Vào dịp lễ Halloween năm 1993, tôi cầm tờ The Washington Post số ngày Chủ nhật và biết rằng hồn ma kinh doanh bất động sản thua lỗ ngày xưa ở Arkansas đã quay về ám ảnh chúng tôi. Theo những nguồn tin giấu tên của một số quan chức chính phủ, Cục Quản lý Tín thác (RTC), một cơ quan liên bang đang điều tra các khoản tiết kiệm và khoản vay bị thất thoát, đã đề nghị điều tra hình sự Ngân hàng Madison Guaranty Savings and Loan do Jim McDougal sở hữu. McDougal và vợ ông là Susan trước đây là đối tác của chúng tôi trong Công ty Phát triển Whitewater, một pháp nhân hoàn toàn độc lập được thành lập để quản lý đất đã mua 4 năm trước khi McDougal mua doanh nghiệp Madison Guaranty. Tuy nhiên do mối quan hệ của chúng tôi với McDougal trước đây, chúng tôi sẽ bị quy kết liên đới với các tai tiếng của ông ta sau này. Trong suốt cuộc tranh cử Tổng thống năm 1992, có một số luận điệu được đưa lên báo chí (và nhanh chóng biến mất sau đó) cho rằng McDougal đã nhận được các ưu ái đặc biệt của chính quyền liên bang khi Bill còn làm Thống đốc do có mối quan hệ kinh doanh với chúng tôi. Câu chuyện này biến dần khi Bill và tôi chứng minh là chúng tôi đã thua lỗ trong vụ đầu tư Whitewater và chứng minh rằng Phòng Quản lý Chứng khoán Arkansas thật ra đã thúc giục các nhà quản lý liên bang rút giấy phép hoạt động của McDougal và đóng cửa ngân hàng Madison Guaranty khi Bill còn là Thống đốc.
Giờ đây tờ The Washington Post tường thuật rằng các điều tra viên của RTC đang xem xét các cáo buộc rằng McDougal đã sử dụng công ty S&L của mình để chuyển tiền bất hợp pháp cho các hoạt động chính trị ở Arkansas bao gồm cả chiến dịch tái tranh cử chức Thống đốc vào năm 1986. Tôi tin là không có chuyện đó. Bill và tôi chưa bao giờ gửi tiền ở Ngân hàng Madison Guaranty hoặc vay mượn gì ở đó. Đối với các khoản đóng góp cho cuộc tranh cử, Bill đã tuân thủ luật ở Arkansas ấn định một mức giới hạn là 1.500 đô la cho mỗi lần đóng góp cho cuộc bầu cử. McDougal đã bị truy tố, xét xử và được chính quyền liên bang tuyên bố trắng án đối với các cáo buộc phát sinh từ hoạt động của Ngân hàng Madison Guaranty trước khi Bill ra tranh cử Tổng thống.
Bill và tôi không nhận ra tầm quan trọng chính trị của sự tái xuất hiện đột ngột của vụ Whitewater, có thể góp thêm lỗi lầm vào công tác quan hệ công chúng về cách thức chúng tôi xử lý vụ tranh cãi đang gia tăng này. Tuy nhiên tôi không thể nào dự đoán các đối thủ của chúng tôi sẽ lợi dụng nó như thế nào.
Cái tên Whitewater tiêu biểu cho một cuộc điều tra không giới hạn về cuộc sống của chúng tôi. Vụ điều tra này tiêu tốn của những người dân nộp thuế trên 70 triệu đô la cho riêng công tác điều tra của Ủy ban Độc lập và chưa bao giờ phát hiện ra bất kỳ hành vi sai trái nào của chúng tôi. Bill và tôi đã tình nguyện hợp tác với các điều tra viên. Mỗi lần họ rò rỉ thông tin cho báo giới hoặc đưa ra một lời buộc tội mới, chúng tôi đã nỗ lực tối đa hợp tác với bên điều tra để đảm bảo là chúng tôi không quên hoặc bỏ sót bất kỳ một sự việc quan trọng nào. Tuy nhiên khi lời cáo buộc này tiếp nối lời cáo buộc khác, chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi đang đuổi theo các bóng ma trong một nhà kiếng: chúng tôi chạy theo một hướng để chỉ có được kết quả là bóng ma xuất hiện bất ngờ đằng sau chúng tôi. Vụ Whitewater dường như không bao giờ có thực cả, bởi vì nó vốn không tồn tại.
Mục đích của cuộc điều tra nhằm làm mất uy tín Tổng thống, nhằm làm giảm động lực và sức mạnh của Chính quyền. Người ta không màng là các cuộc điều tra sẽ nhằm vào cái gì mà chỉ cần quan tâm là có cuộc điều tra. Người ta không cần quan tâm là chúng tôi không làm chuyện gì sai mà chỉ quan tâm là làm sao để công chúng có ấn tượng là chúng tôi đã làm chuyện gì đó sai trái. Người ta không quan tâm là các cuộc điều tra tiêu tốn hàng chục tô la từ tiền nộp thuế của người dân. Họ chỉ cần quan tâm là làm cho cuộc sống và công việc của Tổng thống bị gián đoạn liên tục. Vụ Whitewater báo hiệu một chiến thuật mới trong cuộc chiến chính trị: điều tra là vũ khí để phá hủy chính trị. "Whitewater", một cái "thúng” lý tưởng để hứng bất kỳ các cuộc công kích mà các đối thủ chính trị của chúng tôi có thế thiết kế ra được. Ngay từ đầu, Whitewater là một cuộc chiến tranh chính trị và nó hoành hành trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống của Bill Clinton.
Tuy nhiên, vào lúc đó, đối với tôi dường như vụ Whitewater giống như một nút thắt trong một câu chuyện cổ tích với một dàn nhân vật quen thuộc - một sự phiền toái hơn là một mối đe dọa.
Tuy nhiên do bài báo trong dịp lễ Halloween của tờ The Washington Post và ngay sau đó lại có một bài nữa của tờ The New York Times đăng tin này nên chúng tôi nghĩ cần thực hiện các biện pháp đề phòng là thuê một luật sư riêng. Luật sư riêng của chúng tôi, Bob Barnett không nhận vụ Whitewater vì bà vợ của ông, Rita Braver, là phóng viên của Hãng CBS được phân công chuyên trách về mảng thông tin Nhà Trắng. Bob là Đảng viên Dân chủ kỳ cựu và là một đối tác tranh luận rất được yêu mến của các ứng viên Tổng thống và Phó Tổng thống phe Dân chủ. Trong các cuộc tranh luận giả được dàn dựng để chuẩn bị cho các ứng viên rèn luyện những phong cách nói tu từ và tranh luận chính trị với các đối thủ, ông ấy thường đóng vai bên Cộng hòa một cách hoàn hảo - đóng vai Phó Tổng thống và sau đó là Tổng thống George Bush tranh luận với nữ Dân biểu Geraldine Ferraro năm 1984, với Thống đốc Michael Dukakis vào năm 1988 và tranh luận với Thống đốc Bill Clinton năm 1992; ông cũng đóng vai cựu Bộ trưởng Quốc phòng Dick Cheney tranh luận với Thượng nghị sĩ Joe Lieberman trong cuộc tranh luận ứng cử Phó Tổng thống trong năm 2000; thậm chí còn làm Dân biểu Rick Lazio để chuẩn bị cho cuộc tranh luận của tôi trong cuộc tranh cử Nghị sĩ năm 2000. Bob đã trở thành luật sư và cố vấn của tôi vào năm 1992. Đây là một người bạntôi trong những năm sau này.
Bob khuyên nên chọn David Kendall, đồng sự của mình tại Hãng Luật Williams và Connolly, làm đại diện cho chúng tôi trong vụ Whitewater. Chúng tôi đã biết David nhiều năm. Mặc dù anh ấy lớn hơn Bill và tôi vài tuổi nhưng chúng tôi lại học chung với nhau tại Trường Luật Yale. Giống như Bill, David cũng là sinh viên được học bổng Rhodes. Là một người vùng Trung Tây, David sinh ra và lớn lên trong một trang trại thôn quê của Indiana. Anh ấy và tôi rất thông hiểu và quý trọng lẫn nhau. Anh ấy đã trở thành một chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời chúng tôi.
David rất tuyệt vời trong công việc. Anh làm thư ký cho Chánh án Tòa án Tối cao Byron White và có kinh nghiệm với luật doanh nghiệp và các vụ án liên quan đến giới truyền thông. Do David đã từng đại diện khách hàng trong nhiều cuộc điều tra S&L (tổ chức Tiết kiệm và Cho vay) vào thập niên 1980 nên rất quen thuộc với các vấn đề của S&L. Anh ấy cũng là người có lương tâm và kiên định. Trong phòng của anh có treo một bản sao về "kỷ lục" bị bắt của anh ở vùng Mississippi, nơi anh phải ngồi tù ngắn hạn do các hoạt động đấu tranh cho dân quyền trong các phong trào đòi quyền bỏ phiếu vào Mùa hè Tự do năm 1964. Trong số những công việc đầu tiên của mình với tư cách là luật sư anh ấy đã làm cho tổ chức Quỹ Bảo vệ Pháp luật NAACP, tham gia biện hộ trong vụ án bị cáo bị tuyên tử hình.
Giống như tất cả những luật sư có thực tài, David có tài chuyển đổi những sự việc dường như ngẫu nhiên và những sự kiện không liên quan gì thành một bài tường thuật đầy sức thuyết phục. Tuy nhiên việc dựng lại câu chuyện về Whitewater sẽ kiểm nghiệm năng lực của anh. Trước tiên, David tiếp nhận các hồ sơ từ văn phòng của Vince Foster được chuyển cho Bob Barnett sau cái chết của Vince. Sau đó, anh truy tìm các tài liệu khác, từ Washington đến vùng Flippin của bang Arkansas, gần với khu đất Whitewater.
Hầu như hàng tuần David gặp chúng tôi tại Nhà Trắng liên ếp trong ba tháng. Vì tôi rất quan tâm nên anh báo cáo đầy đủ cho chúng tôi các thông tin anh thu thập trong quá trình truy tìm các đầu mối trong hồ sơ Whitewater và lần theo dấu vết các khoản đầu tư ngày càng mờ ám của Jim McDougal. Anh nói nỗ lực tái tạo lại các dấu vết hồ sơ giấy tờ của McDougal giống như mò kim đáy bể.
Cả Bill và tôi chưa bao giờ ghé thăm khu đất Whitewater; chúng tôi chỉ xem nó qua những hình chụp. David quyết định là để nắm rõ vụ án, anh ấy cần thấy nơi này "theo không gian 3 chiều và thời gian thật". Anh bay xuống miền nam Missouri (nơi gần khu đất hơn so với thành phố Little Rock) và sau đó thuê một chiếc ô tô. Sau hàng tiếng đồng hồ lạc đường, cuối cùng anh cũng lần theo một con đường được san bằng xe ủi vẫn còn đầy ổ gà mấp mô, băng qua những cánh rừng và cuối cùng cũng đến được khu đất Whitewater hoang sơ. Có những biển hiệu ghi "Đất bán" đây đó nhưng không có một bóng người hay nhà cửa. Nếu anh ấy quay lại vào vài tháng sau đó - khi giới truyền thông kéo đến nườm nượp chụp ảnh và phỏng vấn bất kỳ ai có dính dáng đến Whitewater - David có lẽ đã thấy một tấm biển gắn trên một trong số ít nhà cư dân tại khu đất ghi: "Cút về nhà, lũ ngốc!".
Cuối cùng thì David cũng đã lần ra quyền sở hữu hiện tại của một số lô đất ở Whitewater thuộc về một tay môi giới nhà đất ở địa phương tên là Chris Wade. Chúng tôi không biết là sau tháng 5 năm 1985, McDougal đã bán 24 miếng đất còn lại của công ty cho Wade. Mặc dù khi ấy chúng tôi vẫn còn là đối tác nhưng McDougal đã không thông báo cho chúng tôi chuyện này và không yêu cầu chúng tôi ký vào bản hợp đồng hoặc đề nghị chia khoản tiền lời 35.000 đô la. Chúng tôi cũng không biết rằng trong phi vụ này, McDougal đã kiếm được một chiếc máy bay đã qua sử dụng hiệu Piper Seminole và nó đã trở thành chiếc máy bay của riêng ông ta.
Vào giữa những năm 1980, McDougal điều hành một vương quốc kinh doanh nhỏ, ít nhất là trên mặtấy tờ. Vào năm 1982, ông ta đã mua một tổ chức tín dụng nhỏ gọi là Madison Guaranty và nhanh chóng biến nó thành một nơi rửa tiền. McDougal khao khát trở thành một ông chủ ngân hàng tầm cỡ và ông ta đã có những ý tưởng phô trương. Từ điều mà David Kendall suy luận, nhiều vụ làm ăn của McDougal đầy nghi vấn. Theo cách nói tu từ của David thì McDougal đã thực hiện các "khoản đầu tư quá lạc quan". Điều không may là khi không còn khả năng thanh toán, McDougal đã chuyển tiền đi lòng vòng, mượn tiền người này để trả cho người kia. Có lần, ông ta đã giấu chúng tôi dùng Công ty Phát triển Whitewater để mua bất động sản gần bãi xe ben ở phía nam thành phố Little Rock mà ông ta đã tự tin đặt tên là Castle Grande Estates. Phải mất nhiều năm để lần ra mạng lưới các đối tác kinh doanh và các kế hoạch thất bại của ông ta.
Ngân hàng Madison Guaranty khởi đầu giống như hàng ngàn tổ chức Tiết kiệm và Cho vay khác là cung cấp các khoản vay nhỏ có thế chấp để mua nhà. Sau đó vào năm 1982, Chính quyền Reagan cho tự do hóa ngành tiết kiệm và cho vay. Bỗng chốc các chủ ngân hàng như McDougal có thể cung cấp những khoản tiền lớn và sẽ gặp rủi ro hơn bên ngoài lĩnh vực kinh doanh truyền thống của mình, và cuối cùng họ đã đưa toàn bộ ngành tín dụng này, trong đó có cả Mandison Guaranty, vào tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Một trong những cách mà các nhà quản lý tổ chức Tiết kiệm và Cho vay và các luật sư của họ cố gắng cứu các thương vụ thất bại của mình là huy động vốn thông qua các giao dịch chứng khoán ưu đãi - đây là lĩnh vực họ được phép làm theo luật liên bang nếu họ được cơ quan nhà nước cấp tiểu bang phê chuẩn.
Vào năm 1985, Rick Massey, một luật sư trẻ tại Hãng Luật Rose cùng với một người bạn làm việc cho McDougal, đã đề nghị giải pháp cứu Ngân hàng Madison Guaranty. Do McDougal thiếu trách nhiệm trong việc chi trả một hóa đơn trước đây cho Hãng Luật Rose liên quan đến các dịch vụ luật nên hãng luật yêu cầu hàng tháng McDougal phải trả 2.000 đôla trước khi Massey đảm trách công việc. Các thành viên đ̔ của tôi nhờ tôi yêu cầu McDougal về khoản tiền trả này và đóng vai trò như "người xuất hóa đơn" cho Massey vì anh ấy chỉ là một nhân viên nên tự anh ta không thể xuất hóa đơn. Sau khi tôi dàn xếp vụ thanh toán thì việc liên quan, dính líu của tôi trong tài khoản là rất nhỏ. Đề nghị về chứng khoán này chưa bao giờ được các cơ quan quản lý Arkansas phê chuẩn và các nhà quản lý liên bang về hoạt động Tiết kiệm và Cho vay đã tiếp quản Ngân hàng Madison Guaranty, bãi chức Chủ tịch của McDougal và cho kiểm tra các giao dịch cho vay và tiết kiệm do có các lỗi cáo buộc rằng McDougal dính líu vào các trò gian lận
Cuộc điều tra liên bang và truy tố hình sự sau đó đã được tống đạt đến McDougal, làm ông ta khốn đốn trong nhiều năm. Vào năm 1986 ông đến gặp chúng tôi và đề nghị chúng tôi ký chuyển giao chính thức cho ông ta 50% cổ phần trong Công ty Phát triển Whitewater. Tôi nghĩ đây là một ý kiến hay. Chúng tôi đã đầu tư được tám năm rồi và nó chỉ làm chúng tôi tốn tiền mà thôi. Nhưng trước khi ký để chuyển giao cổ phần, tôi yêu cầu McDougal rút tên chúng tôi khỏi vụ thế chấp, và để đổi lại việc nhận được 100% cổ phần còn lại của công ty, ông ta phải gánh nhận khoản nợ còn lại và chúng tôi được giải trừ khỏi bất kỳ trách nhiệm còn tồn đọng hoặc phát sinh trong tương lai. Khi ông ta chần chừ về yêu cầu này, trong thâm tâm tôi bắt đầu nảy ra sự nghi ngờ. Lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi hợp tác với nhau vào năm 1978, tôi yêu cầu được xem sổ sách. Tôi bị chất vấn là tại sao tôi không làm chuyện đó trước đấy và làm thế nào mà tôi có thể không biết các hành động của McDougal. Tôi cũng tự hỏi bản thân mình. Tôi chỉ nghĩ là chúng tôi đã thực hiện một vụ đầu tư tồi và phải trả giá cho việc mua bất động sản để kinh doanh dịch vụ các ngôi nhà thứ hai khi mà lãi suất tăng vọt. Chúng tôi bị mắc kẹt, bị lỗ phải chờ thị trường thay đổi hoặc là chúng tôi phải bán nó đi. Tôi không có lý do nào chất vấn McDougal với những thành tích đầu tư rất nổi bật trong những năm 1970 và là người mà tôi ch rằng có "tài xoay xở giỏi". Tôi tiếp tục chi trả bất kỳ khoản nào mà McDougal nói là các khoản phải trả của chúng tôi. Sau đó, tôi còn nhiều chuyện khác phải bận tâm như việc có con, tham gia vào các cuộc tranh cử của chồng tôi hai năm một lần và cố gắng hành nghề luật nữa. Một lần kế toán của tôi phân tích các tài liệu Whitewater mà tôi đã thu thập được nhờ sự giúp đỡ của Susan McDougal suốt mấy tháng trời, tôi nhận ra rằng các chứng từ rất lộn xộn và Whitewater là một thất bại hoàn toàn. Tôi quyết định là tôi và Bill phải tìm mọi cách để thoát khỏi mớ phức tạp của McDougal. Nhưng việc xử lý các vấn đề của McDougal phải mất vài năm.
Trước tiên, tôi muốn quan tâm đến bất kỳ những nghĩa vụ của công ty đối với IRS, với Sở Quản lý Thu nhập Arkansas và với các loại thuế tài sản ở địa phương. Whitewater chưa bao giờ có lãi nhưng nó vẫn phải nộp thuế doanh nghiệp. Điều mà tôi biết được vào năm 1989 là McDougal đã không nộp thuế trong những năm gần đấy. Ông ấy không nộp thuế tài sản nhưng một mặt lại cam đoan với chúng tôi là đã nộp rồi. Nay để làm hồ sơ nộp thuế, tôi cần có chữ ký của một viên chức của Công ty Phát triển Whitewater và duy nhất McDougal mới có danh nghĩa này. Tôi đã cố mất một năm để có được ủy quyền từ McDougal để tôi có thể làm hồ sơ hoàn và nộp thuế cũng như bán tài sản để trang trải nợ nần.
Trong lúc đó cuộc đời của McDougal bị sụp đổ. Vợ ông ấy là Susan đã bỏ ông vào năm 1985 và sau đó chuyển đến California. Một năm sau ông bị một cơn đột quỵ làm trầm trọng hơn những u uất sợ hãi mà hình như ông đang cố gắng chống lại trong một thời gian trước đó. Tôi không còn muốn liên lạc với McDougal nên vào năm 1990, tôi gọi điện cho Susan ở California, giải thích điều tôi muốn làm và hỏi cô ấy với tư cách là nhân viên thư ký của Công ty Whitewater có thể ký được không. Cô đồng ý và tôi đã mất cả đêm cùng cô làm bản mẫu để cô ký và gửi lại cho tôi. Khi McDougal phát hiện, ông chửi mắng Susan trên điện thoại và gọi đến văn phòng tôi để đe dọa. Từ đó, ông ấy trở thành kẻ thù của tôi.
McDougal ngày càng trở nên thê thảm hơn sau khi bị truy tố và xét xử về 8 trọng tội của liên bang gồm có âm mưu chiếm đoạt tài sản, gian lận, làm sổ sách chứng từ giả và có những phi vụ tài chính trái với pháp luật. Ông vào điều trị ở một bệnh viện tâm thần trước khi bị xét xử vào năm 1990. Ông cũng yêu cầu Bill làm nhân chứng cho mình nhưng tôi nói Bill không nên làm điều đó. Bill luôn sẵn sàng đối xử tốt với bất kỳ ai đặc biệt là những bạn bè cũ mặc dù họ chưa chắc xứng đáng như vậy. Tuy nhiên, tôi nghĩ anh không thể nào làm chứng cho McDougal. Cả hai chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi không biết là ông ấy thật sự là ai và ông ấy đã làm những gì cho đến nay. Sau khi được bồi thẩm đoàn tha bổng, McDougal lại đe dọa tôi, lần này hàm ý rằng ông sẽ trả thù tôi về việc làm thủ tục hồ sơ hoàn thuế cho Whitewater.
Và ông ta đã làm thật với sự giúp đỡ quan trọng từ những đối thủ chính trị của Bill. Sheffield Nelson, một cựu giám đốc điều hành của Công ty Arkansas Louisiana Gas (Arkla) đã chuyển sang ủng hộ Đảng Cộng hòa chống lại Bill trong lần tranh cử Thống đốc năm 1990. Đã quen muốn gì được nấy nên Nelson trở nên rất hằn học và không chịu được thất bại của mình. Ngay khi Bill thông báo ra tranh cử Tổng thống vào năm 1991, Nelson đã thông báo cho Bush ở Nhà Trắng biết là hắn ta sẵn sàng cung cấp bất kỳ sự giúp đỡ nào để có thể đánh bại được Bill. Đến lúc cuối hắn đã thuyết phục McDougal đưa ra các lời cáo buộc mà ông ta có thể làm đối với Bill và tôi bất kể là nó dị hợm như thế nào.
Kết quả là ra đời câu chuyện phần I về Whitewater, một bài báo xuất hiện trên trang nhất của tờ The New York Times số Chủ nhật vào tháng 3 năm 1992, ngay giữa thời gian tổ chức các kỳ ộ để chọn ứng viên Tổng thống của Đảng Dân chủ.
Jim McDougal được trích lời trong khắp bài báo, tự do gieo rắc các thông tin sai lệch về quan hệ đối tác kinh doanh của chúng tôi. Tác giả đã thêu dệt thêm về "mối quan hệ phức tạp" của chúng tôi với McDougal và ám chỉ sai lạc rằng ông ta đã làm ra tiền cho chúng tôi trong phi vụ Whitewater để đổi lại những ưu ái. Trong lúc đầu đề của bài báo tung tin "Clinton đã tham gia kinh doanh các khoản Tiết kiệm và Cho vay (S&L) trong Công ty Bất động sản Ozark", chúng tôi đã đầu tư với McDougal được bốn năm trước khi Jim mua S&L. Ban điều hành Chiến dịch tranh cử của Clinton phải ngay lập tức mời Jim Lyons, một luật sư đáng kính từ thành phố Denver phụ trách thuê một công ty kế toán thu thập số liệu và giải trình các hồ sơ chứng từ về vụ đầu tư Whitewater.
Báo cáo của Lyons tiêu tốn mất 25.000 đôla và mất 3 tuần lễ để hoàn thành việc chứng minh là Bill và tôi đồng trách nhiệm với McDougal cho khoản vay ban đầu mà chúng tôi rút ra để mua khu đất Whitewater và chứng minh rằng chúng tôi đã lỗ hàng chục ngàn đôla vào khoản đầu tư này - con số lỗ cuối cùng là 46.000 đôla. Mất 10 năm và hàng chục triệu đôla sau này, bản báo cáo cuối cùng về Whitewater của Ủy ban điều tra độc lập được đưa ra vào năm 2002 đã hỗ trợ cho các phát hiện của Lyons. Cuộc điều tra độc lập được tiến hành bởi Cục Quản lý Tín thác (RTC) cũng có kết quả như vậy. Sau khi Ban điều hành Chiến dịch tranh cử công bố báo cáo của Lyons vào tháng 3 năm 1992, báo giới cho chìm xuồng câu chuyện trên. Một số đảng viên Cộng hòa và các thế lực liên minh đã không chịu thua một cách dễ dàng. Vào tháng 8 năm 1992, một điều tra viên cấp thấp của RTC là L. Jean Lewis đã tống đạt hồ sơ liên quan đến vụ Madison nhằm cố gắng kết tội Bill và tôi. Chuck Banks, Chưởng lý Liên bang của phe Cộng hòa ở thành phố Little Rock được Tổng thống Bush bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang bị áp lực của Bộ Tư pháp của Chính quyền Bush phải thụ lý quyết định tống đạt này và phải phát hành các trát iệu tập đại bồi thẩm đoàn. Điều này chắc chắn sẽ thu hút công luận với ý đồ là chúng tôi có liên quan đến một cuộc điều tra hình sự. Tuy nhiên Banks đã từ chối và tổ vẻ ngạc nhiên là RTC đã không gửi cho ông các thông tin đó ba năm trước, khi ông điều tra Jim McDougal. Banks nói rằng vụ tống đạt này không cho ông đủ cơ sở để tình nghi chúng tôi phạm tội hoặc để điều tra chúng tôi và ông e rằng bất cứ cuộc điều tra vào giây phút cuối nào của ông có thể bị rò rỉ và ảnh hưởng đến cuộc bầu cử Tổng thống. Có điều hơi ngạc nhiên là báo cáo cuối về Whitewater thật sự thể hiện sự dính dáng của Chính quyền Bush trong nỗ lực tạo ra một "Vụ Đột Biến Tháng Mười" chỉ vài tuần trước khi bầu cử. Không những Bộ trưởng Tư pháp William Barr có liên quan mà Cố vấn Nhà Trắng C. Boyden Gray cũng cố gắng tìm ra các tống đạt hình sự có thể có được từ RTC liên quan đến chúng tôi. Khi những tin đồn về vụ Whitewater xuất hiện trở lại vào mùa thu năm 1993, không một ai trong chúng tôi ở Nhà Trắng có thể hình dung các thế lực sắp sửa tập hợp lại tạo thành một cơn bão chính trị hoàn hảo (theo như mong đợi của các đối thủ của chúng tôi).
Vào trung tuần tháng 11, trong khi David Kendall đang mải mê sứ mệnh tìm kiếm các dữ kiện thì tờ The Washington Post đã đưa ra một danh sách dài các câu hỏi với Nhà Trắng về vụ Whitewater và McDougal. Trong vài tuần sau đó, một cuộc tranh luận ầm ĩ trong nội bộ chính quyền về cách thức xử lý các yêu cầu của giới truyền thông. Chúng tôi có nên trả lời câu hỏi? Chúng tôi có nên đưa cho họ các tài liệu ? Và nếu thế thì đưa những tài liệu nào? Các cố vấn chính trị của chúng tôi bao gồm George Stephanopoulos và Maggie Williams ủng hộ việc công bố tài liệu cho giới báo chí. David Gergen cũng vậy. Ông đã phục vụ Nixon, Ford và Reagan trong Nhà Trắng và đã tham gia nhóm tham mưu của Bill. Gergen cho rằng giới báo chí sẽ không để yên cho đến khi nào họ có được thông tin, nhưng một khi họ có được thì họ lại chuyển sang một cái gì khác nữa. Không có chuyện gì để giấu giếm cả, vậy tại sao không cung cấp? Câu chuyện sẽ mọc l nấm trong một thời gian nhưng sau đó sẽ lụi tàn.
Tuy nhiên các luật sư David Kendall, Bernie Nussbaum và Bruce Lindsey phản biện rằng việc tiết lộ các tài liệu cho báo giới là "một sự phiêu lưu” vì hồ sơ vẫn còn manh mún và có thể là không thể nào hoàn chỉnh được nên chúng ta không thể trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi về McDougal và các phi vụ kinh doanh của ông ta. Báo giới sẽ không được thỏa mãn và luôn nghĩ rằng chúng ta còn che giấu một điều gì trong khi chúng ta không còn gì để nói với họ. Với tư cách là luật sư, tôi có khuynh hướng đồng ý với quan điểm này. Bill không chú ý nhiều đến vấn đề này vì anh biết là mình không làm bất cứ chuyện gì khi còn là Thống đốc để ưu đãi hay ưu ái cho McDougal. Mặt khác chúng tôi còn bị mất tiền nữa. Do bận bịu với các công việc đảm đương vai trò Tổng thống nên anh bảo tôi quyết định cùng với David cách thức dàn xếp cho câu trả lời của chúng tôi.
Nhờ kinh nghiệm của chúng tôi trong vụ luận tội Nixon vào năm 1974 nên Bernie và tôi tin là hợp tác đầy đủ với nhóm điều tra của chính phủ để không ai có thể đàm tiếu là chúng tôi cản trở hoặc lợi dụng lợi thế cầm quyền. Do đó, tôi chỉ đạo David thông báo cho các điều tra viên chính phủ rằng chúng tôi tự nguyện cung cấp cho họ tất cả các tài liệu và hợp tác với cuộc điều tra của đại bồi thấm đoàn. Tôi không tin (hóa ra là sai lầm) giới truyền thông sẽ tiếp tục quấy rầy chúng tôi, do không cung cấp các tài liệu này cho họ, vì chúng tôi đã cung cấp chúng cho Bộ Tư pháp.
Ngay cả trước khi Bộ Tư pháp phát hành trát gọi ra tòa, thông qua David, chúng tôi đã đồng ý hợp tác toàn diện và không trì hoãn, cung cấp tất cả các tài liệu mà chúng tôi có thể tìm được liên quan đến vụ Whitewater và miễn tất cả các đặc quyền liên quan đến các tài liệu đó - bao gồm cả các tài liệu mà Vince Foster đã thực hiện cho chúng tôi với tư cách luật sư riêng.
Vẫn còn tin vụ xì-căng-đan giả tạo này sẽ tan biến giống như nó đã từng như thế trong chiến dịch tranh cử trước đây nên chúng tôi đi về Trại David để đón lễ Tạ ơn. Đây là thời gian vừa ngọt ngào vừa cay đắng đối với chúng tôi. Bố tôi sẽ không có mặt bên bàn ăn để giành với Hugh và Tony cái đùi gà hoặc đòi thêm vài quả dâu tây hoặc món dưa ngâm dấm. Đây là hai món ông thích nhất hồi nhỏ. Chúng tôi cũng biết rằng sức khỏe của Virginia đang suy sụp. Đây có thể là lễ Tạ ơn cuối cùng của chúng tôi với bà và chúng tôi quyết định phải dành cho bà một khoảng thời gian vui vẻ, chăm sóc bà nhưng không quá ân cần, chu đáo. Bà không thích như thế. Cứ vài ngày thì Virginia phải truyền máu nên chúng tôi thu xếp cho bà được truyền máu tại Trại David, vốn được trang bị đầy đủ thiết bị để cung cấp sự chăm sóc y tế cho Tổng thống, gia đình của ông và các vị khách, các thủy thủ và thủy quân lục chiến đóng quân ở đây.
Chồng của Virginia, Dick, vốn đã từng phục vụ trong Hải quân tại Thái Bình Dương trong suốt Thế chiến thứ hai rất thích đến Trại David. Ông đã dành nhiều thời gian thăm các cậu thuỷ quân lục chiến trẻ khi họ rảnh rỗi, thư giãn trong một nhà hàng nhỏ hay một quán bar ở khách sạn Hicklory Lodge tại căn cứ. Virginia thích ngồi với ông, uống nước, lắng nghe cậu hạ sĩ quan 20 tuổi kể về gia đình cậu và về cô gái mà mình dự định cưới. Giờ đây, tôi vẫn có thể hình dung Virginia đang đi giầy bốt đỏ, quần trắng, áo len cùng với một cái áo khoác da màu đỏ, cười đùa với Dick và các cậu thanh niên. Bất kỳ ai đã từng hân hạnh có thời gian tiếp xúc với Virginia đều biết bà là một người Mỹ chính gốc - tốt bụng, hài hước, ham vui và hoàn toàn không câu nệ hoặc khoe khoang.
Vào đầu tháng 11, báo chí đã tường thuật là căn bệnh ung thư của bà lại tái phát nhưng hầu hết mọi người đều không biết tình hình sức khỏe nghiêm trọng của bà. Tuy vậy, bà vẫn có một thái độ tích cực và nhìn bề ngoài bà vẫn còn khỏe. t kể bà cảm thấy thế nào nhưng bà vẫn trang điểm, gắn lông mi giả. Christophe Schatterman, một người bạn của chúng tôi làm nghề uốn tóc từ Los Angels đã bay đến Arkansas để sửa lại các bộ tóc giả nhìn giống y như tóc thật của bà. Đây là một nghĩa cử hết sức trân trọng của anh.
Em tôi, Tony, vừa mới đính hôn với Nicole Boxer, con gái của Thượng nghị sĩ Barbara Boxer của bang California và chồng bà là Stewart. Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới vào mùa xuân cho Tony và Nicole tại Nhà Trắng nên tôi đã mời Nicole, bố mẹ cô cùng em cô là Doug tham dự với chúng tôi trong buổi dạ tiệc mừng lễ Tạ ơn tại Trại David.
Trại David là một công trình luôn được cải tạo thường xuyên vì mỗi một Tổng thống mới và Đệ nhất Phu nhân đều bổ sung các sở thích cá nhân cho khu trại. Nó được CCC và WPA xây làm một trại công xưởng trong cuộc Đại suy thoái của những năm 1930. Tổng thống Franklin Roosevelt thoạt tiên quyết định sử dụng nó làm nơi nghỉ ngơi của Tổng thống, đặt tên nó là "Shangri-la" và cho nâng cấp các tiện nghi phục vụ của khu trại. Trước khi chúng tôi đến, nó vừa là một căn cứ quân sự vừa là chỗ nghỉ mát. Có 10 nhà khách, tất cả được đặt tên của các loại cây. Nhà khách lớn nhất là Aspen dành cho Tổng thống, tọa lạc trên một ngọn đồi thoai thoải xuống một sân gôn xanh mượt cỏ được xây dựng theo lệnh của Tổng thống Eisenhower và một cái hồ được làm theo yêu cầu của Tổng thống Nixon. Cửa sổ của các căn phòng sinh hoạt nhìn ra khu rừng bảo tồn bao quanh trại. Các hàng rào an ninh của khu trại, camera ghi hình và việc tuần tra của thủy quân lục chiến đều nằm khuất tầm mắt, giúp cho ta quen rằng cái phong cảnh thanh bình này là một căn cứ quân sự, thậm chí còn được tăng cường an ninh để bảo vệ đặc biệt cho Tổng thống.
Trung tâm hoạt động của trại chính là nhà khách lớn Laurel, nơi chúng tôi tụ tập để xem bóng đá, chơi games, ngồi trước lò sưởi hai tầng cùng nhau thưởng thức các bữ. Sau khi thư giãn ở đây, tôi nghĩ căn phòng trung tâm Laurel nên có thêm chức năng và nên tận dụng hơn về tầm nhìn từ căn phòng. Có một số cửa số trên dãy tường phía sau nhìn ra khu rừng và một cây cột lớn ngăn cản việc đi lại trong phòng. Tôi đã làm việc với bên Hải quân và bạn tôi là Kaki Hockersmith, một nhà trang trí nội thất từ Arkansas để lên các kế hoạch nâng cấp mới, dỡ bỏ cái cột xà to và gắn thêm các cửa sổ lấy thêm ánh sáng, mở thêm phòng theo các mùa thay đổi bên ngoài.
Các đầu bếp và chiêu đãi viên của Hải quân đã chuẩn bị và phục vụ buổi dạ tiệc lễ Tạ ơn theo cách cổ điển mà cả hai bên gia đình chúng tôi đều mong đợi. Một nét truyền thống giống nhau của gia đình tôi và Bill là chúng tôi dùng cả bánh mì và bánh bột ngô, bí ngô và bánh nhân thịt bạc hà. Các bàn buffet như bị oằn đi vì sức nặng của các món ăn trong khi mọi người cử hành một lễ hội tưng bừng khắp mọi nơi, ăn uống thỏa thích.
Suốt thời gian cuối tuần, hai người bạn cũ Strobe Talbott và Brooke Shearer đến thăm Trại David cùng với con trai của họ. Strobe Talbott, khi đó đảm nhiệm vai trò Đại sứ lưu động tại các quốc gia mới độc lập của Liên Xô cũ, sau đó trở thành Thứ trưởng Ngoại giao. Brook Shearer là Giám đốc Chương trình Ái hữu Nhà Trắng và là một đồng sự của tôi trong chiến dịch tranh cử. Chúng tôi không nói nhiều về vụ Whitewater, nó chỉ là một vệt sáng ngắn ngủi lóe lên trên màn hình ra đa. Thay vào đó, chúng tôi đã thảo luận về các sự kiện của năm vừa qua. Chúng tôi lạc quan hơn bao giờ hết về tương lai của đất nước. Về mặt cá nhân, chúng tôi đã trải qua một năm khó khăn nhưng trong chương trình làm việc của Bill, đây lại là một năm nhiều thành công. Giống như cách nói ẩn dụ về một cuộc đua ngựa mà Virginia ưa thích: Có thể chúng tôi hơi chậm lúc xuất phát nhưng sau đó chúng tôi đã lấy được tốc độ. Đất nước đang có những dấu hiệu hồi phục kinh tế và niềm tin của người tiêu dùng đang gia tăng. Tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 6,4%, mức thấp nhất kể từ đầu năm 1991. Số lượng mua bán nhà mới gia tăng trong lúc lãi suất và lạm phát giảm. Ngoài kế hoạch kinh tế với một sự mở rộng chưa từng có tiền lệ, Bill còn ký ban hành đạo luật Thi hành Nghĩa vụ Quốc gia, thành lập AmeriCorps, Đạo luật Nghỉ phép Điều trị và Việc gia đình mà Tổng thống Bush đã phủ quyết hai lần; luật về cử tri ở nhà di động, giúp tạo điều kiện dễ dàng cho người lao động đi đăng ký bầu cử khi họ ghé vào các văn phòng tại địa phương; cung cấp trợ giúp tài chính trực tiếp cho sinh viên, cắt giảm chi phí học đại học. Và một trong những ưu tiên của ngài Strobe là viện trợ kinh tế cho nước Nga còn đang chập chững trong giai đoạn đầu của tiến trình dân chủ.
Sau khi đi nghỉ mát về, mỗi người chúng tôi tăng vài cân và trông tươi trẻ hẳn ra. Tôi đặc biệt hài lòng là Bill đã ký dự luật Brady vào ngày 30 tháng 11 năm 1993. Giống như Đạo luật về Nghỉ phép Điều trị và Việc gia đình, dự luật này đã bị Tổng thống Bush phản đối. Dự luật phải chờ một thời gian quá lâu. Theo quy định của dự luật này, cần thời gian năm ngày để xem xét lý lịch, nhân thân của bất kỳ một người mua súng ngắn nào. Dự luật sẽ không khả thi nếu không nhờ những nỗ lực không mệt mỏi của James và Sarah Brady. Jim là một cựu thư ký báo chí của Nhà Trắng, bị tổn thương não do bị một người đàn ông tâm thần bắn vào đầu vào năm 1981 khi hắn cố gắng ám sát Tổng thống Ronald Reagan. Ông và người vợ của mình, Sarah, đã cống hiến cả đời cho việc ngăn cản không để súng lọt vào tay những kẻ tội phạm và bệnh tâm thần. Lòng kiên nhẫn của họ đã dẫn tới một quang cảnh cảm động sâu sắc trong Phòng Đông khi Bill, được thôi thúc bởi gia đình Brady, ký ban hành thành luật cho một dự luật kiểm soát súng quan trọng nhất trong vòng 25 năm qua. Trong những năm sau này, những công dân hợp pháp không bị mất quyền sử dụng súng ngoại trừ 600 ngàn kẻ đào tẩu, những kẻ khủng bố và tội phạm đã bị ngăn không được mua vũ khí.
Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ NAFTA đã được phê chuẩn vào ngày 8 tháng 12 năm 1993. Điều đó có nghĩa là cuối cùng chính phủ đã có thể tập trung vào việc hỗ trợ cho chương trình cải cách y tế. Để khởi động lại tiến trình này, Tiến sĩ Koop và tôi lại phải ra đường lần nữa. Vào ngày 2 tháng 12, tôi đã nói chuyện với 800 bác sĩ và chuyên gia y khoa tham dự Diễn đàn Chăm sóc Sức khoẻ Nông thôn tại ba bang ở thành phố Hanover của tiểu bang New Hampshire.
Tiến sĩ Koop đã trở thành một người ủng hộ nhiệt thành cho kế hoạch chăm sóc sức khỏe. Khi ông nói, chúng ta như đang nghe một nhà tiên tri thời Kinh Cựu ước. Ông có thể đưa ra một sự thật nhạy cảm nhưng lại không gây phản cảm cho người khác. Ông nói: "Chúng ta có quá nhiều bác sĩ chuyên khoa trong khi lại không có đủ bác sĩ đa khoa" và đám đông khán giả với phần lớn là bác sĩ chuyên khoa lại gật đầu đồng ý.
Diễn đàn New Hampshire được đưa lên truyền hình nên đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng để tranh thủ sự ủng hộ và là một cơ hội lớn để giải trình các khía cạnh đạo đức của kế hoạch Clinton. Tôi trở thành một nhân vật trọng yếu trong cuộc thảo luận. Tôi nhìn về hướng khán thính giả và thấy tùy viên của mình là Kelly Craighead đang bò xuống lối đi trung tâm của khán đường. Cô đang vò đầu bứt tai ra dấu chỉ trỏ về phía tôi. Tôi cứ tiếp tục nói và lắng nghe, không thể nào đoán được là cô ta đang làm gì.
Lại là một sự cố về tóc tai. Capricia Marshall đang ngồi xem truyền hình ở Washington để ý thấy một lọn tóc rối dính ngay chính giữa trán của tôi. Cô e là khán giả có thể chăm chú vào tóc của tôi thay vì lắng nghe tôi đang nói gì nên cô đã dùng điện thoại di động gọi cho Kelly ra lệnh : "Vuốt tóc của Phu nhân xuống".
"Tôi không thể, bà ta đang ngồi trước hàng trăm người."
"Tôi không quan tâm, ra hiệu cho bà ấy !"
Khi Kelly kể lại chuyện này cho tôi sau buổi thảo luận, tất cả chúng tôi cười ồ. Chỉ hơi ngượng ngùng trong năm đầu tiên của cuộc sống mới với tư cách là Phu nhân Tổng thống nhưng cuối cùng, tôi cũng thích nghi được cách hóa giải những vấn đề quan trọng. Từ lúc đó trở đi, chúng tôi đã tạo ra một hệ thống các cử chỉ dùng tay ra dấu giống như giữa huấn luyện viên và cầu thủ để tôi có thể biết được rằng khi nào nên vuốt tóc xuống hoặc lau dấu son môi.
Trở lại Washington, các nghi lễ mùa Giáng sinh của Nhà Trắng đang rộn ràng. Bây giờ tôi mới cảm nhận được cái hoạch định kỳ quái mà tôi thúc giục để khởi đầu vào một ngày ấm áp của tháng Năm trước đó khi Gary Walters, tổng quản lý nói với tôi là "Thưa bà Clinton, như bà thấy đấy, đã hơi trễ cho công việc chuẩn bị lễ Giáng sinh". Ông nói là tôi phải thu xếp việc thiết kế thiệp Giáng sinh của Nhà Trắng, chọn các chủ đề trang trí và lên kế hoạch các buổi tiệc mà chúng ta sẽ tổ chức trong tháng 12. Tôi yêu lễ Giáng sinh nhưng lễ Tạ ơn luôn luôn là một dịp tốt để bắt đầu suy nghĩ về lễ Giáng sinh, vì vậy nó là cơ hội lớn trong kế hoạch của tôi. Với tinh thần trách nhiệm cao, tôi điều chỉnh kế hoạch của mình và qua các bức ảnh, tôi sớm bắt đầu sắp xếp những đụn tuyết trên bãi cỏ của Nhà Trắng khi mùi hương hoa mộc lan thoang thoảng bên cửa sổ.
Tất cả những tháng ngày chuẩn bị ấy đã mang lại kết quả thuận lợi. Tôi quyết định thực hiện đề tài về nghề thủ công ở Mỹ và mời những người thợ thủ công trên khắp đất nước gửi đến những đồ trang trí làm bằng tay để chúng tôi treo lên hơn 20 cây thông khắp Nhà Trắng. Bình quân mỗi ngày, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc hoặc một buổiếp khách, liên tiếp trong ba tuần. Tôi thích công việc lên thực đơn các món ăn và lập kế hoạch cho các hoạt động và ngắm nhìn hàng chục tình nguyện viên kéo đến Nhà Trắng giúp treo các vật trang trí. Một hậu quả đáng buồn của vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 là Nhà Trắng không còn mở cửa như trong suốt thời gian chúng tôi tại vị. Vào mùa Giáng sinh đầu tiên ấy, khoảng 150.000 khách đến tham quan các căn phòng để xem cách thức trang trí, các mẫu bánh. Vì chúng tôi muốn đón tiếp tất cả mọi người theo các tín ngưỡng khác nhau trong mùa lễ Giáng sinh, nên chúng tôi cho thắp lên những ngọn nến lễ mà chúng tôi đã đặt làm cho Nhà Trắng vào tháng 12 năm ấy để tiến hành buổi lễ Chanukah. Ba năm sau đó, chúng tôi tổ chức lễ Eid al-Fitr lần đầu tiên ở Nhà Trắng để thể hiện sự tôn kính đối với sự kiện kết thúc tháng Ramadan, tháng chay tịnh của người Hồi giáo.
Giáng sinh luôn luôn là một sự kiện lớn trong gia đình nhà Clinton. Bill và Chelsea đều rất thích mua sắm, gói quà, và trang trí cây thông. Tôi thích nhìn ngắm hai cha con cùng nhau tỉa cây Noel, thỉnh thoảng lại dừng tay nhớ về nguồn gốc của mỗi vật trang trí. Năm nay không khác biệt so với mọi năm, mặc dù chúng tôi phải mất một ít thời gian để tìm những đồ trang trí cho gia đình. Nhiều đồ đạc của chúng tôi vẫn còn nằm trong những chiếc hộp không nhãn mác chất đầy trong các phòng ở trên tầng ba của Nhà Trắng hoặc trong nhà kho của Tổng thống ở Maryland. Tuy vậy, cuối cùng thì những đôi vớ Giáng sinh cũng được treo ở mặt trước lò sưởi trong Phòng Bầu Dục Vàng, trong một ngôi nhà mà chứng tôi có cảm giác là mọi thứ bắt đầu trở nên giống như tổ ấm thực sự.
Đây sẽ là mùa Giáng sinh cuối cùng đối với Virginia, bà đang ngày càng trở nên yếu hơn và hiện cần được truyền máu đều đặn. Bà đã kiên cường quyết tâm sống hết mình trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Bill và tôi muốn bà dành càng nhiều thời gian càng tốt bên chúng tôi, vì vậy chúng tôi thuyết phục bà ở lại thêm một tuần nữa. Bà đồng ý nhưng cứ khăng khăng rằng bà không thể ở lại qua năm ới bởi vì bà và Dick sẽ phải đến dự buổi hòa nhạc của Barbra Streisand ở Las Vegas. Barbra là người bạn rất thân thiết của Virginia, đã mời họ tham dự buổi trình diễn trong lần trở lại sân khấu hòa nhạc được chờ đợi từ rất lâu của bà. Tôi nghĩ Virginia quyết chí sống lâu thêm nữa để còn thực hiện chuyến đi, bởi vì không có gì làm bà ấy vui thích hơn là ghé thăm các sòng bạc và có cơ hội được xem bà Barbra Streisand biểu diễn.
Sự đeo bám của giới truyền thông đối với vụ Whitewater tiếp tục kéo dài qua cả mùa nghỉ lễ khi tờ New York Times, The Washington Post và Newseek tranh nhau để có được những thông tin sốt dẻo. Những người thuộc Đảng Cộng hòa ở Hạ và Thượng viện - đặc biệt là Bob Dole - yêu cầu tiến hành một "cuộc điều tra độc lập" về vụ Whitewater. Các tác giả của những bài xã luận đã công kích và buộc Bộ trưởng Tư pháp Janet Reno phải bổ nhiệm một luật sư đặc biệt. Đạo luật "Luật sư Độc lập" (vốn được thông qua thành luật sau vụ xì-căng-đan Watergate) vừa mới hết thời hiệu, và các cuộc điều tra hiện do Bộ trưởng Tư pháp chỉ định. Áp lực gia tăng từng ngày, tuy nhiên không có dữ kiện khả dĩ nào hầu đáp ứng được tiêu chí duy nhất cho việc bổ nhiệm một nhóm điều tra đặc biệt là: phải có chứng cứ đáng tin cậy về hành vi phạm pháp.
Thậm chí khi đã nằm trong mộ rồi, Vince Foster vẫn còn bị săn lùng. Một tuần lễ trước Giáng sinh, giới báo chí đã tường thuật rằng một số hồ sơ của ông, bao gồm cả những tài liệu về vụ Whitewater, đã được Bernie Nussbaum tẩu tán khỏi văn phòng. Đương nhiên là Bộ Tư pháp biết rất rõ rằng những hồ sơ cá nhân này đã được tìm thấy trong văn phòng của ông trước sự chứng kiến của các luật sư Bộ Tư pháp và các nhân viên FBI, sau đó những hồ sơ này được bàn giao cho các luật sư của chúng tôi và được giao lại cho Bộ Tư pháp để xem xét. Nhưng việc rò rỉ những "thông tin" này đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa đang cháy âm ỉ.
Sau đó, chúng tôi phải đương đầu với một cuộc công kích mang tính chất đảng phái rất ác liệt. Vào thứ Bảy, ngày 18 tháng 12, tôi đang chủ tọa một buổi chiêu đãi nhân ngày lễ thì David Kendall đã gọi điện thoại cho tôi.
Ông ta nói: "Bà Hillary này, tôi phải báo cho bà biết một số thông tin rất, rất xấu...".
Tôi ngồi xuống và lắng nghe David tóm tắt một bài báo dài và rất chi tiết trên tờ American Spectator, một tờ báo của phe cánh tả thường công kích Chính phủ. Bài báo do David Brock viết toàn những chuyện đồi bại nhất mà tôi từng biết, còn tồi tệ hơn cả thứ rác rưởi tục tĩu trên những tờ lá cải được phát không trong các siêu thị. Nguồn thông tin chủ yếu của Brock là từ bốn người lính Arkansas trong nhóm cận vệ cũ của Bill. Họ tuyên bố rằng họ đã môi giới gái điếm cho Bill khi còn làm Thống đốc bang Arkansas. Những năm sau đó, khi công khai rút lui, Brock đã viết những lời thú nhận gây ấn tượng sâu sắc về những động cơ và các thế lực chính trị đứng sau chỉ đạo ông ta hành động vào thời điểm đó.
"Hãy nhìn xem, bài báo đó có quá nhiều điều bẩn thỉu, nhưng nó sẽ được lan truyền rộng rãi", David nói, "Bà phải chuẩn bị thôi."
Ý nghĩ đầu tiên của tôi là dành cho Chelsea, mẹ tôi và bà Virginia.
"Chúng ta có thể làm gì về điều đó?", tôi hỏi David. "Chúng ta có thể làm gì không?"
Lời khuyên của anh ấy là im lặng và không nói gì. Các lời bình luận của chúng tôi chỉ giúp quảng cáo thêm cho bài báo. Những người lính này đang hủy hoại thanh danh bạn thân vì một động cơ riêng, họ ba hoa một cách không biết xấu hổ rằng họ mong có thể kiếm tiền từ nhữngâu chuyện của mình. Hai trong số bốn người đồng ý tiết lộ tên và họ đang chào hàng câu chuyện của mình. Thậm chí nói thẳng ra họ đang được Cliff Jackson đại diện. Đây là một trong những kẻ thù chính trị dữ dội nhất của Bill ở Arkansas. Hầu hết câu chuyện của Brock quá mơ hồ, không thể kiểm chứng và có nhiều chi tiết không nhất quán. Ví dụ bài báo tuyên bố là tôi đã ra lệnh cho hủy các hồ sơ lưu theo dõi việc ra vào cửa của Dinh Thống đốc để che giấu các dan díu bị tình nghi của Bill, tuy nhiên thực tế thì Dinh Thống đốc không bao giờ lưu giữ những hồ sơ như vậy. Điều không may là các nguồn thông tin của Brock lại là nhóm lính trước đây làm việc cho Bill khiến cho những câu chuyện của họ có vẻ như đáng tin cậy. Tôi nghĩ là toàn bộ tác động của bài báo này không ảnh hưởng với tôi cho đến tối hôm sau, tại buổi tiệc Giáng sinh dành cho bạn bè và người thân của gia đình tại Nhà Trắng, Lisa Caputo nói với tôi là tối nay hai người binh sĩ trong nhóm đó đang chào hàng các câu chuyện của họ trên đài CNN và báo Los Angeles Times sắp đăng những câu chuyện của họ. Thật là quá đáng. Tôi tự hỏi là cái mà Bill đang cố gắng đóng góp, phục vụ đất nước có xứng đáng với những khổ đau và tủi nhục mà gia đình, bạn bè tôi phải chịu đựng hay không. Chắc là vẻ bên ngoài của tôi trông thảm hại như nỗi đau khổ trong lòng, đến mức Bob Barnett đã đến hỏi xem là anh có thể giúp được gì hay không. Tôi bảo anh là chúng ta phải quyết định làm thế nào trả lời ngay ngày hôm sau. Tôi đề nghị chúng tôi cùng lên lầu với Bill trong vài phút để bàn về chuyện đó. Bill đi tới đi lui trong gian sảnh trung tâm. Bob khom người trình bày khi tôi ngả người dựa vào cái ghế nhỏ sát tường. Với cặp mắt kính quá khổ và nét mặt phúc hậu, Bob trông giống như một người chú dễ mến của mọi người. Bây giờ anh ấy đang nói chuyện với một giọng hết sức dịu dàng, rõ ràng là cố gắng để tìm hiểu là liệu chúng tôi có đủ sức mạnh để tiếp tục một cuộc chiến đấu sau tất cả mọi chuyện đã xảy ra hay không. Tôi nhìn anh và nói: "Tôi đã quá mệt mỏi vì những chuyện này".
Anh ấy lắc đầu, "Tổng thống được dân bầu lên và bà phải sát cánh với ông ấy vì đất nước, vì gia đình bà. Dù cho việc này có tồi tệ đến đâu đi nữa, bà phải chịu đựng đến cùng". Anh ấy không kể tôi nghe bất cứ chuyện gì mà tôi chưa biết, và đây không phải là lần đầu tôi được khuyên rằng các hành động và lời nói của tôi hoặc có thể củng cố hoặc làm suy yếu vị thế Tổng thống của Bill. Tôi muốn nói rằng "Bill được bầu, chứ không phải tôi!". Về mặt lý trí tôi hiểu là Bob đúng và hiểu là tôi sẽ phải tập trung mọi sức lực còn lại của mình. Tôi sẽ cố gắng nhưng tôi cũng cảm thấy quá mệt mỏi. Vào lúc này tôi cảm thấy rất đơn độc.
Tôi nhận ra rằng các cuộc tấn công vào danh tiếng của chúng tôi có thế hủy hoại công việc mà Bill đang thực hiện để đưa quốc gia theo một con đường khác. Ngay từ khi bắt đầu chiến dịch tranh cử, tôi đã biết là những người Đảng Cộng hòa mong muốn bám giữ vị trí ở Nhà Trắng mãnh hệt đến thế nào. Các đối thủ chính trị của Bill hiểu món tiền cược trong vụ này rất cao. Điều này khiến tôi muốn tiếp tục chiến đấu. Tôi quay xuống cầu thang để trở lại tham dự bữa tiệc.
Tôi đã lên lịch trình một số cuộc phỏng vấn với giới truyền thông mà tôi không thể nào bỏ được. Vào ngày 21 tháng 12, tôi gặp Helen Thomas và một số phóng viên báo đài khác để lấy bản báo cáo tóm lược cuối năm. Helen là Trưởng ban Báo chí Nhà Trắng, một nhà báo rất nối tiếng. Dĩ nhiên họ hỏi tôi về bài báo trên tờ Spectator và tôi đã quyết định dành cho họ một câu trả lời. Tôi tin đây không phải là một sự trùng hợp vì các cuộc công kích đã xuất đầu lộ diện ngay khi Bill đang được tín nhiệm rất cao trong các cuộc thăm dò ý kiến kể từ khi anh ấy nhậm chức Tổng thống. Và tôi đã nói với họ như thế. Tôi cũng tin là các câu chuyện này được ng lên vì các lý do bè phái và ý thức hệ.
"Tôi nghĩ chồng tôi đã chứng tỏ anh ấy là một người thật sự quan tâm đến đất nước này một cách sâu sắc và đã làm tròn vai trò Tổng thống... Và xét đến những điều đã nói và làm được, những người dân Mỹ công tâm sẽ phán xét chồng tôi. Và tất cả những gì còn lại của cái thứ vớ vẩn này sẽ kết thúc trong sọt rác, là nơi xứng đáng với nó."
Đây thật sự không phải là một câu trả lời bình tĩnh như David đã khuyến nghị.
Mặc dù đã gây ra tổn thương cho chúng tôi nhưng cuối cùng giới truyền thông cũng bắt đầu kiểm tra những động cơ của những binh sĩ này. Hóa ra hai người lính này giận dữ vì họ cảm thấy Bill đã không biết ơn họ. Họ cũng đang là đối tượng của một cuộc điều tra về vụ gian lận bảo hiểm nhiều nghi vấn liên quan đến một xe công vụ mà họ đang sử dụng đã bị tai nạn vào năm 1990. Một quân nhân khác từng báo cáo là Bill đã cho anh ta một công việc ở cơ quan chính quyền liên bang để đổi lấy sự im lặng của anh. Sau đó, anh ta đã buộc phải ký vào một tờ khai tuyên thệ là chuyện đó chưa từng xảy ra. Nhưng phải mất gần mười năm sau chúng tôi mới biết được đầy đủ về câu chuyện giật gân được biết với tên gọi là vụ bê bối "Troopergate".
David Brock, tác giả của bài báo trên tờ Spectator bị lương tâm cắn rứt vào năm 1998 đã công khai xin lỗi Bill và tôi về những điều nói dối mà ông ta gieo rắc về chúng tôi. Ông ta đã hao tâm tổn trí vào việc xây dựng phẩm chất thiên hữu của mình đến nỗi ông ta đã tự cho phép mình bị lợi dụng vào mục đích chính trị khi ông ta có những nghi ngờ về các nguồn tin. Trong cuốn hồi ký Blinded by the Right được xuất bản năm 2002, Brock đã tự nhận mình là một người theo quan điểm cực hữu. Ông ta cho bi rằng mình không chỉ có tên trong bảng lương chính thức của tờ báo Spectator mà còn nhận tiền hối lộ để bới móc và đăng bất kỳ những thứ xấu xa dơ bẩn mà bất kỳ ai muốn nói về chúng tôi. Trong số những người bảo trợ bí mật cho ông ta có nhà tài phiệt ở Chicago tên là Peter Smith, một người ủng hộ quan trọng của Newt Gingrich. Smith đã trả tiền cho Brock để đi đến Arkansas phỏng vấn các binh sĩ với một sự dàn xếp hỗ trợ của Cliff Jackson. Theo Brock thì sự thành công của bài báo viết về nhóm binh lính này đã thu hút sự chú ý của Richard Mellon Scaife, một tỷ phú cực kỳ bảo thủ đến từ Pittsburgh nhằm tài trợ cho các tin bài tương tự như vậy thông qua một công ty bí mật gọi là "Arkansas Project". Thông qua một cơ sở giáo dục, Scaife đã bơm hàng trăm ngàn đôla cho tờ báo Spectator để hỗ trợ cho những bài báo thù địch chống lại Clinton.
Cái âm mưu được Brock và những người khác mô tả lại thật chặt chẽ và dàn nhân vật thì thật là lố bịch. Tuy nhiên, điều quan trọng là người dân Mỹ biết được cái gì đang xảy ra đằng sau hậu trường để hiểu được toàn diện về vụ Troopergate, hiểu những vụ bê bối miêu tả trên báo lá cải trước đó và những chuyện sẽ xảy ra sau đó. Đây là một cuộc chiến tranh tổng lực về chính trị.
"Trong quá trình theo đuổi sự nghiệp bắt đầu chớm nở của mình như một người bới lông tìm vết cho phe cánh hữu", Brock viết, "tôi đã để bản thân bị lẫn lộn trong một nỗ lực kỳ quái và đôi khi lố bịch do những tên đặc vụ cánh hữu được tài trợ dồi dào để làm nhục Clinton bằng các lời cáo buộc cá nhân bẩn thỉu. Những nỗ lực phối hợp hoạt động với Đảng Cộng hòa hoặc các tổ chức, dưới sự theo dõi sát của công chúng Mỹ và giới báo chí khi chiến dịch tranh cử diễn ra vượt xa khuôn khổ của việc nghiên cứu phe đối lập, thường được tiến hành trong các cuộc vận động chính trị - không chỉ bí mật và có chủ đích mà còn trong tình trạng thiếu độ tin cậy xét theo bất kỳ tiêu chuẩn nàoề chứng cứ, nguyên tắc hoặc tính chính xác vv. Những hoạt động này... là một bằng chứng rõ ràng về giới chính trị cánh hữu có thể đi xa đến mức độ nào trong thập niên sắp tới để cố gắng phá hoại gia đình Clinton."
Cùng với các thành viên khác trong dự án Arkansas bí mật của Scaife, Brock tiếp nhận công tác gieo rắc mầm mống nghi ngờ về nhân vật Bill Clinton và sự phù hợp của Bill Clinton đối với việc cai trị đất nước. Theo hồi ức của Brock thì "...ngay từ giây phút đầu tiên, khi gia đình Clinton rời Arkansas để bước lên sân khấu chính trị quốc gia thì đất nước luôn bị tác động phải chứng kiến một chuyện hoàn toàn bịa đặt được Đảng Cộng hòa tạo dựng ra để đất nước không bao giờ nhìn đúng bản chất của gia đình Clinton".
Vào một buổi sáng sương giá giữa Giáng sinh và Năm mới, Maggie Williams và tôi dùng cà phê trong một nơi ưa thích tại tư dinh - Phòng khách phía Tây - trước một cửa sổ lớn hình nan quạt Chúng tôi trò chuyện và đọc lướt các tờ báo. Hầu hết trang nhất các báo đều dành cả trang về vụ Whitewater.
"Ồ nhìn này!”, Maggie nói khi cô đưa cho tôi tờ USA Today. "Nó nói bà và Tổng thống là những người đáng trọng nhất trên thế giới." Tôi không biết nên cười hay khóc. Tất cả điều tôi có thể làm là hy vọng rằng người dân Mỹ vẫn giữ được tính công bằng và thiện ý của mình vì tôi cũng đang đấu tranh để giữ điều đó cho mình.