CHÍNH TRƯỜNG NƯỚC MỸ TRƯỚC CUỘC BẦU CỬ TỔNG THỐNG 2008
Cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào ngày 4/11/2008 để bầu ra vị tổng thống thứ 44 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhân vật chiến thắng là người nhận được quá bán số phiếu của cử tri đoàn (hay còn gọi là phiếu đại cử tri) - tức ít nhất 270 phiếu cử tri đoàn - và nhậm chức vào ngày 20/1/2009.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CUỘC BẦU CỬ NĂM 2008
Theo Hiến pháp Mỹ được bổ sung bằng Tu chính án 22, Tổng thống đương nhiệm George W. Bush sẽ không được tái ứng cử một nhiệm kỳ thứ ba. Trong vòng 3 chính quyền gần đây nhất nắm Nhà Trắng 8 năm liền (chính quyền của các vị Tổng thống Eisenhower, Reagan và Clinton) thì cả 3 vị Phó Tổng thống đều được tiến cử ra tranh ghế Tổng thống: Richard Nixon thất cử năm 1960, George W. Bush thắng cử năm 1988 và Al Gore thất cử năm 2000. Tuy nhiên, Phó Tổng thống đương nhiệm Dick Cheney đã tuyên bố hồi năm 2001 rằng ông sẽ không bao giờ ra tranh cử tổng thống. Ông cũng từng lặp lại tuyên bố này năm 2004 khi xuất hiện trên chương trình truyền hình Fox News Sunday khi nói: "Nếu được tiến cử, tôi sẽ từ chối; nếu được bầu chọn, tôi sẽ không phục vụ...". Những đồn đoán về ông Cheney không chỉ về tình trạng sức khỏe mà còn có những dự báo là ông có thể sẽ từ chức sau kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11 năm 2006. Và nếu điều này xảy ra, nhân vật nào thuộc Đảng Cộng hòa thay thế ông sẽ trở thành ứng viên tiềm lực nhất của Đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống năm 2008.
Người Mỹ gọi cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 của họ là "open seat" election - tức cuộc bầu cử mà vị tổng thống đương nhiệm không phải là ứng cử viên. Trong trường hợp Phó Tổng thống Cheney phục vụ cho đến hết nhiệm kỳ và không ra tranh cử thì cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm 2008 sẽ là cuộc đua lần đầu tiên kể từ năm 1928 có tình huống là không ai trong số hai vị đứng đầu hành pháp (Tổng thống và phó Tổng thống) đứng ra làm ứng viên tổng thống. Còn trong trường hợp Ngoại trưởng Mỹ, bà Condoleezza Rice được Đảng Cộng hòa tiến cử ra tranh ghế tổng thống thì sự việc đó sẽ làm sống lại những "tiền lệ” có từ những thập niên đầu tiên trong lịch sử mới mẻ của Hoa Kỳ. Theo truyền thống những năm đầu lập quốc, chức vụ ngoại trưởng là bước đệm cho một nhân vật để sẵn sàng nắm cương vị đứng đầu hành pháp (Hiến pháp Mỹ hiện hành cũng quy định ngoại trưởng là nhân vật đầu tiên trong nội các tiếp quản chức vụ tổng thống sau các vị: Phó Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch tạm thời Thượng viện - vì Chủ tịch Thượng viện là do Phó tổng thống kiêm nhiệm). Lịch sử Hoa Kỳ ghi nhận nhiều vị Tổng Tư lệnh quân đội những năm cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 đều đã từng giữ chức vụ ngoại trưởng trước khi được bầu làm tổng thống: Thomas Jefferson, James Madison, James Monroe, John Quincy Adams, Martin Van Buren và James Buchanan.
Những sự liện chính :
- Từ ngày 25 đến ngày 28/2008 : Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ.
- Từ ngày 1 đến ngày 4/9/2008 : Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa.
- Ngày 4/11/2008 : Cử tri Mỹ đi bầu.
- Ngày 15/12/2008 : Các thành viên cử tri đoàn (đại cử tri) Mỹ tập họp ở từng bang để bỏ phiếu.
- Ngày 6/1/2009 : Kết quả chính thức được công bố trước lưỡng viện Quốc hội.
- Ngày 20/1/2009 : Lễ nhậm chức.
Vận động tài trợ và bầu cử sơ bộ
Cần nhớ là tại Mỹ, người ta chỉ nhắc tới hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa vì đó là hai chính đảng lớn, chi phối toàn bộ hoạt động của chính trường nước này hiện nay, nhưng trên thực tế, vẫn còn có nhiều đảng nhỏ mà thật ra chỉ hoạt động trong các mùa bầu cử hay khi cần vận động cho một phong trào nào đó, như các Đảng Xanh (Green party), Đảng Cải cách (Reformn party), Đảng Xã hội (Socialist party USA)... Việc chuẩn bị bầu cử tổng thống ở Mỹ được tiến hành từ rất sớm để các ứng viên có thời gian vận động tài trợ cho chiến dịch tranh cử của mình. Với cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2008, các ứng viên đã phải "lên tiếng" từ cuối năm 2006 đến những tháng giữa năm 2007 và thông thường, rất ít ứng viên tuyên bố ra tranh cử vào cuối 200í dụ như trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2004, tướng 4 sao về hưu Wesley Clark là ứng viên thứ 10 - và là ứng viên sau cùng - ra tranh cử trong nội bộ Đảng Dân chủ khi ông tuyên bố vào ngày 18/9/2003 về dự định ra tranh cử tổng thống của mình). Các hãng, cơ quan thông tấn tổ chức thăm dò dư luận và đưa tin "ứng viên tiềm tàng" căn cứ vào số tiền mà ứng viên đó vận động tài trợ được nhiều hay ít. Trường hợp của Thống đốc Howard Dean là một thí dụ. Ông được xem là ứng viên hàng đầu của Đảng Dân chủ nhưng sau đó, dần dà bị các ứng viên khác như John Kerry, John Edwards qua mặt.
Trước khi tổ chức đại hội toàn quốc để bầu chọn ứng viên chính thức, các cuộc họp nội bộ (state caucus) và bầu cử sơ bộ (primary) được tiến hành theo từng khu vực. Bắt đầu từ tháng 1 năm 2008, các cuộc hội họp nội bộ và bầu cử sơ bộ sẽ được tiến hành ở Iowa, New Hampshire, Nevada và South Carolina. Tiến trình này sẽ được tiếp tục tại các khu vực khác cho đến tháng 6 năm 2008 - nhưng thông thường thì chỉ đến khoảng tháng 3, các ứng viên nổi bật của Đảng Dân chủ và Cộng hòa đã nhận đủ số phiếu để có thể được đảng mình tiến cử. Trong tiến trình đó, nhiều ứng viên tự rút lui khi thấy không còn cơ may nào cho mình.
Tiến trình bầu chọn trong nội bộ đảng
Ở đây chúng tôi lấy trường hợp bầu chọn của Đảng Dân chủ trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm 2004 làm thí dụ.
Cuộc đua nội bộ được tiến hành rất sớm. Đầu tiên là Thống đốc bang Vermont, ông Howard Dean thành lập Ủy ban thăm dò (Presidential Exploratory Committee) ngày 31/05/2002, tức gần 2 năm trước cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên của Đảng Dân chủ. Do Vermont là một bang nhỏ và tên tuổi của vị thống đốc ít nổi tiếng ngoài khu vực nên ông Dean muốn "khởi sự” để hy vọng tên tuổi mình sẽ được thừa nhận. Và điều đó đã được khẳng định khi các cuộc thăm dò sau đó cho thấy ông luôn luôn là nhân vật dẫn đầu (front-runner) của Đảng Dân chủ trong giai đoạn đầu. Đến tháng 12 năm đó, Thượng nghị sĩ John Kerry của bang Massachusetrs mới thông báo trên đài NBC ý định thành lập Ủy ban tranh cử của mình. Tuyên bố của ông Kerry lập tức được nhiều đảng viên Dân chủ chú ý và xem ông là nhân vật thích hợp cho cương vị Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tương lai do ông là một cựu chiến binh. Hai tuần sau, cựu Phó Tổng thống Al Gore - và là ứng viên tổng thống năm 2000 - tuyên bố không ra tranh cử năm 2004, mở đường cho một loạt ứng viên lên tiếng tham dự : Thượng nghị sĩ John Edwards của bang North Carolina, Dân biểu Richard Gephardt bang Missouri, Mục sư Al Sharpton bang New York, và đặc biệt là Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman, ứng viên phó tổng thống cùng liên danh với ông Al Gore năm 2000. Thượng nghị sĩ Lieberman trước đó đã cam kết không ra tranh cử để "nhường" cho ông Al Gore nên khi ông Gore khẳng định không ra tranh cử thì ông Lieberman không còn bị ràng buộc gì với những cam kết của mình. Đến tháng 2 năm 2003, có thêm 3 ứng viên: cựu Thượng nghị sĩ Carol Braun bang Illinois, Dân biểu Kucinich bang Ohio và Thượng nghị sĩ Bob Graham bang Florida.
Ngày 3/5/2003, những người Dân chủ nhóm họp tại Đại học South Carolina trong buổi tranh luận đầu tiên giữa 9 ứng cử viên. Một tháng sau, ứng viên Howard Dean chi một khoản tiền 300.000 USD để quảng bá trên truyền hình và chính thức nộp hồ sơ vận động tranh cử lên FEC. Kế đến, webside MoveOn lần đầu tiên tổ chức "bầu cử sơ bộ" trên mạng trong vòng 48 giờ của Đảng Dân chủ. Kết quả - dù là không chính thức, nhưng vẫn có tầm quan trọng và ý nghĩa trong việc vận động tài chính - cho thấy trong số 317.647 phiếu bầu,. ông Howard Dean nhận 44%, Dennis Kucinich 24%, trong khi ông John Kerry chỉ 16%. Do không có ứng viên nào vượt qua con số 50% để nhận được sự ủng hộ tài chính nên MoveOn quyết định hậu thuẫn cho tất cả các ứng viên. Tháng 7 năm 2003, những ứng viên hàng đầu của Đảng Dân chủ đã nhận được khoản tiủng hộ tranh cử như sau: Howard Dean 7,5 triệu USD; John Kerry 6 triệu; John Edwards và Joseph Lieberman mỗi người 5 triệu. Như vậy đến thời điểm cuối năm 2003, Howard Dean vẫn giữ vị thế là ứng viên hàng đầu của Đảng Dân chủ. Tuy nhiên, đến khi tướng 4 sao Wesley Clark từ tiểu bang Arkansas tuyên bố vào tháng 9 năm 2003 ý định ra tranh cử thì những đảng viên Dân chủ có khuynh hướng hậu thuẫn vị tướng này, xem ông là nhân vật có tầm nhìn chiến lược khả dĩ đối đấu với Tổng thống Bush về những thách thức của nước Mỹ sau sự kiện 11/9/2001. Nhiều nhà phân tích mô tả Tướng Clark sẽ dễ được bầu chọn hơn là Dean, cho dù ông Dean vẫn còn ở vị thế dẫn đầu.
Lợi thế của Howard Dean tiếp tục cho đến lúc Đảng Dân chủ tổ chức cuộc họp nội bộ đầu tiên ở Iowa, đặc biệt là khi cựu Phó Tổng thống Al Gore vào tháng 12 năm 2003 chính thức tuyên bố ủng hộ ông Dean. Tuy nhiên, kết quả cuộc họp nội bộ Đảng Dân chủ ở bang Iowa ngày 19/1/2004 đã cho một kết quả ngoài dự đoán: nhân vật dẫn đầu lại là John Kerry với 38% phiếu bầu của đại biểu; kế đến là John Edwards 32%. Người được dự báo đứng đầu là Howard Dean chỉ được có 18% phiếu và ông Dick Gephardt về hạng 4 với 11% phiếu bầu. Trong các cuộc thăm dò tại Iowa vài tuần trước bầu cử, hai ông Dean và Gephardt tranh nhau vị trí dẫn đầu nên sau kết quả này, cả hai ủy ban vận động tranh cử cho hai nhân vật này hết sức ngạc nhiên và thất vọng. Theo các nhà phân tích thì nguyên nhân thất bại là do việc quá tập trung vận động phản bác lẫn nhau giữa hai ông Dean và Gephardt; hậu quả là ông Gephardt rút lui khỏi cuộc đua.
Ông John Kerry tiếp tục chiến thắng tại cuộc bầu cử sơ bộ ở New Hampshire ngày 27/1/2004 rồi các bang tiếp theo nên ông Howard Dean tuyên bố bỏ cuộc. Các ứng viên khác cũng lần lượt rút lui. Ngày 11/3/2004, tại cuộc họp của Đảng Dân chủ ở Washington DC., ông Kerry đã "tích lũy" được 2.162 phiếu của đại biểu - số phiếu cần thiết để được Đảng Dân chủ tiến cử ra tranh ghế Tổng thống. Ngay lập tức, webủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ (Democratic National Committee - DNC) thừa nhận ông là ứng viên của đảng. Tổng thống Bush gọi điện chúc mừng Thượng nghị sĩ John Kerry vào ngay chiều hôm đó. Ngày 6/7/2004, ông Kerry chọn Thượng nghị sĩ John Edwards làm ứng viên phó tổng thống chung liên danh với mình và tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ tố chức ở Boston, Massachusetts một tháng sau đó, liên danh Kerry-Edwards chính thức đại diện Đảng Dân chủ ra tranh ghế Tổng thống và phó Tổng thống Hoa Kỳ năm 2004. Liên danh này đã bị liên danh của Tổng thống và phó tổng thống đương nhiệm Bush-Cheney đánh bại trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2004 mà đề tài tranh luận chủ yếu nhắm vào việc điều hành cuộc chiến chống khủng bố. Ông Bush bảo vệ thành công về những hành động cần thiết của chính quyền trong khi ông Kerry phê phán rằng chính phủ của ông Bush thiếu khả năng, chưa hành động đúng mức.
NHỮNG ĐỐI THỦ CỦA BÀ HILLARY TRONG NỘI BỘ ĐẢNG DÂN CHỦ
Như trên đã trình bày, để được ra tranh cử tổng thống, các ứng viên phải vượt qua rào cản khó khăn nhất là làm thế nào để được đảng mình tiến cử. Trong trường hợp của bà Hillary, xin điểm xuyết một số đối thủ trong nội bộ Đảng Dân chủ, tính đến thời điểm tháng 10 năm 2006.
1. CỰU PHÓ TỔNG THỐNG AL GORE :
Nhiều người tin rằng ông Al Gore sẽ ra tranh cử lần này, mặc dù ông đã không tranh giành với ông George W. Bush vào năm 2004. Những người hậu thuẫn ông Gore bác bỏ luận điệu của một số người cho rằng ông ta khó mà "sống lại được" sau cuộc sát nút và có nhiều tranh cãi về kiểm phiếu tại bang Florida trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000 (ông Gore thắng phiếu phổ thông : hơn ông Bush trên nửa triệu phiếu bầu, nhưng lại thua phiếu của cử tri đoàn : ông Bush được 271 phiếu, ông Gore 266 phiếu). Họ nhắc nhở là lịch sử cận đại của Hoa Kỳ đã ghi nhận trường hợp của ông Richard Nixon còn "thê thảm" hơn. Ông Nixon hầu như mất tất cả sau khi thua đúp: thất cử trước John F. Kennedy trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1960 rồi lại thua tiếp trong cuộc bầu cử thống đốc bang California trước ứng viên Pat Brown năm 1962. Thế nhưng, ông Nixon đã "sống lại” : 6 năm sau, ông đắc cử Tổng thống và 4 năm sau đó, lại tái đắc cử Tổng thống Mỹ.
Điểm khó khăn với ông Gore là hiện nay, các đảng viên Dân chủ có khuynh hướng tìm kiếm những khuôn mặt mới. Để có thể vượt qua các cuộc bầu cử sơ bộ, ông Gore phải làm sao thuyết phục được là mình dễ được cử tri bầu chọn hơn là các ngôi sao đang lên. Đây là một công việc cực kỳ khó khăn dù sức khỏe và độ tuổi của ông còn rất thích hợp (ông Gore sinh năm 1948). Khi được hỏi về khả năng tái tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, ông Gore trả lời ngày 4/6/2006: "Tôi không có kế hoạch tái ứng cử, nhưng không bác bỏ một tương lai chính trị nào”. Hiện nay, cựu Phó Tổng thống Al Gore hoạt động mạnh về môi trường, một lĩnh vực được công chúng quan tâm; ông thường đi thuyết giảng về đề tài trái đất nóng dần lên mà ông gọi là "cuộc khủng hoảng khí hậu”. Ông Al Gore cũng là Chủ tịch công ty điều hành kênh truyền hình Current, thành viên hội đồng quản trị của Apple Computer và là cố vấn không chính thức cho Google.
2. JOHN KERRY :
Là ứng viên của Đảng Dân chủ bị ông George W. Bush đánh bại trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2004, ông Kerry vẫn là ứng viên tiềm năng trong cuộc tranh tài năm 2008 Đã từng là sĩ quan của hải quân Mỹ phục vụ 3 năm 8 tháng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, sau 3 lần bị thương, ông trở về Mỹ năm 1970 và tham gia phong trào phản đối chiến tranh. Một ngày sau khi ra điều trần trước quốc hội Mỹ tháng 4 năm 1971, ông cùng khoảng 800 cựu chiến binh khác đã quăng hết những huy chương quân đội mà họ đã được trao tặng trước Tòa nhà Quốc hội Mỹ để phản đối cuộc chiến ở Việt Nam.
Sau khi thất cử trong cuộc bầu cử Hạ viện năm 1972, John Kerry quyết định theo học Đại học Luật Boston. Năm 1984 ông đắc cử Thượng nghị sĩ, đại diện bang Massachusetts và phục vụ tại Thượng viện Mỹ từ đó đến nay.
3. JOHN EDWARDS :
Là ứng viên Phó Tổng thống của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 2004 và là Thượng nghị sĩ một nhiệm kỳ của bang North Carolina , ở tuổi còn khá trẻ (sinh năm 1953), ông John Edwards được xem là ứng viên tiềm tàng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008.Sinh trưởng trong một gia đình mà cha làm công nhân ngành dệt và mẹ là nhân viên bưu điện, Edwards là người đầu tiên trong gia đình tốt nghiệp đại học chuyên ngành kỹ thuật dệt. Sau đó, ông theo học luật tại Đại học North Carolina, Chapel Hill và tốt nghiệp với hạng danh dự. Trước khi bước vào lĩnh vực chính trị, Edwards thành công trong cương vị luật sư bảo vệ cho các nạn nhân trước những hành động bất chính trong ngành y như việc sử dụng dược phẩm hay điều trị sai trái. Vụ kiện nổi tiếng nhất mà ông chiến thắng xảy ra vào năm 1997 với Sta-Rite, một hãng sản xuất dụng cụ ống dẫn lưu dùng trong phẫu thuật. Bảo vệ cho nạn nhân, một cô gái trẻ, ông Edwards đã nói một mạch suốt một tiếng rưỡi đồng hồ trước bồi thẩm đoàn mà không cần tham khảo ghi chú nào hết. Kết quả là tòa tuyên bố hãng Sta-Rite phải bồi thường cho nạn nhân 25 triệu USD, một khoản tiền bồi thường cá nhân lớn trong lịch sử xử án ở bang North Carolina. Còn John Edwards và một đồng sự được Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (Association of Trial Lawyers of America) tặng giải thưởng toàn quốc về phục vụ công chúng. Tài sản mà ông Edwards có được thông qua văn phòng luật của ông lên đến 60 triệu USD. Tháng 12 năm 2003, trong thời gian vận động tranh cử tổng thống, ông cho xuất bản Four Trials, cuốn tự truyện tập trung vào những vụ kiện nổi tiếng mà ông từng tham gia tranh tụng.
Sau khi thất bại trong cuộc tranh giành vào ghế Nhà Trắng với liên danh George W. Bush-Dick Cheney năm 2004, ông Edwards thành lập One America Committee và được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm Cơ hội, Việc làm và Chống Nghèo đói tại Trường Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Ông cũng làm tư vấn cho một ngân hàng đầu tư ở New York. Những người ủng hộ Edwards ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008 thường căn cứ vào tuyên bố của ông trong cuộc tranh cử năm 2004: "Các bạn có thể thất vọng nhưng không thể từ bỏ. Cuộc chiến này chỉ mới bắt đầu”. Trong buổi trả lời phỏng vấn độc quyền dành cho chương trình "This Week" của George Stephanopoulos ngày 21/5/2006, John Edwards nói rằng ông đang nghiêm túc xem xét về cuộc chạy đua vào Nhà Trắng kỳ này.
4. JOSEPH BIDEN:
Là Thượng nghị sĩ đắc cử từ năm 1972 lúc mới 30 tuổi (là một trong năm Thượng nghị sĩ trẻ nhất trong lịch sử Thượng viện Hoa Kỳ), ông Biden hiện đang phục vụ nhiệm kỳ thứ 6 tại Thượng viện Hoa kỳ và là Thượng nghị sĩ phục vụ lâu nhất cho bang Delaware. Vào năm 1988, Biden đã dự định ra tranh cử tổng thống nhưng căn bệnh quái ác phình mạch nào (brain aneurysm) hai lần làm ông phải nhập viện hết 7 tháng và mất cơ hội để được Đảng Dân chủ tiến cử năm đó. Kể từ năm 1991, ông là giáo sư giảng dạy môn luật hiến pháp tại Trường Đại học Luật Widener. Tiếng nói của Biden rất "có trọng lượng" tại Thượng viện Mỹ, nơi ông là thành viên lâu của Ủy ban Tư pháp và từng làm chủ tịch Ủy ban này từ năm 1987 đến 1995. Ông cũng từng đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện từ năm 2001 đến 2003.
Năm 2003, ông Biden được xem là nhân vật có thể được đảng tiến cử ra tranh ghế tổng thống năm 2004 nhưng ông đã quyết định ngược lại khi nói rằng mình không đủ thời gian để vận động quỹ tranh cử. Một số người cho rằng, ông có thể được Thượng nghị sĩ John Kerry chọn đứng chung liên danh tranh chức phó Tổng thống. Thế nhưng Biden lại có một đề nghị trái khoáy là ông Kerry nên chọn Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa là John McCain. Ông Biden cũng từng có thời được đồn đoán đảm nhận chức vụ ngoại trưởng trong chính quyền của Đảng Dân chủ. Kể từ năm 2004 đến nay, Biden luôn nằm trong danh sách ứng viên tiềm tàng của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008.
5. BILL RICHARDSON:
Ông Richardson đã từng là dân biểu Hạ viện Mỹ 15 năm trước khi trở thành Đại sứ Mỹ tại Liên hiệp quốc rồi Bộ trưởng Bộ Năng lượng dưới thời Tổng thống Clinton. Hiện đang là Thống đốc bang New Mexico và được xem là một nhân vật ôn hòa, một thành viên lãnh đạo trong Hội đồng lãnh đạo Đảng Dân chủ (DLC), ông là Chủ tịch Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004 - đại hội đã tiến cử Thượng nghị sĩ John Kerry ra tranh cử tổng thống. Ông Richardson có mối quan hệ chặt chẽ với chính quyền trước đây của Tổng thống Clinton và là một trong những ứng viên tiềm năng trong trường hợp bà Hillary không được tiến cử.
Bill Richardson có mẹ là người Mexico, cha ông ra đời ở Nicaragua, lớn lên ở Boston và làm việc cho Citibank ở Mexico. Richardson lớn lên ở New Mexico đến năm 13 tuổi mới chuyển về Massachusetrs. Năm 2003 nhậm chức Thống đốc bang New Mexico, ông Richardson là Thống đốc người gốc Mỹ La tinh duy nhất tại Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, có nhiều tin đồn là Richardson nằm trong danh sách ứng viên phó tổng thống, nhưng theo một bản tin của AP năm 2005, ông đã thông báo ý định ra tranh cử tổng thống năm 2008.
6.WESLEY CLARK :
Tốt nghiệp trường võ bị West Point và nhận được học bổng Rhodes du học Đại học Oxford lấy bằng thạc sĩ kinh tế, ông Clark là tướng 4 sao đã hưu trí. Tướng Clark từng là Tư lệnh tối cao NATO từ 1997 đến 2000 và chỉ huy lực lượng đồng minh trong chiến dịch ở Kosovo.
Ông nội của tướng Clark là dân nhập cư từ nước Nga và Clark thông thạo các ngoại ngữ Nga, Đức và Tây Ban Nha. Sau khi rời quân ngũ, Clark là chuyên gia phân tích các vấn đề quốc tế và quân sự kể cả làm bình luận viên cho đài CNN. Tướng Clark nổi bật lên trong cuộc tranh cử nội bộ Đảng Dân chủ năm 2004 để đề cử ứng viên Tổng thống, nhưng sau các cuộc bấu cử sơ bộ tháng 1 và 2 năm 2004, ông tuyên bố rút lui và hậu thuẫn Thượng nghị sĩ John Kerry.
Ngoài ra, còn khá nhiều ứng viên "chưa lên tiếng”. Ông Tom Vilsack chẳng hạn. Là Thống đốc bang Iowa đầu tiên của Đảng Dân chủ trong vòng 30 năm qua, ông Vilsack tái đắc cử năm 2002 và hiện là một trong số những thống đốc có ảnh hưởng lớn trên chính trường Hoa Kỳ. Một nhân vật khác là Thượng nghị sĩ Evan Bayh tái đắc cử nhiệm kỳ hai ở Thượng viện với số phiếu áp đảo sau hai nhiệm kỳ làm Thống đốc bang Indiana. Là một trong những người lãnh đạo phong trào Dân chủ ôn hòa, ông Bayh là con của Thượng nghị sĩ Birch Bayh, nhân vật từng ra tranh đua trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ năm 1976 và bị Jimmy Carter đánh bại. Một nhân vật nữa là Thượng nghị sĩ Barack Obama, ngôi sao trẻ đầy h của Đảng Dân chủ. Ông được xem là ứng viên tiềm tàng cho cả những lần tiến cử sau này và với cuộc bầu cử năm 2008, ông Obama được xem là ứng viên phó tổng thống thích hợp nhất.
ĐIỂM MẶT ANH HÀO CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA NĂM 2008
1. DICK CHENEY :
Đương kim Phó Tổng thống và là vị phó tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ, ông Cheney đã từng đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Mỹ ngày 29/6/2002 khi Tổng thống George W. Bush trải qua cuộc khám nghiệm y khoa và phải gây mê trong ngày hôm đó. Ông Cheney "làm tổng thống" từ 11 giờ 09 phút đến 13 giờ 24 phút ngày 29/6/2002 thì Tổng thống Bush "lấy lại" quyền hành. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có hai người được hành xử “quyền Tổng thống" như thế theo tu chính án 25 của Hiến pháp Mỹ. (Người kia là cựu Tổng thống Bush (cha): Khi còn là Phó Tổng thống dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, ông Bush đã làm "quyền tổng thống" từ 11 giờ 28 phút đến 19 giờ 22 phút ngày 13/7/1985 khi Tổng thống Reagan phải trải qua cuộc phẫu thuật lấy đi một khối u nhỏ trong ruột già.)
Cuộc đời chính trị của Cheney bắt đầu từ năm 1969 ở tuổi 28, dưới thời của Tổng thống Nixon, khi ông là nhân viên của Nhà Trắng. Đến thời Tổng thống Ford, Dick Cheney làm trợ lý cho Tổng thống rồi sau đó, là Chánh Văn phòng Nhà Trắng trẻ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Một bài báo đăng trên Rolling Stone mô tả vị trí của Cheney dưới thời Tổng thống Ford là "đã cùng với Donald Rumsfeld dàn xếp “một cuộc đảo chính” để Tổng thống Ford cách chức Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, bảo Phó Tổng thống Nelson Rockefeller tìm kiế một công việc khác và “bứng” ông Henry Kissinger ra khỏi chức vụ cố vấn an ninh quốc gia. Sau đó, Rumsfeld được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng và Cheney nắm chức Chánh Văn phòng Nhà Trắng.
Năm 1978, Cheney tranh cử dân biểu Mỹ đại diện bang Wyoming, đánh bại đối thủ Dân chủ là Bill Bailey. Ông Cheney tái đắc cử 5 lần, phục vụ đến năm 1989 thì nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời chính quyền của Tổng thống Bush (cha). Hai sự kiện lớn trong thời ông làm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là cuộc chiến Vùng Vịnh và cuộc tấn công vào Panama bắt giữ tướng Noriega đem về Mỹ xử án.
Trong vị trí Phó Tổng thống Hoa Kỳ kể từ năm 2001, ông Cheney được mô tả là một nhân vật năng động và đầy quyền lực. Ông được ví như là "Thủ tướng" trong nội các của Tổng thống Bush hiện nay. Theo Hiến pháp Mỹ, Phó Tổng thống đồng thời là Chủ tịch Thượng viện và trong vai trò này, ông Cheney đã 7 lần bỏ lá phiếu quyết định tại Thượng viện Mỹ khi xảy ra trường hợp số phiếu thuận và chống ngang bằng nhau (tie-breaking vote).
Về khả năng ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, một trong những lo ngại lớn nhất là vấn đề sức khỏe của Cheney với căn bệnh tim mạch từ rất lâu. Là người từng nghiện thuốc lá nặng, ông Cheney bị cơn đau tim đầu tiên (trong 4 lần tính đến 2006) hồi năm 1978, lúc mới 37 tuổi, rồi sau đó vào các năm 1984, 1988 và 2000, trong đó có lần phẫu thuật nối động mạch vành hồi năm 1988. Vào tháng 1 năm 2006, ông phải nhập viện do bị khó thở và hiện nay, thỉnh thoảng ông phải dùng gậy khi đi bộ. Bởi thế nên tạp chí Insight số ra ngày 27/2/2006 đưa tin rằng có thể ông Cheney sẽ từ chức Phó Tổng thống sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 năm 2006. Trong trường hợp đó, những nhân vật sáng giá cho chức vụ Phó tổng thống Mỹ thay thế ông Cheney được dự đoán là: George Allen, George Pakati, Condoleeza Rice, Mitt Romney, Elizabeth Dole. Và bất cứ ai được đề cử vào chức vụ này thì sẽ có nhiều lợi thế được Đảng Cộng hòa tiến cử ra tranh ghế Tổng thống năm 2008.
2. JOHN MACCAIN :
Là Thượng nghị sĩ bang Arizona từ năm 1987 đến nay. Năm 1997, tạp chí Times bầu chọn ông là một trong số 25 nhân vật ảnh hưởng lớn nhất của Mỹ. Năm 2000, John McCain ra tranh làm ứng viên Đảng Cộng hòa tranh cử tổng thống nhưng bị ứng viên George W. Bush lúc đó là Thống đốc bang Texas đánh bại trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Cộng hòa. Những tín hiệu gần đây cho thấy, ông có thể sẽ là ứng viên được Đảng Cộng hòa tiến cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 dù tuổi đã khá cao (Thượng nghị sĩ John McCain sinh năm 1936). Trong trường hợp được tiến cử, rồi đắc cử tổng thống cuối năm 2008, lúc đó ông John McCain 72 tuổi, tức lớn hơn 3 tuổi so với vị tổng thống được bầu lớn tuổi nhất trước đây là Ronald Reagan. Và nếu ông tái đắc cử một nhiệm kỳ nữa thì ông sẽ lập kỷ lục khi rời Nhà Trắng ở tuổi 80. Tuy vậy, ông John McCain vẫn chứng tỏ mình còn sức khỏe để tiếp tục phục vụ.
Cả cha và ông nội của John McCain đều là đô đốc trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Cha ông, Đô đốc John S. McCain, Jr., là Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương kể cả lực lượng Mỹ ở Việt Nam trong thời gian John McCain bị bắt làm tù binh ở Việt Nam. Cũng như cha và ông, sau khi học xong trung học, John McCain vào Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Tốt nghiệp năm 1958 (và giống cả thứ hạng tốt nghiệp thấp như ông và cha), McCain đứng hạng thứ 895 trong tổng số 900 sinh viên. Sau đó, ông tiếp tục được huấn luyện để trở thành phi công của hải quân. Cuối tháng 10 năm 1967, chiếc A-4 Skyhawk do ông lái đi oanh kích miền Bắc Việt Nam đã bị bắn hạ xuống hồ Trúc Bạch. Ông bị bắt làm tù binh và được trả tự do năm 1973. Năm 1981 ông xuất ngũ. Năm tiếp theo, ông đắc cử vào Hạ viện. Trong cuộc bầu cử vào Thượng viện cuối năm 1986, John McCain được bầu chọn thay cho Thượng nghị sĩ Barry Goldwater nghỉ hưu. Thượng nghị sĩ John McCain hiện là một trong số ba cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Việt Nam đang phục vụ tại Thượng viện Hoa Kỳ. Hai người kia là Thượng nghị sĩ John Kerry bang Massachusetts và Thượng nghị sĩ Chuck Hagel bang Nebraska.
3. RUDOLPH GIULIANI :
Là Thị trưởng New York từ 1994 đến 2001, ông Giuliani nổi bật trên chính trường nước Mỹ sau sự kiện khủng bố 11/9/2001 trong vai trò điều phối các hoạt động sau thảm họa (ông được tạp chí Times bầu chọn là nhân vật của năm 2001). Rudolph Giuliani được xem là ứng viên tiềm tàng của Đảng Cộng hòa trong kỳ tranh cử tổng thống năm 2008 khi tên tuổi ông luôn nằm trong tốp dẫn đầu trong những cuộc thăm dò dư luận những tháng đầu năm 2006.
Ông Giuliani sinh trưởng tại New York, có ông bà là dân nhập cư từ Ý. Tốt nghiệp đại học luật năm 1968, Rudolph Giuliani hoạt động trong ngành tư pháp cho đến khi Tổng thống Reagan mãn nhiệm đầu năm 1989. Ông đắc cử Thị trưởng New York trong cuộc bầu cử năm 1993 với số phiếu sít sao là nhờ vào cương lĩnh chống tội phạm, ổn định trật tư xã hội. Tỉ lệ tội phạm ở New York giảm là yếu tố giúp ông tái đắc cử dễ dàng trong nhiệm kỳ kế tiếp. Tháng 4/1999, ông thành lập Ủy ban thăm dò, chuẩn bị cho việc ứng cử vào Thượng viện Mỹ năm 2000, nhưng trước cuộc họp sơ bộ của Đảng cộng hòa vào tháng 5 năm 1999, ông rút tên do bị ung thư tuyến tiền liệt. Trong kỳ tranh cử đó, ứng viên của Đảng Cộng hòa là dân biểu Lazio đã thất bại trước cựu Đệ nhất Phu nhân Hillary Clinton.
4. CONDOLEEZZA RICE:Ngoại trưởng thứ 66 và đương nhiệm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Bà là phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên, người Mỹ gốc Phi thứ nhì (sau cựu Ngoại trưởng Powell) và là người phụ nữ thứ hai (sau bà Madeleine Albright) nắm chức ngoại trưởng nước Mỹ. Bà Rice là Cố vấn An ninh Quốc gia trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống George W. Bush (2001-2005). Trước khi tham gia chính quyền của Tổng thống Bush, Condoleezza Rice là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học danh tiếng Stanford. Bà cũng từng là cố vấn về các vấn đề Đông Âu và Liên Xô trong giai đoạn Liên bang Xô viết tan rã vào thời của Tổng thống Bush (cha).
Vai trò của bà Rice trong chính quyền, đặc biệt trong giai đoạn Hoa Kỳ chủ xướng cuộc chiến chống khủng bố quốc tế sau sự cố 11/9/2001, khiến bà trở thành một nhân vật gây nhiều tranh cãi cho dù bà Rice nằm hàng đầu trong danh sách những viên chức công quyền được công chúng chấp nhận và yêu thích nhất. Condoleezza Rice được tạp chí Forbes bầu chọn là người phụ nữ quyền lực nhất thế giới trong hai năm liền 2004 và 2005. Tạp chí này vào tháng 6 năm 2006 xếp bà là người phụ nữ quyền lực thứ nhì thế giới sau nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel. Bà Rice cũng là một trong hai người Mỹ gốc Phi nhiều lần được tạp chí Times bầu chọn vào số 100 nhân vật ảnh hưởng nhất thế giới. Những “vị thế" đó bắt nguồn từ việc bà Rice - trong chức vụ ngoại trưởng - là nhân vật xếp hàng thứ 4 trong danh sách những người kế nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ trong các trường hợp bất trắc. Điều này cũng cho thấy triển vọng tương lai mà những người hậu thuẫn Condoleezza Rice vào chức vụ Phó Tổng thống hay thậm chí, Tổng thống Hoa Kỳ, là có cơ sở.
Một trong những nguyên nhân mà bà Condoleezza Rice được bầu chọn là người phụ nữ quyền lực nhất thế giới là do, ngoài quyền lực của một Ngoại trưởng Hoa Kỳ, với chức danh này, bà là nhân vật xếp hàng thứ tư trong danh sách những người kế nhiệm chức vụ tổng thống Hoa Kỳ trong các trường hợp bất trắc. Đây là vị thế cao nhất dành cho một phụ nữ Mỹ. Trước đó, Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright không thể nằm trong danh sách kế nhiệm tổng thống vì bà là người nhập tịch Mỹ, chứ không phải sinh trưởng tại Mỹ như bà Rice (Điều 2 Hiến pháp Mỹ quy định : ứng cử viên tổng thống phải là công dân Hoa Kỳ được sinh ra trên đất nước này, tuổi từ 35 trở lên và có ít nhất 14 năm cư trú trên lãnh thổ Hoa Kỳ). Đạo luật kế vị tổng thống năm 1947 đã ghi rõ danh sách những người kế vị tổng thống, theo thứ tự, gồm 17 viên chức như sau :
Phó Tổng thống.
Chủ tịch Hạ Viện.
Chủ tịch tạm thời Thượng viện.
Ngoại trưởng.
Bộ trưởng Tài chính.
Bộ trưởng Quốc phòng.
Bộ trưởng Tư pháp.
Bộ trưởng Nội vụ.
Bộ trưởng Nông nghiệp.
Bộ trưởng Thương mại.
Bộ trưởng Lao động.
Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ con người.
Bộ trưởng Nhà ở và Phát triển đô thị.
Bộ trưởng Giao thông.
Bộ trưởng Năng lượng.
Bộ trưởng Giáo dục.
Bộ trưởng Các vấn đề Cựu chiến binh.
Thời thơ ấu ở bang Alabama, cô bé Rice cũng phải đối diện với những phức tạp trong vấn đề kỳ thị sắc tộc ở địa phương. Đến tuổi 15, Rice định hướng cho mình sẽ trở thành một tay chơi dương cầm. Nhưng khi gia đình chuyển đến sinh sống ở Denver, Colorado năm 1967 do cha cô nhận chức vụ phụ tá Khoa trưởng Đại học Denver, Rice theo học trường này và tỏ ra thích thú những bài giảng về chính trị quốc tế do giáo sư Korbel - thân phụ của cựu Ngoại trưởng Albright - phụ trách, nhất là về Liên Xô và các mối bang giao quốc tế (Vì thế bà Rice rất am tường về Liên Xô. Trong một lần gặp gỡ lãnh tụ Xô viết Mikhail Gorbachev, Tổng thống Bush (cha) đã giới thiệu bà là "người đã nói cho tôi biết những gì về Liên bang Xô viết"). Tốt nghiệp Đại học Denver chuyên ngành khoa học chính trị năm 1974 lúc mới 19 tuổi, Rice tiếp tục chuyên ngành này tại Đại học Notre Dame và nhận bằng thạc sĩ một năm sau đó. Năm 26 tuổi, Condoleezza Rice nhận bằng tiến sĩ khoa học chính trị tại Denver. Lúc đó, Rice đã thông thạo tiếng Nga cùng một số ngoại ngữ khác như tiếng Đức, Pháp và Tây Ban Nha. Sau khi tốt nghiệp năm 1981, bà Rice giảng dạy ở Đại học Stanford và từ đó đến nay, ngoài cương vị ở hội đồng quản trị một số công ty, tập đoàn, bà làm việc tại hai nơi là Nhà Trắng và Stanford.
Trong vai trò Ngoại trưởng nước Mỹ, chỉ trong năm đầu tiên, bà Rice đã đi nhiều hơn cả 5 năm của vị tiền nhiệm - Ngoại trưởng Powell. Theo thống kê, tính đến cuối năm 2005, bà đã du hành 384.000 km, thăm viếng 49 quốc gia và ngồi trên máy bay hơn 500 giờ.
Bà Rice l Đảng Dân chủ cho đến năm 1982 khi bà thay đổi nhãn quan chính trị, chống lại chính sách đối ngoại của cựu Tổng thống Carter. Hiện nay, bà Rice vẫn là một phụ nữ độc thân.
5. NEWT GINGRICH :
Là chính khách Mỹ nổi danh trong vai trò Chủ tịch Hạ viện từ 1995 đến 1999. Năm 1995, ông được tạp chí Times bầu chọn là nhân vật của năm do vai trò lãnh đạo "cuộc cách mạng" của Đảng Cộng hòa tại Quốc hội Mỹ, chấm dứt 40 năm dài phe Dân chủ chiếm đa số ghế tại Hạ viện.
Gingrich nhận bằng Tiến sĩ Lịch sử châu Âu hiện đại của Đại học Tulane, New Orleans năm 1971 rồi giảng dạy môn sử tại Đại học West Georgia đến năm 1978. Trong thời gian này, ông thử vận may trên chính trường với việc ra tranh cử vào Hạ viện Mỹ năm 1974 và 1976 nhưng cả hai lần đều thất bại. Đây là những năm khó khăn cho đảng viên Cộng hòa sau vụ tai tiếng Watergate. Năm 1978, Gingrich ra ứng cử lần thứ ba và chiến thắng, rồi sau đó tiếp tục đắc cử 10 nhiệm kỳ, phục vụ tại Hạ viện Mỹ từ 1979 đến 1999. Năm 1989, thủ lĩnh phe Cộng hòa thiểu số tại Hạ viện là Dick Cheney được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Newt Gingrich được bầu chọn thay cho Cheney. Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 1994, phe Cộng hòa thắng thế, chiếm đa số ghế tại Hạ viện và Gingrich nắm chức Chủ tịch Hạ viện.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1998, những người Cộng hòa hy vọng sẽ giành chiến thắng và Gingrich dự báo phe Cộng hòa sẽ có thêm 3 ghế. Thế nhưng, kết quả ngược lại, phe Cộng hòa mất 5 ghế, một kết quả thật tồi tệ mà nguyên nhân là do ông Gingrich tập trung toàn bộ mũi dùi vào việc phế truất Tổng thống Clinton qua vụ tai tiếng với cô nhân viên thực tập Monica Lewinsky. Giữa những lời đe đoạ "nổi loạn" trong nội bộ đảng, ông Gingrich chức Chủ tịch Hạ viện và không ra tái ứng cử nhiệm kỳ thứ 11. Sau khi rời Hạ viện, ông Gingrich vẫn tiếp tục tranh luận những vấn đề liên quan đến chính sách công và chính trị quốc gia qua việc làm bình luận viên hoặc xuất hiện trên các show truyền hình. Tháng 1.2005 ông xuất bản cuốn Winning the Future : A 21st Century Contract with America rồi tiến hành nhiều chuyến du hành tới Iowa và New Hampshire để thảo luận về cuốn sách, một động thái mà nhiều nhà phân tích cho rằng ông muốn đánh động ý định ra tranh cử tổng thống năm 2008.
6. JEB BUSH :
Đương kim Thống đốc bang Florida, em ruột Tổng thống George W. Bush và là con trai thứ của cựu Tổng thống Bush (cha). Năm 17 tuổi, trong một chương trình trao đổi học sinh, Jeb Bush được gửi đến Leon, Mexico và trong một cuộc đua xe mô tô, anh gặp Columba Garnica Gallo, một cô gái địa phương mà sau này anh cưới làm vợ. Và cũng nhờ vậy mà Jeb Bush rất thông thạo tiếng Tây Ban Nha. Trong thời gian làm thống đốc bang Florida, ông thường đọc diễn văn bằng cả Anh ngữ lẫn tiếng Tây Ban Nha vì rất đông cư dân Florida là người gốc Mỹ La tinh. Jeb Bush học rất giỏi, tốt nghiệp Đại học Austin chuyên ngành nghiên cứu Mỹ La tinh năm 1973 lúc mới 20 tuổi. Sau khi tốt nghiệp sớm, Jeb Bush cưới ngay Gallo, cô gái mà anh gọi là "người phụ nữ đầu tiên và duy nhất mà anh chưa một lần hò hẹn."
Jeb Bush làm việc cho Texas Commerce Bank đến năm 1977 thì chuyển gia đình đến Caracas, thủ đô của Venezuela để mở rộng hoạt động của ngân hàng. Ông trở về nước tham gia vận động tranh cử cho cha mình năm 1980. Tiếp đó, ông chuyển gia đình đến bang Florida và kinh doanh thành công trong lĩnh vực bất động sản. Nam 1994, Jeb Bush tranh cử thống đốc bang Florida và thất bại nhưng đến năm 1998 thì ông đánh bại đối thủ Dân chủ là ứng viên Mackay để trở thành Thống đốc bang Florida. Cùng lúc đó, người anh trai George W. Bush tái đắc cử vẻ vang nhiệm kỳ hai Thống đốc bang Texas. Anh nhà Bush trở thành những anh em ruột đầu tiên cùng nắm quyền lãnh đạo hai tiểu bang cùng một thời điểm kể từ khi anh em nhà Rockefeller là Nelson và Winthrop cùng lúc làm Thống đốc New York và Arkansas từ 1967 đến 1971.
Jeb Bush không thể ra tranh cử Thống đốc bang Florida nhiệm kỳ thứ ba. Do vậy, một số người dự đoán là ông sẽ tranh ghế thượng nghị sĩ với Thượng nghị sĩ Dân chủ Bill Nelson trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2006, nhưng nay thì đã rõ ràng là không có trường hợp đó vì Đảng Cộng hòa đã tiến cử Katherine đối đầu với Nelson. Thế nên có những đồn đoán là có thể Jeb Bush sẽ ra tranh cử tổng thống năm 2008, cho dù vào cuối năm 2004, Jeb Bush đã một lần bác bỏ tin tức đó. Thế nhưng, vào rằng em trai mình sẽ là "một tổng thống vĩ đại”.
7. BILL FRIST :
Là thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện Mỹ, Thượng nghị sĩ Bill Frist xuất thân là một bác sĩ phẫu thuật tim phổi. Năm 1972, lúc mới 20 tuổi và còn đang nghiên cứu về chính sách chăm sóc y tế tại Đại học Princeton, Frist xin thực tập vào mùa hè ở văn phòng của Dân biểu Joe Evins của bang Tennessee. Ông này khuyên Frist là nếu muốn theo nghiệp chính trị thì trước hết hãy theo học một chuyên ngành khác với chính trị học. Frist bèn theo học Đại học Y Harvard và nhận bằng tiến sĩ y khoa hạng danh dự năm 1978. Ông làm bác sĩ nội trú và tiếp tục nghiên cứu về phẫu thuật tim mạch. Năm 1989, ông thành lập Trung tâm phẫu thuật lắp ghép Vanderbilt. Frist đã tiến hành hơn 150 ca phẫu thuật tim và phổi.
Mãi đến năm 36 tuổi ông mới đi bầu lần đầu tiên. Hai năm sau, năm 1990, ông tìm gặp cựu thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện Howard Baker và tham vấn ông này về khả năng tham gia công quyền. Baker khuyên Frist nên chuẩn bị để theo đuổi việc tranh ghế vào Thượng viện Mỹ năm 1994. Frist bắt đầu chuẩn bị tìm kiếm hậu thuẫn bằng việc tham gia các phong trào các ủy ban của Đảng Cộng hòa liên quan đến y tế, tham gia cuộc vận động tranh cử của liên danh Bush-Quayle năm 1992. Trong cuộc bầu cử năm 1994, Frist đánh bại Thượng nghị sĩ Sasser và trở thành vị bác sĩ đầu tiên kể từ năm 1928 đắc cử Thượng nghị sĩ. Ông dễ dàng tái đắc cử lần hai năm 2000.
Thượng nghị sĩ Frist nổi bật năm 1998 khi hai nhân viên cảnh sát bảo vệ Quốc hội bị Weston bắn hạ bên ngoài Tòa nhà Quốc hội. Là bác sĩ có mặt sớm nhất, Frist đã nhanh chóng có biện pháp cứu chữa cho Weston, dù không cứu mạng được hai nhân viên cảnh sát. Ông Frist cũng là người đại diện cho Quốc hội trong thời kỳ nước Mỹ bị tấn công bằng vi-rút gây bệnh anthrax sau sự kiện khủng bố 11.9.2001. Năm 2003, Thượng nghị sĩ Trent Lott từ chức thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện thì Bill Frist được các đồng viện Cộng hòa nhất trí bầu chọn thay cho ông Lott. Thượng nghị sĩ Frist trở thành vị thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện trẻ thứ hai trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong cương vị này, những người ủng hộ ông cho rằng, cũng giống như trường hợp của Thượng nghị sĩ Bob Dole trước đây, Thượng nghị sĩ Bill Frist sẽ được Đảng Cộng hòa tiến cử ra tranh ghế tổng thống năm 2008 cho dù một số đối thủ chê ông là thiếu khả năng điều hành cần thiết để trở thành một ứng viên mạnh.
8. THOMAS RIDGE :
Là chính khách nổi bật trên chính trường Mỹ sau sự kiện khủng bố 11.9.2001, ông Ridge từng là dân biểu Hạ viện Mỹ (1983-1995), Thống đốc bang Pennsylvania (1995-2001), Trợ lý tổng thống về an ninh nội địa (2001-2003) rồi trở thành Bộ trưởng An ninh Nội địa đầu tiên của nước Mỹ (2003-2005). Tính đến năm 2005, ông là nhân vật chưa từng bị thất bại trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ công quyền và là người từng có tên trong danh sách ông Bush chọn làm ứng viên phó tổng thống đứng cùng liên danh với ông (nhưng sau đó, ông Bu đã chọn Cheney).
9. MITT ROMNEY :
Thống đốc thứ 70 của bang Massachusetts, đang phục vụ nhiệm kỳ đầu tiên đến năm 2007 và ông đã tuyên bố không ra tái tranh cử chức thống đốc, nhưng lại thường được xem là ứng viên tiềm năng của Đảng Cộng hòa tranh ghế tổng thống năm 2008. Cha của Romney là ông George W. Romney, cựu Thống đốc bang Michigan và từng là ứng cử viên tổng thống.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật Harvard và đồng thời nhận bằng MBA. của Harvard Business School năm 1975, Romney điều hành thành công công ty tư vấn về quản lý Bain&Company mà hiện nay có đến 32 văn phòng với hơn 2 .400 nhân viên trên 20 quốc gia. Năm 1984, Romney đồng thành lập Bain Capital, một trong những công ty đầu tư thành công nhất của Hoa Kỳ. Một trong số nhiều thành công đáng nhớ của Romney được cả nước thừa nhận là khi ông điều hành Thế vận hội mùa Đông 2002 ở Salt Lake City. Trước đó, Ủy ban điều hành Olympic ở Salt Lake City bị cáo giác hối lộ trong khi ngân sách thiếu hụt khiến cho cả Chủ tịch và Phó Chủ tịch điều hành đều buộc phải từ chức. Romney được cử làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Olympic này. Ông đã tổ chức một Olympic an toàn sau sự cố khủng bố 11.9.2001 và mang lại lợi nhuận 100 triệu USD. Romney đóng góp 1 triệu USD cùng tiền lương ba năm làm việc cho Olympic cho tổ chức từ thiện. Những đối thủ của Romney thường chỉ trích ông là thiếu kinh nghiệm điều hành chính quyền.
10. RICK SANTORUM :
Thượng nghị sĩ bang Pennsylvania, là một khuôn mặt trẻ trên chính trường Mỹ. Santorum sinh năm 1958, tốt nghiệp Thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA.) Đại học Pittsburgh năm 1981 và Đại học Luật Dickinson năm 1986. Ông hành nghề luật sư cho đến năm 1990, lúc 32 tuổi, thì đắc cử vào Hạ viện Mỹ. Phục vụ tại Hạ viện 2 nhiệm kỳ thì Santorum được bầu vào Thượng viện năm 1994 sau khi đánh bại đối thủ Đảng Dân chủ là Thượng nghị sĩ Wofford, người lớn hơn ông 32 tuổi.
Những thăm dò dư luận trong mùa hè 2006 cho thấy, có thể Santorum gặp khó khăn khi tái tranh cử nhiệm kỳ 3 vào Thượng viện tháng 11 năm 2006 mà đối thủ là ứng viên Đảng Dân chủ Bob Casey, Jr., con trai của cựu thống đốc Pennsylvania. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ The Washington Post hồi tháng 7 năm 2005, ông Santorum tuyên bố không có ý định tranh cử tổng thống mà theo ông, trở ngại chính là vì ông có đến 6 đứa con tuổi từ 4 đến 14 mà ông nghĩ là không thể chăm sóc đàng hoàng nếu phải nhảy vào cuộc vận động tranh cử kéo dài khoảng 2 năm. Nhiều người cho rằng, như thế là ông Santorum sẽ không ra tranh cử tổng thống năm 2008, thế nhưng sau đó, Santorum lại nói là cánh cửa tự nó khép lại, chứ không khóa, không chốt gì cả.
11. GEORGE ALLEN :
Sinh năm 1952, hiện là Thượng nghị sĩ đại diện bang Virginia. Tốt nghiệp Đại học Luật Virginia năm 1977, hai năm sau, Allen tranh cử Hạ viện bang Virginia lần đầu nhưng thất cử (đứng hạng 3 trong số 4 ứng viên). Lần kế vào năm 1981, ông thắng cử và làm việc tại Hạ viện bang Virginia cho đến năm 1991 thì đắc cử Dân biểu Hạ viện Mỹ nhưng phục vụ không lâu vì hai năm sau, Allen lại chiến thắng trong cuộc tranh cử chức thống đốc bang Virginia. Ông là Thống đốc thứ 67 của bang Virginia, phục vụ từ 1994 đến 1998.
Trong cuộc bầu cử vào Thượng viện Mỹ năm 2000, ông Allen đã đánh bại Thượng nghị sĩ Dân chủ Chuck Robb - con rể cố Tổng thống Lyndon Johnson. Ông là đảng viên Cộng hòa duy nhất chiến thắng một Thượng nghị sĩ Dân chủ đương nhiệm trong năm đó. Về khả năng tranh cử tổng th theo một nghiên cứu nội bộ Đảng Cộng hòa do National Journal tiến hành vào tháng 5 năm 2006, ông Allen đứng hạng nhì sau Thượng nghị sĩ John McCain trong danh sách những người được tiến cử ra tranh ghế Tổng thống Mỹ năm 2008.
Trên đây là những phân tích về các khả năng tranh cử tổng thống nước Mỹ năm 2008 của các nhân vật thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Nhưng theo nhận định của các hãng thông tấn và các nhà bình luận chính trị hàng đầu của Mỹ, khả năng đắc cử tổng thống của Hillarry Clinton là rất cao. Những hoạt động chính trị của bà Hillary cho các nhà quan sát những nhận định tích cực về khả năng tranh cử tổng thống của bà, và vấn đề này đang trở thành vấn đề thời sự hàng đầu ở Mỹ và của cả thế giới. Nước Mỹ cũng như thế giới sẽ thay đổi nhiều nếu có một tổng thống như Hillary Clinton. Hình ảnh và quan hệ quốc tế của cường quốc hàng đầu thế giới có sức ảnh hưởng lớn như Mỹ tùy thuộc rất nhiều vào vị tổng thống sau này. Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà phân tích chính trị nhận xét, điều cốt lõi là với những tín hiệu chống lại khuynh hướng tự do, thiên về phe bảo thủ của đa số cử tri Mỹ thể hiện gần đây, không biết Hillary Clinton có thể chiến thắng trong cuộc đua lịch sử này để quay lại Nhà Trắng với cương vị là bà chủ của Tòa Bạch Ốc - nữ tổng thống đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ?
HILLARY RODHAM CLINTON
- Sinh ngày 26/10/1947 tại Chicago, bang Illinois. Tốt nghiệp trung học ở trường Maine Township High School South và được trao giải nhất về khoa học xã hội của trường khi đang học năm cuối.
- 1964 : Vận động tranh cử Tổng thống cho ứng viên Đảng Cộng hòa Barry Goldwater.
- 1965 : Theo học Đại học Wellesley, bang Massachusetts, tích cực hoạt động cho Đảng Cộng hòa. Chịu ảnh hưởng của Giáo sư Alan Schechter nên nhãn quan chính trị chuyển qua trào lưu tự do và gia nhập Đảng Dân chủ.
- 1968 : Cái chết của Mục sư Martin Luther King, Jr. - nhà lãnh đạo Phong trào Dân quyền nổi tiếng - tác động mạnh đến cô sinh viên Hillary, vốn từng có dịp gặp gỡ và nghe ông diễn thuyết vào năm 1962.
- 1969 : Tốt nghiệp WellesleyCollege chuyên ngành Khoa học chính trị. Là sinh viên đầu tiên trong lịch sử của Đại học Wellesley được chọn để đọc diễn văn tại lễ tốt nghiệp.
- 1969 : Theo học trường luật nổi tiếng YaleLawSchool, là thành viên Ban biên tập tạp chí Yale Review of Law and Social Action.
- 1970 : Làm việc tại Quỹ Bảo vệ Trẻ em ở Cambridge, Massachusetts vào mùa hè.
- 1972 : Vận động tranh cử Tổng thống cho ứng viên Đảng Dân chủ George McGovern.
- 1973 : Tốt nghiệp YaleLawSchool. Trong suốt những năm ở trường luật, Hillary làm việc thiện nguyện cho Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Yale, nghiên cứu các trường hợp lạm dụng trẻ em ở Bệnh viện New Haven và làm các dịch vụ pháp lý miễn phí cho dân nghèo. Cũng trong năm 1973, Hillary tham gia Ban cố vấn Ủy ban Tư pháp Hạ viện, chuẩn bị hồ sơ cho vụ án phế truất Tổng thống Nixon liên quan đến vụ tai tiếng Watergate.
- 1974 : Là một trong hai giảng viên nữ của Trường Luật Fayetteville, Đại học Arkansas, nơi người bạn trai và là bạn học cũ ở Yale Law School - Bill Clinton - cùng dạy ở đó.
- 1975 : Đám cưới Hillary và Clinton. Cả hai dời về sống ở thành phố Little Rock, bang Arkansas.
- 1976: Làm việc cho Hãng Luật Rose.
- 1978 : Bill Clinton đắc cử Thống đốc bang Arkansas. Hillary trở thành Đệ nhất Phu nhân Arkansas trong vòng 12 năm - có gián đoạn 2 năm do Bill Clinton thất cử năm 1980 rồi sau đó tái đắc cử 1982. Cùng năm 1982, Hillary bắt đầu sử dụng tên đầy đủ là Hillary Rodham Clinton.
- 1980 : Hạ sinh Chelsea, ái nữ duy nhất của Hillary và Clinton.
- 1983 : Được bầu chọn là Người Phụ nữ Arkansas của năm 1983.
- 1984 : Được bầu chọn là Người Mẹ Arkansas của năm 1984.
- 1988 : Tạp chí National Law Journal bầu chọn Hillary là một trong số 100 luật sư có ảnh hưởng nhất ở Mỹ. Được tạp chí này tái bầu chọn vào năm 1991.
- 1992 : Bill Clinton đắc cử Mỹ, Hillary trở thành Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ kể từ tháng 1 năm 1993 và kéo dài trong hai nhiệm kỳ Tổng thống của ông Clinton. Là Đệ nhất Phu nhân đầu tiên của Mỹ có học vị sau đại học. Trong cương vị này, Hillary nổi tiếng với lập trường ủng hộ quyền phụ nữ trên khắp thế giới cũng như những cống hiến của bà cho các vấn đề trẻ em.
- 1997 : Hillary khởi xướng Chương trình Bảo hiểm Y tế Trẻ em.
- 2000 : Đắc cử Thượng nghị sĩ bang New York với nhiệm kỳ bắt đầu từ 3.1.2001. Là Đệ nhất Phu nhân đầu tiên được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ.
- 2006: Tái tranh cử Thượng nghị sĩ bang New York.