Cuối cùng thì chúng tôi đã không thể thuyết phục được đại đa số dân chúng nước Mỹ - những người có bảo hiểm y tế, rằng họ sẽ không phải từ bỏ lợi ích và sự chọn lựa y tế của mình để giúp đỡ thiểu số người Mỹ không được bảo hiểm. Chúng tôi cũng không thể thuyết phục được họ rằng cuộc cải cách sẽ bảo vệ họ tránh khỏi việc mất bảo hiểm và sẽ làm cho chi phí chăm sóc y tế của họ hợp lý hơn trong tương lai.

Bill và tôi đã thất vọng và cảm thấy chán nản. Tôi biết rằng tôi có phần trách nhiệm trong thất bại của chúng tôi, vì những bước đi sai lầm của chính bản thân tôi và cả vì việc tôi đã đánh giá thấp sự cản trở mà tôi gặp phải với tư cách là một Đệ nhất Phu nhân đối với một nhiệm vụ chính trị. Tôi cũng cảm thấy tồi tệ cho ông Ira - người đã nhận quá nhiều những lời chỉ trích bất công và không dựa trên cơ sở nào cả. Bill đánh giá cao đức tính chăm chỉ của ông ấy, đã yêu cầu ông ấy lãnh đạo nhóm Đặc trách về Thương mại Điện tử của Chính phủ. Ira đã làm một việc lớn là thiết lập hướng tiếp cận của Chính phủ đối với việc khuyến khíchhương mại điện tử. Ông đã sớm được khen ngợi trong cộng đồng doanh nghiệp vì sự hiểu biết sâu sắc của mình và nổi tiếng là "Vua Internet".

Sai lầm lớn nhất của chúng tôi là cố gắng làm quá nhiều, quá nhanh. Dầu điều đó đã nói lên tất cả nhưng tôi vẫn tin rằng chúng tôi đã đúng khi cố gắng hết mình. Công việc của chúng tôi trong năm 1993 và 1994 mở đường cho những gì mà nhiều nhà kinh tế học đã gán cho là "nhân tố Hillary" - sự hạn chế có chủ đích về việc tăng giá của các nhà cung cấp y khoa và các công ty dược phẩm trong thập niên 1990. Nó cũng giúp tạo ra những ý tưởng và những mong muốn chính trị đưa đến những cải cách nhỏ hơn nhưng quan trọng trong nhiều năm sau này. Cám ơn sự lãnh đạo của Thượng nghị sĩ Kennedy và Thượng nghị sĩ Nancy Kassebaum - một đảng viên Đảng Cộng hòa ở tiểu bang Kansas, bởi đất nước giờ đây có được sự đảm bảo luật pháp mà theo đó, công nhân sẽ không mất bảo hiểm của họ khi thay đổi công việc. Tôi âm thầm làm việc cùng với Thượng nghị sĩ Kennedy để giúp ông thực hiện Chương trình Bảo hiểm Y tế của Trẻ em (CHIP), chương trình này vào năm 2003 đã chu cấp cho hơn năm triệu trẻ em có bố mẹ đang làm việc nên không cần phải nhận trợ cấp của Chương trình Hỗ trợ Y tế (Medicaid) nhưng lại không thể trả nổi bảo hiểm cá nhân. CHIP đại diện cho việc mở rộng lớn nhất hệ thống chu cấp bảo hiểm y tế công cộng từ khi thông qua Chương trình Hỗ trợ Y tế vào năm 1965. Và nó giúp làm giảm bớt con số những người Mỹ không được bảo hiểm y tế lần đầu tiên trong 12 năm.

Bill đã ký một loạt dự luật mà tôi đã từng tham gia, bao gồm những quy định pháp luật đảm bảo rằng các sản phụ được phép ở lại trong bệnh viện hơn 24 tiếng sau khi sinh; xúc tiến việc chụp X-quang nhũ hoa ở nữ và tiến hành sàng lọc tuyến tiền liệt ở nam; gia tăng nghiên cứu về bệnh đái tháo đường và cải thiện tỉ lệ tiêm phòng trẻ em để 90% trẻ em dưới haiược tiêm chủng phòng ngừa những bệnh nguy hiểm nhất ở lứa tuổi này. Bill cũng đảm nhiệm việc vận động hành lang cho dự luật chống thuốc lá và cũng bắt đầu chú tâm vào HIVAIDS trong nước cũng như trên khắp thế giới. Anh sử dụng đặc quyền của Tổng thống để mở rộng các quyền lợi của bệnh nhân cho hơn 85 triệu người Mỹ và những người sống dựa theo họ được ghi nhận trong các kế hoạch y tế liên bang và cho những người thuộc diện hưởng Chương trình Chăm sóc Sức khỏe (Medicare), Chương trình Hỗ trợ Y tế (Medicaid) và Hệ thống Y tế dành cho Cựu chiến binh. Không có hoạt động nào trong số những hoạt động này thể hiện sự thay đổi "mang tính chấn thiên động địa" gần với Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe. Nhưng tính chung, những cải tổ về các chính sách chăm sóc y tế này đã cải thiện điều kiện cho hàng chục triệu người Mỹ.

Sau khi cân nhắc, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã quyết định đúng khi cố gắng cải cách toàn bộ hệ thống. Vào năm 2002, cùng với khó khăn của nền kinh tế và những khoản tiết kiệm tài chính về chăm sóc y tế trong thập niên 1990 đã chựng lại, chi phí bảo hiểm y tế đang gia tăng trở lại nhanh hơn cả nạn lạm phát, con số những người không có bảo hiểm đang gia tăng và những người cao tuổi nằm trong chương trình Chăm sóc Sức khỏe vẫn không được chu cấp khoản thuốc men theo toa của bác sĩ. Những người tài trợ cho quảng cáo Harry và Louis có thể khấm khá hơn, nhưng người dân Mỹ thì không. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ sửa đổi hệ thống. Và khi chúng ta làm được điều này, đó sẽ là kết quả của hơn 50 năm nỗ lực của các đời Tổng thống Harry Truman, Richard Nixon, Jimmy Carter, Bill và cả tôi. Vâng, tôi vẫn vui rằng chúng tôi đã cố gắng.

Tên của Bill sẽ không xuất hiện trong hệ thống bỏ phiếu vào kỳ tuyển cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ năm 1994, tuy nhiên, cả hai chúng tôi đều biết rằng nhiệm kỳ Tổng thống của Bill có lẽ là một phần trong các tính toán bầu cử và sự thất bại của Chương trình có khả năng ảnh hưởng đến kết quả. Cũng có những yếu tố khác, bao gồm một trong số những khuynh hướng có thể tiên đoán được từ lâu trong đời sống chính trị của Mỹ: Đảng phái nào kiểm soát Nhà Trắng thường mất đi một số ghế trong Quốc hội trong các cuộc tuyển cử giữa nhiệm kỳ. Điều này có thể phản ánh được điều mong ước trong thâm tâm của những cử tri đi bầu: Nhằm duy trì sự cân bằng quyền lực ở Washington - không bao giờ để Tổng thống có quá nhiều quyền hành để ông ta tin rằng mình có thể hành động như một vị vua. Một cách để giữ ông ta đi đúng đường là làm giảm bớt sự hỗ trợ của ông ta trong Quốc hội. Và khi nền kinh tế đi xuống hoặc những yếu tố khác làm giảm bớt tính đại chúng của Tổng thống thì những mất mát trong việc tuyển cử giữa nhiệm kỳ lại càng lớn hơn.

Newt Gingrich và phe phái của ông - những người tự cho mình là "những nhà cách mạng" thuộc Đảng Cộng hòa - tỏ ra nôn nóng để lợi dụng xu hướng đó. Vào tháng Chín, Gingrich đứng trên bậc thềm của trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ, vây xung quanh là những thành viên cùng tư tưởng, ông ta đã tiết lộ kế hoạch trò chơi của mình trong chiến thắng kỳ tuyển cử giữa nhiệm kỳ: đó là một bản "Giao ước với nước Mỹ". Bản Giao ước này đưa ra những vấn đề cơ bản cho các kiến nghị của Đảng Cộng hòa để bãi bỏ Bộ Giáo dục, đồng thời thực hiện việc cắt giảm triệt để các khoản chi cho Chương trình Chăm sóc Sức khỏe, Chương trình Hỗ trợ Y tế, Giáo dục và Môi trường, cắt xén những khoản tín dụng dành cho những người có thu nhập thấp. Bản giao ước cũng đã trở nên nổi tiếng khắp Nhà Trắng với cái tên "Bản Giao ước ăn theo nước Mỹ" vì sự thiệt hại mà nó gây ra cho đất nước. Những con số đằng sau chính sách trái ngược của bản giao ước đã không được tổng cộng lại. Bạn không thể gia tăng khoản chi tiêu cho quân sự, giảm thuế, cân đối ngân sách liên bang nếu bạn không cắt giảm những vấn đề mà chính phủ thực hiện. Gingrich dựa vào những để cho qua các con số bằng các phép tính số học. Bản Giao ước là một chiến lược để chính phủ kiểm soát các cuộc bầu cử địa phương và chuyển những cuộc chạy đua vào Quốc hội thành một cuộc trưng cầu dân ý theo thuật ngữ của Đảng Cộng hòa: tiêu cực cho Chính quyền của Bill và tích cực cho Bản Giao ước của họ.

Trong thể chế chính trị Mỹ, các ứng cử viên và công chức dựa vào các cuộc thăm dò ý kiến đế đánh giá dư luận quần chúng. Nhưng, ít người muốn thừa nhận điều đó bởi vì họ sợ rằng giới truyền thông và công chúng sẽ buộc tội họ về việc cố tình chiều theo ý các cử tri. Tuy nhiên, các cuộc thăm dò không nói cho các chính khách biết họ phải tin vào điều gì và theo đuổi những chính sách nào; chúng là những công cụ dự đoán nhằm giúp các chính khách thực hiện công việc hiệu quả nhất cho một tiến trình hành động nhất định nào đó dựa vào sự hiểu biết về sự hưởng ứng của cử tri. Bác sĩ lắng nghe tim các bạn bằng ống nghe còn các chính khách lắng nghe các cử tri bằng các cuộc thăm dò dư luận. Trong các cuộc vận động tranh cử, kết quả thăm dò giúp các ứng cử viên nhận biết những điểm mạnh và những điểm yếu của mình. Một khi các quan chức đã trúng cử, những cuộc thăm dò ý kiến sáng suốt có thể giúp họ giao tiếp một cách có hiệu quả để đạt được những mục tiêu của họ. Những cuộc thăm dò ý kiến về chính trị tốt nhất là sự pha trộn giữa khoa học thống kê với khoa tâm lý học, và cả khoa giả kim thuật. Chìa khóa ở đây là: Để có được câu trả lời hữu ích, bạn phải có được các câu hỏi đúng cho một số lượng đủ đại diện cho thành phần cử tri.

Khi chúng tôi tiến đến gần các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11, các cố vấn chính trị của Bill quả quyết với chúng tôi rằng những chính khách Đảng Dân chủ đang ở trong tình thế khá tốt. Nhưng tôi rất lo. Sau nhiều tuần bay khắp nước Mỹ vận động tranh cử cho các ứng viên Đảng Dân chủ, tôi vẫn có cảm giác rằng những cuộcến cử tri do các tổ chức bên ngoài hoặc do các điều tra viên của Đảng Dân chủ thực hiện đều không chính xác. Tôi nghi ngờ những người thăm dò ý kiến đã không lường được những dòng cản trở mạnh mẽ của phe cánh hữu và sự lãnh đạm giữa những người ủng hộ chúng tôi nằm dưới bề mặt chính trường Mỹ. Một trong những bí mật của việc hiểu biết về số phiếu bầu là nhận biết mức độ trạng thái tình cảm của các cử tri. Đa số cử tri có thể nói họ quan tâm về những biện pháp nhạy cảm trong việc sử dụng súng an toàn nhưng họ không cứng rắn như những cử tri thiểu số - những người chống lại bất kỳ hình thức kiểm soát vũ khí nào. Những cử tri gay gắt luôn có mặt để bỏ phiếu ủng hộ hay chống đối một ứng viên, dựa vào vị trí ứng cử - vị trí này thi thoảng được xem như một vấn đề mũi nhọn. Số đông bỏ phiếu bầu cho một loạt các vấn đề khác hoặc không bỏ phiếu. Tôi biết rằng nhiều thành tựu đạt được của Chính phủ có thể được xem là những vấn đề mũi nhọn. Hầu hết các cử tri Đảng Cộng hòa đều phản đối gay gắt về chính sách gia tăng thuế thu nhập của những người có thu nhập cao để làm giảm thâm hụt ngân sách, về Dự luật Brady cấm các loại vũ khí tấn công, được thông qua vào năm 1994, trong đó có quy định rằng việc sản xuất, kinh doanh hoặc sở hữu 19 loại trong số những vũ khí bán tự động nguy hiểm nhất là bất hợp pháp. Hiệp hội Súng trường Quốc gia, phe cánh hữu và những nhóm quan tâm đến việc phản đối chính sách thuế trở nên tích cực hơn bao giờ hết.

Tôi cũng hiểu là một số ủng hộ viên nòng cốt của Đảng Dân chủ cảm thấy thất vọng do những thất bại của chúng tôi trong cuộc cải cách hệ thống chăm sóc y tế hoặc cảm thấy bị phản bội do việc Chính phủ thúc đẩy thành công chương trình NAFTA. Tôi sợ rằng sự thất vọng của họ có thể làm mờ đi tất cả những thành quả tích cực của Chính phủ của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ. Dường như có hơi vội vàng giữa nội bộ Đảng Dân chủ khi rút ra khỏi cuộc bầu cử. Và còn quá sớm để nhiều cử tri độc lập và những cử tri tự do có thể cảm nhận được sự cải thiện trong nền kinh tế hoặc nhìn thấy được những hiệu quả đáng mừng khi vấn đề thâm hụt ngân sách giảm xuống đồng thời mức lãi suất và công ăn việc làm tăng lên.

Trong tháng Mười, tôi đã gọi điện cho Dick Morris để hỏi ý kiến ngoài lề của ông về những triển vọng của chúng tôi. Bill và tôi xem Morris là một người chuyên thực hiện các cuộc thăm dò lấy ý kiến quần chúng đầy sáng tạo và là một nhà chiến lược tài ba, nhưng ông cũng có nhiều vấn đề phức tạp. Trước tiên, ông không hối tiếc về chuyện đã làm việc cho cả hai đảng và tất cả những vấn đề mà ông đã từng giải quyết cho cả hai bên. Mặc dù ông đã giúp Bill chiến thắng năm cuộc đua vào vị trí thống đốc bang, nhưng ông cũng làm việc cho các nghị sĩ bảo thủ thuộc Đảng Cộng hòa như Thượng nghị sĩ Trent Lott ở bang Mississippi và Thượng nghị sĩ Jesse Helms ở Bắc Carolina. Chuyên môn của ông Morris là nhận diện những cử tri tự do - những người vẫn đang lưỡng lự trong việc lựa chọn giữa hai đảng. Đôi khi, lời khuyên của ông cũng khá thú vị, bạn phải chọn lọc nó để rút ra được những quan điểm sâu sắc và những ý tưởng hữu ích cho mình. Và ông ấy có những kỹ năng của loài nhím. Tuy nhiên theo tôi những phân tích của Morris có thể có tác dụng nâng cao kiến thức, nếu chúng ta tham vấn ông cẩn thận và kiên nhẫn. Bằng những quan điểm hoài nghi về chính trị và con người, Morris là một đối trọng đối với một Bill Clinton từng rất lạc quan. Khi Bill thấy được trong họa có phúc thì Morris lại thấy mưa bão sấm sét.

Từ đầu năm 1978, Morris làm việc cho Bill trong các chiến dịch tranh cử thống đốc bang và đều thành công, ngoại trừ một lần ông bị thất bại vào năm 1980. Nhưng đến năm 1991, ông làm quen được với nhiều ứng viên Đảng Cộng hòa hơn và không ai trong cơ cấu quyền lực của Đảng Dân chủ còn thích hoặc tin cậy ông. Các cố vấn của Bill đã thuyết phục anh không nên sử dụng Morris trong chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống. Tháng 10 năm 1994, tôi đã gọi điện thoại cho ông Morris.

Tôi nói: "Dick này, cuộc tuyển cử lần này có vẻ như không phù hợp với tôi". Tôi bảo với ông ta tôi không tin tưởng vào các cuộc thăm dò ý kiến có kết quả tích cực và muốn biết ông ta nghĩ gì "Nếu tôi có thể nói Bill gọi điện cho ông, ông sẽ giúp chứ?”

Morris đang làm việc cho bốn ứng cử viên Đảng Cộng hòa, nhưng điều đó không phải là lý do sự miễn cưỡng của ông ta.

"Thưa bà Hillary, tôi không thích cái cách mà tôi bị đối xử như vậy", ông Morris nói bằng giọng New York liến thoắng, “người ta đã quá hèn hạ đối với tôi".

"Tôi hiểu, tôi hiểu, Dick à. Nhưng đó là khi người ta thấy ông đang gặp khó khăn." Tôi trấn an ông rằng ông sẽ chỉ nói chuyện với tôi và Bill, rằng chúng tôi đang cố gắng để hiểu tính khí của các cử tri và điều mà những thành viên Đảng Dân chủ muốn làm. Morris không thể bỏ qua thách thức này. Ông lặng lẽ thiết kế một loạt các câu hỏi để đo lường thái độ của người dân trên cả nước và chia sẻ các kết quả thăm dò của mình, điều đang làm nản lòng chúng tôi. Bất chấp những tiến bộ to lớn và kinh tế mà Bill đã thực hiện được - thâm hụt ngân sách đã bị đẩy lùi và nằm trong tầm kiểm soát, hàng trăm nghìn công ăn việc làm được tạo ra và nền kinh tế đăng bắt đầu tăng trưởng - hầu hết mọi người chưa tin vào kết quả đó do việc hồi phục chưa trở nên mạnh mẽ hoàn toàn. Nhiều người không dành bất kỳ lời khen ngợi nào cho Đảng Dân chủ về sự thay đổi này. Morris bảo với chúng tôi, Đảng Dân chủ đang gặp rất nhiều khó khăn, và hy vọng lớn nhất để thay đổi mọi thứ là các Đảng Dân chủ phải nhấn mạnh được những chiến thắng cụ thể mà người dân có thể cảm nhận được và vỗ tay tán thưởng được, chẳng hạn như luật Brady, Family Leave (quy định về việc nhân viên có quyền tạm nghỉ làm không hưởng lương để giải quyết việc gia đình - ND) và AmeriCorps (chương trình tình nguyện viên Mỹ - ND). Ông cho rằng việc thực hiện điều này có thể khuyến khích số cử tri ủng hộ. Thay vì chống lại Bản Giao ước (của Đảng Cộng hòa), điều mà hầu hết những ứng cử viên Đảng Dân chủ đang làm, chúng ta cần khẳng định nhiều hơn về những thành tựu của Đảng Dân chủ. Bill đã đồng ý và cố gắng thuyết phục những người lãnh đạo Quốc hội hãy tin tưởng vào những việc mà họ đã làm và bảo vệ bản thân mình chống lại sự công kích dữ dội của Đảng Cộng hòa.

Hai tuần trước ngày bầu cử, Bill và tôi có một kỳ nghỉ ngắn, tạm thoát ra khỏi những mối lo toan về cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và đi đến Trung Đông, nơi Bill đã chứng kiến việc ký kết thỏa thuận hòa bình giữa Israel và Jordan. Và tôi đã tổ chức sinh nhật lần thứ 47 của mình ở ba quốc gia khác nhau: Ai Cập, Jordan và Israel. Ngày 26 tháng 10, tôi đã thấy được các Kim Tự Tháp ở Giza trong ánh dương buổi bình minh, và trong khi Bill gặp Tổng thống Mubarak và Tổng thống Yasir Arafat để thảo luận về tiến trình hòa bình Trung Đông, Phu nhân Tổng thống Mubarak - bà Suzanne - đã tổ chức sinh nhật tôi trong bữa sáng, gồm toàn bánh ngọt, tại phòng ăn trông ra bức tượng Nhân sư.

Tổng thống Hosni Mubarak và Phu nhân Suzanne Mubarak là một đôi vợ chồng gây được nhiều ấn tượng. Phu nhân Suzanne có bằng thạc sĩ về xã hội học, đồng thời là một người ủng hộ mạnh mẽ những chương trình giúp cải thiện các cơ hội và giáo dục cho phụ nữ và trẻ em ở Ai Cập, bất chấp một vài phản đối của những người theo trào lưu chính thống Hồi giáo. Tổng thống Mubarak, có phong cách và gương mặt của một vị Pharaoh cổ xưa, đôi khi được đem ra so sánh vớiị vua thời nay. Tổng thống nắm giữ quyền lực kể từ sau vụ ám sát Tổng thống Anwar Sadat vào năm 1981. Trong những thập niên ấy, ông đã cố gắng cai trị Ai Cập trong khi vẫn phải lo kiểm soát những người Hồi giáo quá khích vốn đã nhiều lần cố gắng tìm cách ám sát ông. Cũng giống như những nhà lãnh đạo Ả-rập khác mà tôi đã gặp, Tổng thống Mubarak hiểu được tình thế tiến thoái lưỡng nan mà ông đang phải đối đầu trong việc cai trị một đất nước bị bao vây bởi sự căng thẳng giữa thiểu số người được giáo dục theo phương Tây muốn theo đuổi tiến trình hiện đại hóa và số đông bảo thủ hơn - những người luôn sợ lối sống và các giá trị truyền thống có thể bị chính trị hóa. Việc đi trên sợi dây căng thẳng đó - và vẫn còn sống sót - là một thách thức to lớn, tuy rằng đôi khi sách lược của Tổng thống Mubarak bị chỉ trích là quá độc đoán.

Chúng tôi bay từ thủ đô Cairo đến Thung lũng Great Rift ở Jordan để dự lễ ký kết hiệp ước hòa bình giữa Jordan và Israel, chính thức kết thúc tình trạng chiến tranh giữa hai quốc gia. Khung cảnh sa mạc ở Arava băng qua biên giới gợi cho tôi nhớ cảnh tượng trong The Ten Commandments (Mười điều r ăn của Đức Chúa Trời). Những cảnh ngoạn mục và hùng vĩ trong đó đã khiến cho câu chuyện gây ấn tượng sâu sắc hơn bất kỳ cảnh tượng nào ngoài phim trường Hollywood. Hai nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng đang nhận lấy những rủi ro chính trị và cá nhân vì tiến trình hòa bình. Cùng là những người lính dày dạn trên chiến trường, Thủ tướng Yitzhak Rabin và Quốc vương Hussein bin Talal không bao giờ từ bỏ hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân dân của họ.

Một điều không nhất thiết phải biết là Quốc vương Hussein thuộc dòng dõi Đấng tiên tri Muhammad. Tầng lớp quý tộc của ông ngay lập tức đã gây ấn tượng cho mọi người. Mặc dù có vóc người nhỏ nhưng Quốc vương có dáng vẻ oai vệ. Ở ông toát nên sự kết hợp độc đáo giữa quyền lực và sự ha nhã. Ngôn từ của ông rất cung kính, thể hiện qua việc sử dụng rất nhiều từ "Ngài" và "Lệnh Bà". Tuy nhiên phong cách lúc nào cũng mỉm cười và khiêm tốn đó càng làm nổi bật phẩm giá và sức mạnh của ông. Ông là một người có khả năng xoay xở để tồn tại và thành công, là người tạo dựng cho đất nước mình một vùng đất riêng giữa những khu vực hiểm nguy vây quanh.

Người bạn đời của ông, Hoàng hậu Noor, nguyên có tên là Lisa Najeeb Halaby, là một người tốt nghiệp Đại học Princeton sinh ra ở Mỹ. Thân phụ của bà, nguyên là Chủ tịch Hãng Hàng không Pan American, là người có nguồn gốc Syria - Lebanon, còn thân mẫu của Hoàng hậu là người Thụy Điển. Hoàng hậu Noor có bằng đại học về kiến trúc và quy hoạch đô thị, đang làm Giám đốc Kế hoạch cho Hãng Hàng không Hoàng gia Jordan khi gặp Quốc vương, bà đã yêu ông và kết hôn với ông. Khuôn mặt Hoàng hậu sáng bừng niềm tự hào và sự dễ mến khi hiện diện bên cạnh Quốc vương, cả khi ở bên các con, cùng cười đùa thoải mái với chúng. Hoàng hậu đặc biệt rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục và kinh tế đất nước, đại diện cho những quan điểm cùng khát vọng của đất nước mình ở Mỹ và trên khắp thế giới. Bằng sự thông minh và duyên dáng của mình, được sự hậu thuẫn của Quốc vương, bà đã góp phần thúc đẩy đất nước mình tiến lên phía trước theo hướng hiện đại hơn về các vấn đề phụ nữ và trẻ em. Bill và tôi rất mong có thể sắp xếp được thời gian dành riêng để gặp Quốc vương và Hoàng hậu.

Hôm ấy, giữa buổi trưa nóng bức ở Thung lũng Great Rift, Hoàng hậu Noor trong bộ đồ màu lam ngọc đẹp như một người mẫu, bà bộc lộ nỗi vui mừng khi nghe lời cam kết hòa bình của Quốc vương. Thật trùng khớp ngẫu nhiên, tôi cũng mặc một bộ đồ màu lam ngọc, màu gợi nhớ đến lời nhận xét của một người phụ nữ trong một đám đông: "Bây giờ thì chúng tôi biết được màu lam ngọc là màu của hòa bình"

Sau buổi lễ, Bill và tôi đã đi cùng xe với Quốc vương và Hoàng hậu về khu nhà nghỉ mát của họ ở vịnh Aquaba trên Biển Đỏ. Hoàng hậu Noor làm tôi ngạc nhiên với cái bánh ngọt một lần nữa chúc mừng sinh nhật của tôi. Trên chiếc bánh là những cây nến kiểu cách mà tôi không thế nào thổi tắt hết được. Quốc vương đùa bằng cách nhảy lên và giúp tôi thổi nến. Nhưng Ngài cũng không thành công hơn tôi. Đôi mắt lấp lánh, Ngài tuyên bố: "Có đôi khi ngay cả những mệnh lệnh của một Quốc vương cũng không được tuân theo nữa cơ đấy". Tôi thường nhớ về buổi chiều tuyệt vời ấy, khi mà niềm hy vọng về hòa bình lớn hơn bao giờ hết.

Sau ngày hôm đó, Bill trở thành vị Tổng thống Mỹ đầu tiên phát biểu trong một phiên họp chung của Quốc hội Jordan ở thủ đô Amman. Sự mệt mỏi sau một chuyến bay dài và bữa tiệc lưu động làm chúng tôi cảm thấy kiệt sức. Tôi ngồi trong một gian phòng nhìn Bill nói chuyện trong khi xung quanh tôi là những quan chức cao cấp của Nhà Trắng và các quan chức nội các bắt đầu tỏ dấu hiệu mệt mỏi sau một chuyến đi dài vất vả. Tôi cố gắng giữ cho tỉnh táo bằng cách ấn sâu móng tay vào trong lòng bàn tay và véo vào cánh tay của mình - một phương pháp mà các nhân viên cơ quan An ninh đã chỉ cho tôi. Tôi cảm thấy bình thường trở lại đúng lúc vào bữa cơm tối riêng với Quốc vương và Hoàng hậu tại cung điện của họ. Quốc vương và Hoàng hậu sống trong một cung điện lớn đầy đủ tiện nghi, nhưng được trang hoàng thanh nhã, giản dị. Bốn người chúng tôi dùng bữa tối bên một cái bàn tròn nhỏ nằm ở góc căn phòng ấm áp và dễ chịu. Chúng tôi nghỉ một đêm ở Cung điện Al-Hashimiya, một nơi dành cho khách của hoàng gia nằm trên ngọn đồi tây bắc của thành phố, trông ra quang cảnh tuyệt vời với những ngọn đồi và những ngọn tháp trắng xóa màu nắng của vương quốc sa mạc Hashemite Jordan.

Từ Jordan, chúng tôi đến Israel, nơi Thủ tướng Leah Rabin đã dành sẵn chiếc bánh sinh nhật tứ ba cho tôi và cũng tại nơi đây Bill đã đọc một bài diễn văn lịch sử khác - lần này là Quốc hội Israel ở thủ đô Jerusalem. Tôi bay trở về nhà với niềm tin rằng tôi đang rời xa một đất nước Israel đã tiến gần thêm một bước nữa đến hòa bình và sự an ninh, ổn định.

Chuyến đi này đã đánh dấu những cột mốc quan trọng của Bill trong chính sách đối ngoại. Ngoài vai trò chủ chốt trong việc làm dịu đi sự căng thẳng ở Trung Đông, hiện giờ anh còn phải tập trung vào những vấn đề kéo dài hàng thập niên ở Bắc Ireland, Và, sau một năm lo lắng về vấn đề ngoại giao và đổ bộ quân Mỹ lên Haiti, cuối cùng thì nhóm sĩ quan đảo chính đã đồng ý rút lui và trao trả lại quyền lực cho vị Tổng thống được bầu cử của Haiti là ông Jean-Bertrand Aristide. Nằm ngoài sự theo dõi của công chúng và báo chí, cuộc khủng hoảng năng lượng hạt nhân ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên đã được xoa dịu trong thời gian này, đây là kết quả của hiệp định năm 1994 mà theo đó, CHDCND Triều Tiên đồng ý ngưng và cuối cùng là từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân nguy hiểm của mình để đổi lấy viện trợ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù sau này, chúng tôi biết được rằng CHDCND Triều Tiên đã vi phạm tinh thần của thỏa thuận, đúng vào thời điểm mà quốc gia này ngăn chặn được một cuộc xung đột quân sự tiềm ẩn. Nếu không có thỏa thuận này CHDCND Triều Tiên đã có thể sản xuất đủ plutonium vào năm 2002 để có thể chế tạo ra hàng loạt vũ khí hạt nhân hoặc đã trở thành một nhà máy plutonium, bán chất hóa học gây chết người nhiều nhất thế giới này cho những nhà thầu giàu có.

Những hoạt động của Bill trên chính trường thế giới đã giúp anh nổi trội trong cuộc thăm dò dư luận quần chúng trong tuần lễ cuối cùng của tháng Mười. Người ta đã cố gắng thuyết phục anh đứng ngoài các hoạt động tranh cử để ủng hộ cho các ứng cử viên Đảng Dân chủ. Như thường lệ, ahỏi ý kiến nhiều bạn bè thân hữu, những cố vấn chính thức và không chính thức.

Tôi cảm thấy có lẽ sẽ tốt hơn cho Bill nếu anh không vận động tranh cử quá nhiều vì người Mỹ thích nhìn thấy anh là một lãnh tụ chính trị sáng suốt nhiều kinh nghiệm, chứ không phải là một chính trị gia. Nhưng Bill không thể kháng cự lại được sức hút của các hoạt động tranh cử và đã trở thành người vận động tranh cử chủ yếu cho Đảng của mình.

Bầu không khí trở nên căng thẳng, cả bên ngoài cuộc vận động bầu cử lẫn bên trong Nhà Trắng, nơi xảy ra hai sự việc rất đáng lo ngại. Vào tháng Chín, một người đàn ông đã đâm chiếc máy bay nhỏ vào Nhà Trắng, ngay phía tây lối vào cổng vòm Nam. Thật ngẫu nhiên là đêm hôm đó chúng tôi ngủ ở Nhà khách Chính phủ bởi vì hệ thống điều hòa nhiệt độ và máy sưởi trong Dinh Tổng thống đang được sửa chữa lại, buộc chúng tôi phải ở ngoài khu vực dành riêng cho mình. Người phi công đã chết trong xác chiếc máy bay, và không ai biết được chính xác là tại sao anh ta lại làm một việc nguy hiểm như vậy. Rõ ràng là anh ta rất buồn rầu chán nản và tìm cách thu hút sự quan tâm của mọi người nhưng có lẽ anh ta đã không định tự sát. Nhìn lại vấn đề, sự việc một viên phi công có thể vượt hàng rào an ninh quá dễ dàng như vậy lẽ ra phải khiến mọi người ý thức nhiều hơn về những mối nguy hiểm mà thậm chí một chiếc máy bay nhỏ có thể tạo ra.

Rồi sau đó, vào ngày 29 tháng 10, tôi có mặt tại Bảo tàng Mỹ thuật bang San Francisco với Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein trong một chiến địch vận động tranh cử thì Cơ quan An ninh đưa tôi vào một căn phòng nhỏ ở bên cạnh. Trưởng nhóm An ninh là George Rogers bảo với tôi là Tổng thống đang chờ nói chuyện với tôi trên điện thoại. "Anh không muốn làm em lo lắng", Bill nói, "nhưng anh sắp sửa báo cho em biết việc này : có một người nào đó vừa mới bắn vào Nhà Trắng". Một người đàn ông mặc chiếc áo đi mưa đang nấn ná ỗ hàng rào dọc theo Đại lộ Pennsylvania thì bất thình lình, hắn ta kéo một khẩu súng trường bán tự động từ trong lớp áo mưa ra và nổ súng. Những người đi ngang qua chứng kiến sự việc đã ngăn chặn hắn ta lại trước khi hắn có thể nạp thêm đạn. Và kỳ diệu thay, không có ai bị thương cả. Hôm đó là thứ Bảy, Chelsea ở nhà một người bạn còn Bill đang ở trên lầu xem đá bóng. Hai cha con chưa bao giờ lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nhưng mọi người rất bàng hoàng khi biết rằng chỉ trước khi bắt đầu nổ súng, tên bắn súng đã nhìn thấy một người cao ráo, tóc trắng ở trong sân trông xa giống hệt như Tổng thống. Tên bắn súng là một tay rối loạn tâm trí, hắn cũng là người đã gọi cú điện thoại đe dọa tới văn phòng của một Thượng nghị sĩ do tức giận về dự luật Brady cấm các loại vũ khí tấn công. Vì những luật lệ mới này mà anh ta đã không thể nào mua được một khẩu súng lục vào đầu tháng. Khi tôi đáp chuyến bay đêm trở về Nhà Trắng, mọi thứ đã trở lại bình thường, ngoại trừ một vài lô đạn trên mặt tiền khu văn phòng ở Dinh Tây của Nhà Trắng.

Sau ngày hôm đó, Bill và tôi đã nói chuyện với ông Dick Morris trên điện thoại riêng trong phòng làm việc nhỏ của tôi cạnh phòng ngủ chính trong Nhà Trắng. Morris phân tích các số liệu bầu cử mà ông ta thu thập được và bảo rằng chúng tôi sắp sửa mất cả Hạ lẫn Thượng viện.

Tin xấu này đã xác nhận linh tính của tôi. Bill cũng tin tưởng vào đánh giá của Morris. Anh đã làm điều duy nhất mà anh ấy cho là sẽ có ích, đó là lao vào chiến dịch tranh cử một cách mạnh mẽ hơn. Tuần lễ đó anh đi vận động chính trị ở các vùng Detroit Duluth và những khu vực ở phía tây và phía đông. Việc làm này cũng không đem lại nhiều hiệu quả.

Tôi bắt đầu chương trình làm việc của mình vào ngày bầu cử cũng giống như vào bất kỳ ngày nào khác. Tôi đến chào bà Eeva Ahtisaari, Đệ nhất Phu nhân của Phần Lan i cùng với Tipper Gore đến gặp bà Marike de Klerk, cựu Đệ nhất Phu nhân của Nam Phi, đang thăm Washington. Cuối buổi chiều, không khí trong các hành lang của Nhà Trắng buồn như đưa đám.

Bill và tôi dùng cơm tối với Chelsea trong căn bếp nhỏ trên tầng hai. Chúng tôi muốn ở một mình khi tiếp nhận những công bố về kết quả bầu cử, điều mà theo dự đoán sẽ là tin xấu khủng khiếp. Mặc dù Thượng nghị sĩ Feinstein giành chiến thắng sít sao trong cuộc tái cử, nhưng Đảng Dân chủ đã mất đi tám ghế trong Thượng viện và đáng ngạc nhiên là mất luôn 44 ghế trong Hạ viện - đưa đến tình thế Đảng Cộng hòa chiếm đa số lần đầu tiên kể từ thời Tổng thống Eisenhower. Những người đương nhiệm thuộc Đảng Dân chủ bị thất bại ở khắp mọi nơi. Các lãnh đạo cao cấp của Đảng như Chủ tịch Hạ viện Tom Foley ở Washington và Thống đốc bang New York Mario Cuomo đã thất bại trong các cuộc tái cử. Bạn tôi là Ann Richards cũng đã để mất chức Thống đốc bang Texas vào tay một người có cái tên rất nổi tiếng : George W. Bush.

Cuối cùng, Chelsea lui về phòng riêng để chuẩn bị cho buổi học ở trường. Còn lại Bill và tôi ngồi bên bàn ăn, theo dõi các số liệu kiểm phiếu bầu trên màn hình tivi và cố gắng hiểu các kết quả. Nhân dân Mỹ đã gửi cho chúng tôi một thông điệp có sức tác động to lớn. Số lượng người đi bầu quá thấp, thấp hơn một nửa số cử tri đã đăng ký và quan trọng là có nhiều người thuộc Đảng Dân chủ hơn là người theo Đảng Cộng hòa đã ở nhà. Tia sáng duy nhất cho chúng tôi trong bức tranh ảm đạm này là "sự thắng thế to lớn" của những người thuộc Đảng Cộng hòa phản ánh số phiếu bầu cử ít hơn một phần tư tổng số cử tri.

Tuy nhiên, sự kiện này không làm giảm bớt niềm vui sướng của Newt Gingrich khi ông ta đứng trước các camera vào tối hôm ấy để tuyên bố Đảng Cộng hòa đã chiếm được ưu thế. Ông ta đã biết trở thành Chủ tịch tiếp theo của Hạ viện, và sẽ là người Cộng hòa đầu tiên nắm giữ chức vụ đó kể từ năm 1954. Ông tỏ ra cao thượng khi đề nghị cùng làm việc với những đảng viên Dân chủ để cố gắng đưa Bản Giao ước của Đảng Cộng hòa thông qua Quốc hội trong thời gian nhanh nhất. Thật là nản lòng khi tưởng tượng phải điều hành đất nước trong hai năm kế tiếp với cả Thượng và Hạ viện đều do Đảng Cộng hòa kiểm soát. Những trận chiến chính trị thậm chí sẽ trở nên cam go hơn và Chính phủ sẽ phải ở trong thế phòng thủ để giữ gìn những thành quả đạt được cho đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng hòa, Quốc hội có thể chứng minh chính xác câu nói của Tổng thống Lyndon Johnson: "Những người Dân chủ lập pháp; Đảng Cộng hòa giám sát".

Cảm thấy buồn nản và thất vọng, tôi tự hỏi tôi phải chịu bao nhiêu trách nhiệm cho thất bại này: liệu chúng tôi có bị thất cử do vấn đề chăm sóc y tế hay không; liệu chúng tôi có mạo hiểm đặt cược vào việc quốc gia chấp thuận vai trò tích cực của tôi hay không. Tôi đã thất bại. Nhưng tôi đã tranh đấu để học được cách trở thành người hứng nhiều lời chỉ trích, chịu đựng những cơn giận dữ của mọi người.

Thật tội nghiệp cho Bill và cũng thật đau lòng khi phải nhìn người mà tôi yêu quý chịu quá nhiều tổn thương sâu sắc. Anh đã cố gắng làm điều anh cho là có lợi cho nước Mỹ và anh hiểu rõ cả những thành công lẫn thất bại của anh đều đã góp phần làm cho bạn bè và các đồng minh của anh thua cuộc. Tôi còn nhớ anh đã cảm nhận như thế nào khi thất bại năm 1974 và 1980, lần này là thất bại nặng nề nhất. Mức độ rủi ro cao hơn, và anh cảm thấy anh đã làm cho đảng của mình suy yếu.

Sẽ phải mất thời gian, nhưng có cái gì đó thôi thúc Bill phải tìm hiểu xem đã sai điều gì trong ần này và tìm hiểu cách thức nối kết lại, xác định lại chương trình làm việc của mình. Như thường lệ, chúng tôi bắt đầu một cuộc nói chuyện kéo dài trong nhiều tháng. Chúng tôi tổ chức những cuộc họp với bạn bè và các cố vấn để tập trung vào những việc Bill nên làm tiếp theo. Trên tất cả mọi điều, tôi mong muốn nhiệm kỳ Tổng thống của Bill sẽ thành công. Tôi tin tưởng anh ấy và tin vòa những hy vọng của anh đối với tương lai của đất nước. Tôi cũng biết rằng tôi muốn là một đối tác hữu ích cho anh ấy và là một người ủng hộ hiệu quả cho những vấn đề mà tôi quan tâm suốt cả cuộc đời mình. Tôi chỉ không biết là từ thất bại này, tôi sẽ phải làm như thế nào để đạt được những điều mà tôi hằng mong muốn.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.