BILL CLINTON

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bill Clinton

❊ ❊ ❊

Không thể không chú ý đến Bill Clinton vào mùa thu năm 1970. Anh ấy đến Trường Luật Yale, tròng giống như một tên cướp biển Viking hơn là một sinh viên được học bổng Rhodes quay về nước sau hai năm học tập ở Trường Oxford. Dáng cao và đẹp trai ẩn giấu đằng sau bộ râu nâu đó và mái tóc bờm quăn, dường như ở anh luôn tỏa ra một bầu nhiệt huyết. Lần đầu tiên khi tôi thấy anh ở Phòng Sinh viên của trường luật, anh đang nói chuyện trước một đám khán giả sinh viên đang tỏ ra rất chăm chú, say mê. Khi tôi đi ngang qua, tôi đã nghe anh ấy"... và không chỉ chừng đó, chúng tôi còn trồng được các quả dưa hấu lớn nhất thế giới!". Tôi quay sang hỏi một người bạn: "Ai đấy?". Anh bạn nói: “Ồ, Bill Clinton đó. Anh ta đến từ Arkansas và luôn say mê kể về nó".

Chúng tôi thỉnh thoảng thấy nhau quanh khu đại học nhưng chúng tôi thật sự chưa gặp gỡ nhau cho đến một buổi tối kia vào mùa xuân năm sau tại thư viện của Đại học Luật Yale. Tôi đang học trong thư viện và Bill đang đứng bên ngoài phòng thư viện trò chuyện với một sinh viên khác là Jeff Gleckel, người đang cố thuyết phục Bill viết bài cho Yale Law Journal. Tôi để ý là anh ấy cứ nhìn tôi đăm đăm. Sau khi thấy anh ấy nhìn mình lâu quá, tôi đứng lên đi ra khỏi bàn, tiến về phía anh và nói "Nếu anh cứ tiếp tục nhìn tôi như thế và tôi cũng nhìn anh như vậy, tốt hơn là chúng ta hãy giới thiệu về nhau. Tôi là Hillary Rodham". Thế đấy. Còn theo lời kể của Bill, lúc ấy thậm chí anh ấy còn không nhớ nổi tên của mình nữa.

Chúng tôi không trò chuyện lại với nhau cho đến ngày cuối cùng của khóa học vào mùa xuân 1971. Khi tình cờ ra khỏi lớp học về Dân quyền và Chính trị của Giáo sư Thomas Emerson cùng một lúc, Bill hỏi tôi định đi đâu. Tôi nói đang trên đường đến phòng giáo vụ đăng ký học các lớp của học kỳ sau. Anh ấy nói anh cũng đang đến đấy. Khi chúng tôi đi trên đường, anh ấy khen chiếc váy hoa của tôi. Khi tôi bảo với anh là mẹ mình đã may nó thì anh hỏi thăm về gia đình và nơi tôi lớn lên. Chúng tôi đứng xếp hàng đợi cho đến lượt được gặp cô phụ trách đào tạo. Cô ấy nhìn lên và nói: "Bill, anh đang làm gì ở đây? Anh đã đăng ký rồi mà!" Tôi bật cười khi anh ấy thú nhận là anh chỉ kiếm cớ đi theo tôi và chúng tôi đã có một chuyến đi bộ dài. Đấy cũng chính là lần hò hẹn đầu tiên của chúng tôi.

Cả hai chúng tôi đều muốn xem buổi triển lãm của Mark Rothko tại Viện Triển lãm Nghệ thuYale nhưng do một tranh chấp lao động, một số tòa nhà đại học bao gồm cả Viện bảo tàng bị đóng cửa. Khi Bill và tôi đi ngang qua, anh ấy quyết định là anh có thể đưa chúng tôi vào trong đấy nếu chúng tôi đề nghị đi dọn rác ở sân trước tòa nhà triển lãm. Ngắm nhìn anh trình bày ý định của mình, đấy là lần đầu tiên tôi cảm nhận được tính thuyết phục trong hành động của Bill. Chỉ có mình chúng tôi trong Viện bảo tàng. Chúng tôi đi lang thang qua các phòng triển lãm nói chuyện về Rothko và nghệ thuật thế kỷ 20. Thú thực là tôi bị ngạc nhiên về kiến thức và sự quan tâm của anh về các chủ đề mà thoạt đầu rất là bất thường đối với một gã Viking đến từ vùng Arkansas. Chúng tôi kết thúc chuyến tham quan tại sân của Viện bảo tàng. Tại đó tôi ngồi trong lòng bức tượng Draped Seated Woman của Henry Moore và nói chuyện với Bill cho đến tối. Tôi mời Bill đến dự buổi tiệc mà người bạn cùng phòng Kwan Kwan Tan và tôi dự định tổ chức trong ký túc xá vào tối đó nhân dịp kết thúc khóa học. Kwan Kwan, một người gốc Hoa từ Miến Điện đến học tại Trường Yale để theo đuổi ngành Luật, là một bạn đồng hành vui vẻ và có thể biểu diễn rất đẹp các vũ điệu Miến Điện. Cô ấy và chồng, Bill Wang, cũng là một sinh viên, đến nay vẫn là những người bạn của chúng tôi.

Bill đến dự bữa tiệc của chúng tôi nhưng hầu như không nói một lời. Vì tôi chưa biết rõ anh ấy lắm nên tôi nghĩ chắc là anh ấy mắc cỡ, có lẽ là không được hòa đồng lắm hoặc đại loại là anh ấy không thoải mái. Tôi cũng không kỳ vọng nhiều là chúng tôi sẽ thành một đôi. Ngoài ra lúc đó, tôi đã có một người bạn trai và chúng tôi đã lập kế hoạch cuối tuần đi chơi bên ngoài thành phố. Khi tôi quay về Trường Yale vào cuối ngày Chủ nhật, Bill gọi điện và nghe tôi ho khục khặc do bị cảm nặng.

"Giọng em có vẻ tệ lắm", anh ấy nói. Khoảng ba mươi phút sau, Bill đã gõ cửa phòng tôi, mang đến xúp gà và nước cam. Anh ấy vào phòng và bắt đầu nói. có thể chuyện trò đủ thứ, từ chính trị châu Phi cho đến nhạc đồng quê và nhạc miền Viễn Tây. Tôi hỏi là tại sao anh lại rất lặng lẽ trong bữa tiệc trước.

"Bởi vì anh muốn quan sát để hiểu rõ hơn về em và những người bạn của em", anh ấy trả lời.

Tôi bắt đầu nhận ra rằng chàng trai trẻ từ vùng Arkansas này phức tạp nhiều hơn là ấn tượng ban đầu trong tôi. Kể từ ngày ấy anh có thể làm tôi ngạc nhiên với nhiều liên kết mà anh thêu dệt giữa các ý tưởng và câu từ, cách thức mà anh làm, tất cả chúng nghe như âm nhạc. Tôi còn yêu cả cách suy nghĩ và quan sát của anh. Một trong nhưng điều đầu tiên mà tôi chú ý về Bill là hình dáng bàn tay của anh. Cổ tay nhỏ, những ngón tay thon dài và khéo léo giống như bàn tay của một nghệ sĩ dương cầm hoặc của một bác sĩ phẫu thuật. Lần đầu tiên khi chúng tôi gặp nhau thời còn sinh viên, tôi thích được ngắm nhìn anh giở từng trang sách. Giờ đây, đôi bàn tay ấy đã có những dấu hiệu của tuổi tác sau hàng ngàn cái bắt tay, đánh gôn và ký không biết bao nhiêu chữ ký. Đôi bàn tay, giống như chủ nhân của nó, dãi dầm sương gió nhưng vẫn cuốn hút, kiên trì và đầy tình cảm.

Ngay sau hôm Bill đến "cứu trợ" tôi bằng bát xúp gà và nước cam ép, chúng tôi đã không thể nào xa rời nhau nữa. Trong những lúc không phải dùi mài đèn sách cho các bài kiểm tra cuối khóa và hoàn tất chuyên đề của tôi về trẻ em, chúng tôi đã dành nhiều tiếng đồng hồ lái xe vòng vòng trên chiếc Opel mui trần màu đỏ cam - một trong những chiếc ô tô xấu xí nhất từng được chế tạo - hoặc lang thang bên các nhà nghỉ mát ở Long Island Sound gần vùng Milford, Connecticut, nơi anh ấy ở cùng với các người bạn cùng phòng Doug Eakeley, Don Pogue và Bill Coleman. Vào một bữa tiệc tối, Bill và tôi đứng trong bếp trò chuyện về những dự định của mình sau khi tốt nghiệp. Tôi vẫn chưa biết chắc mình sẽ ở đâu và làm gì bởi vì mối quan tâm của tôi về vấn đề giúp đỡ trẻ em vàân quyền lại không gợi ra một phương hướng cụ thể nào cả. Bill lại hoàn toàn chắc chắn: anh sẽ về quê nhà ở Arkansas và làm việc cho một cơ quan chính phủ. Nhiều bạn đồng lớp của tôi nói rằng họ muốn theo đuổi con đường công chức nhưng Bill là người duy nhất biết chắc sẽ thật sự đi theo sự nghiệp đó.

Tôi kể với Bill về kế hoạch hè của mình: làm một chân thư ký tại Treuhaft cho Công ty Walker and Burnstein, một hãng luật nhỏ ở Oakland, California. Thế là anh ấy tuyên bố anh muốn đi cùng tôi đến California. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi biết là anh đã ký hợp đồng làm việc trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Thượng nghị sĩ George McGovern và tôi cũng biết rằng giám đốc chiến dịch Gary Hart đã đề nghị Bill tổ chức chiến dịch ở vùng phía Nam cho McGovern. Viễn cảnh đi từ một tiểu bang miền Nam này đến một bang miền Nam khác để thuyết phục các đảng viên Dân chủ ủng hộ McGovern và chống lại chính sách của Nixon ở Việt Nam đã làm cho Bill rất hồ hởi. Mặc dù Bill đã làm việc ở Arkansas trong chiến dịch bầu cử cho Thượng nghị sĩ William Fulbright và các chính khách khác, cho Joe Dufiey và Joe Lieberman ở Connecticut nhưng anh chưa bao giờ có cơ hội tham gia trong sân chơi chính của một cuộc vận động tranh cử tổng thống.

Tôi im lặng cố hiểu thông tin anh vừa nói. Tôi thật sự xúc động. Tôi hỏi, "Tại sao anh bỏ qua cơ hội làm điều anh yêu thích để đi theo em đến California ?”

"Vì người anh yêu, đó là lý do", anh đáp.

Anh ấy đã quyết định, anh nói với tôi rằng số phận chúng tôi là gắn với nhau và anh ấy không muốn để tôi ra đi ngay sau khi anh ấy tìm thấy một nửa của mình.

Bill và tôi ở chung trong một căn hộ nhỏ gần một công viên lớn, không xa khuôn viên Trường Đại học Berkeley, California, nơi có Phong trào Tiếng nói Tự do khởi xướng từ năm 1964. Tôi dành hầu hết thời gian làm việc cho việc nghiên cứu Mal Burnstein, viết các bản kiến nghị và tóm tắt cho một vụ kiện quyền nuôi dưỡng trẻ. Trong thời gian này, Bill đã tìm hiểu thành phố Berkeley, Oakland và San Francisco. Vào những ngày cuối tuần anh đưa tôi đến những nơi mà anh ấy đã đi tiền trạm, chẳng hạn một nhà hàng ở North Beach hay một cửa hàng quần áo loại hiếm ở đại lộ Telegraph. Tôi thử dạy anh ấy chơi quần vợt và cả hai chúng tôi cùng học làm bếp. Tôi nướng cho anh một cái bánh nhân đào, muốn làm cho anh một thứ gì gợi nhớ đến vùng Arkansas mặc dù tôi chưa từng đến tiểu bang này. Chúng tôi cũng cùng nhau làm món cà ri gà để thết đãi khách vào những bữa tiệc mà chúng tôi chủ trì. Bill dành phần lớn thời gian đọc sách và chia sẻ với tôi các suy nghĩ của anh về các cuốn sách như To the Finland Station của Edmund Wilson. Trong suốt các chuyến đi bộ, Bill thường hát hò, ngân nga những bài hát của Elvis Presley mà anh yêu thích.

Người ta nói rằng tôi biết một ngày nào đó, Bill sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ và tôi hay nói điều đó với nhiều người quan tâm. Tôi không nghĩ như vậy, mãi cho đến những năm tháng sau này. Nhưng tôi nhớ có một lần chạm trán kỳ lạ tại một nhà hàng nhỏ ở Berkeley. Tôi có hẹn gặp Bill nhưng do bận bịu công việc nên đã đến trễ. Đến đó thì không thấy anh ấy, thế là tôi hỏi người phục vụ là có trông thấy một người đàn ông theo như mô tả của tôi về Bill. Một khách hàng ngồi gần đó xen vào: "Có đấy, anh ấy ngồi đọc sách ở đây rất lâu và tôi có hỏi chuyện anh ta về sách. Tôi không biết tên của anh ấy nhưng tôi tin có một ngày anh ấy sẽ trở thành tống thống". Tôi nói: "Ồ, chắc rồi, nhưng bác có biết anh ấy đi đâu không ạ?".

Vào cuối mùa hè năm ấy, chúng tôi trở về New Haven và thuê tầng trệt ở số 21 đại lộ Edgewood với tiền thuê 75 đô la mỗi tháng đó, chúng tôi có một phòng sinh hoạt có lò sưởi, một chiếc giường ngủ nhỏ, phòng thứ ba thì dùng để nghiên cứu học tập và là nơi dùng bữa tối, một phòng tắm bé xíu và một cái bếp sơ sài. Sàn nhà gồ ghề đến nỗi chúng tôi phải chêm vào dưới chân bàn các miếng gỗ nhỏ để chén đĩa không rơi tuột xuống. Gió lùa qua khe tường đến nỗi chúng tôi phải dùng giấy báo để chặn bớt. Dù gì đi nữa thì tôi rất yêu ngôi nhà đầu tiên này. Chúng tôi đi mua sắm đồ đạc ở cửa hàng Goodwill và Salvation Army, và rất tự hào về cái phong cách trang trí sinh viên của mình.

Căn hộ của chúng tôi cách nhà hàng Elm Street Diner một khu phố. Chúng tôi hay lui tới nơi này vì nó mở cửa suốt đêm. Ở ngã ba đường của khu phố có lớp dạy yoga mà tôi đã từng học và Bill cũng đồng ý học với tôi miễn là tôi đừng kể với ai khác về chuyện đó. Anh ấy cũng hay đi nhà thờ lớn Sweat, ghé qua trung tâm thể thao Yale có phong cách kiến trúc gô-tích để chạy vòng vòng không chủ đích quanh các tầng lửng. Một khi mà anh đã khởi động chạy rồi thì cứ chạy mãi. Tôi thì không.

Chúng tôi thường ghé quán Basel, một quán ăn theo phong cách Hy Lạp ưa thích của mình, đi xem xi nê tại rạp Lincoln, một rạp hát nhỏ tại khu dân cư. Vào một buổi tối nọ, sau trận bão tuyết đã tan, chúng tôi quyết định đi xem phim. Con đường chưa được dọn dẹp nên chúng tôi đi bộ đến đó và quay về trong lớp tuyết ngập qua chân nhưng cảm thấy rất yêu đời và đắm say bên nhau.

Cả hai đứa đều phải làm việc để trang trải cho những khoản học phí tại trường luật, phụ thêm các khoản vay sinh viên. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn thời gian cho chính trị. Bill quyết định mở một văn phòng vận động cho McGovern tranh cử tổng thống tại New Haven, sử dụng tiền của anh để thuê một cửa hàng mặt tiền đường. Hầu hết những người tình nguyện là sinh viên hoặc giáo viên Trường Yale bởi vì lãnh đạo Đảng Dân chủ tại địa phương, ông Arthur Barbieri, lại không ủng McGovern. Bill thu xếp cho chúng tôi gặp ông Barbieri tại một nhà hàng Ý. Tại buổi ăn trưa kéo dài khá lâu, Bill tuyên bố là anh có 800 tình nguyện viên sẵn sàng xuống đường tập hợp tổ chức biểu tình. Cuối cùng thì Barbieri quyết định ủng hộ McGovern. Ông mời chúng tôi dự buổi tiệc gặp mặt tại một câu lạc bộ Ý của địa phương - câu lạc bộ Melebus. Tại đây ông tuyên bố sự ủng hộ của mình.

Vào tuần tiếp theo chúng tôi lái xe đến một tòa nhà không gây một ấn tượng nào và bước vào cửa dẫn đến các cầu thang đi xuống một loạt các căn phòng ngầm dưới đất. Khi Barbieri đứng lên nói trong căn phòng ăn rộng lớn, ông cần có sự quan tâm theo dõi của các ủy viên của chính quyền địa phương - hầu hết là nam giới - có mặt ở đó. Ông ấy bắt đầu nói về cuộc chiến tranh Việt Nam và nêu tên các chàng trai ở khu New Haven đang phục vụ trong quân ngũ và tên những người đã tử trận. Sau đó ông nói "Cuộc chiến này không đáng để chúng ta mất thêm bất kỳ một chàng trai nào nữa. Đó là lý do chúng ta nên ủng hộ George McGovern, người muốn đem các chàng trai của chúng ta về nhà". Lời tuyên bố không phải ngay lập tức chiếm được sự ủng hộ đa số nhưng đến gần tối, ông ta tập trung thuyết phục cho đến khi giành được sự nhất trí bỏ phiếu ủng hộ. Và ông ấy đã cam kết trước hết tại đại hội của tiểu bang và sau đó trong cuộc bầu cử: New Haven là một trong số vài nơi bỏ phiếu ủng hộ cho McGovern chống lại Nixon.

Sau lễ Giáng sinh, Bill rời vùng Hot Springs để đến Park Ridge sống với gia đình tôi vài ngày. Bố mẹ tôi đã gặp Bill vào mùa hè trước nhưng tôi vẫn cứ lo lắng bởi vì bố tôi thường không giấu giếm sự xét nét và chỉ trích các bạn trai của tôi. Tôi tự hỏi bố mình sẽ nói gì với một đảng viên Dân chủ miền Nam với bộ dạng tóc tai của ca sĩ Elvis. Mẹ tôi nói với tôi rằng trong con mắt của bố tôi, không có gã đàn ông nào xứng với tôi cả. Bà đánh giá tốt tính tình của Bill và việc anh sẵn sàng giúp bà rửa chén bát. Nhưng Bill thật sự chinh ục bà khi anh thấy bà đang đọc một cuốn sách triết học trong chương trình đại học ngày xưa của bà và thế là anh dành cả một tiếng đồng hồ để đàm luận với bà về quyển sách. Với bố tôi thì ban đầu sự việc diễn ra chậm hơn nhưng sau đó, Bill đã giành điểm trong những lần chơi bài và cùng gia đình xem các trận bóng chày trên truyền hình. Các cậu em của tôi cũng rất hợp với Bill. Bạn bè tôi cũng rất mến anh. Sau khi tôi giới thiệu anh ấy với Besty Johnson, mẹ cô ấy - bà Roslyn - đã kéo tôi vào góc phòng nói nhỏ: "Bác không để ý chuyện cháu làm nhưng đừng để mất chàng trai này. Anh ta là người duy nhất mà bác từng gặp có thể làm cho cháu cười!".

Sau khi kết thúc khóa học vào mùa xuân 1972, tôi quay về Washington để làm việc lại cho Marian Wright Edelman. Bill thì nhận một công việc toàn thời gian cho chiến dịch tranh cử của McGovern.

Đề tài chính của tôi trong khóa hè năm 1972 là thu thập các thông tin về việc Chính quyền Nixon đã không thực thi lệnh cấm ưu đãi về thuế cho các cơ sở giáo dục tư thục vẫn còn kỳ thị chủng tộc. Sự kỳ thị xuất hiện trong những trường tư thục ở một số vùng xa xôi hẻo lánh của miền Nam. Họ không muốn nhận học sinh da đen học cùng học sinh da trắng như các trường công lập. Họ cho rằng các cơ sở giáo dục tư thục được tạo ra nhằm đáp ứng nguyện vọng của phụ huynh về các trường tư thục, chuyện này không dính dáng gì đến lệnh của tòa án. Tôi đến Atlanta để gặp một số luật sư và các nhà hoạt động dân quyền đang thu thập các chứng cứ ngược lại cho thấy là các cơ sở, trường học đang được tạo ra chỉ nhằm để né tránh lệnh của Tòa án Tối cao trong phán quyết sau vụ "Brown kiện Ủy ban Giáo Dục".

Theo kế hoạch điều tra của mình, tôi đến Dothan, Alabama trong vai một bà mẹ trẻ mới chuyển chỗ ở đến, muốn đăng ký cho con tôi học trong một trường toàn học sinh da trắng tại địa phương. Trước tiên tôi é lại một "khu vực da đen" ở Dothan để dùng cơm trưa với các đầu mối liên lạc tại địa phương. Sau khi thưởng thức món bánh mì kẹp thịt và trà đá đường, họ bảo tôi rằng nhiều phòng giáo dục trong vùng đã bòn rút sách vở và thiết bị gửi sang các cơ sở được gọi là học viện, những nơi mà họ xem như là các giải pháp lựa chọn cho các học sinh da trắng. Tại một trường tư thục địa phương, tôi có một buổi gặp với một nhà quản lý của trường để thảo luận cho việc đăng ký nhập học cho "đứa con tưởng tượng" của mình. Tôi đóng vai rất đạt, đưa ra các câu hỏi về chương trình học và thành phần học sinh. Tôi được đảm bảo là sẽ không có học sinh da đen nào được đăng ký.

Khi tôi đương đầu với tệ nạn kỳ thị thì Bill ở Miami chuẩn bị cho việc bảo đảm McGovern được đề cử tại Đại hội Đảng Dân chủ vào ngày 13/7/1972. Sau Đại hội, Gary Hart đề nghị Bill đến Texas cùng với Taylor Branch, lúc đó là một nhà văn trẻ, phối hợp với một luật sư ở địa phương tên là Julius Glickman lập ra một bộ ba điều hành chiến dịch tranh cử của McGovern ở tiểu bang này. Bill hỏi tôi có muốn đi không. Tôi đồng ý nhưng với điều kiện là có một việc làm cụ thể nào đó. Anne Wexler, một nhà vận động chiến dịch kỳ cựu mà tôi biết từ hồi ở Connecticut, lúc này đang làm cho McGovern, đã dành cho tôi một công việc: trưởng nhóm thuyết phục mọi người đi đăng ký cử tri ở Texas. Tôi không bỏ lỡ cơ hội này. Mặc dù Bill là người duy nhất tôi quen biết khi tôi đến Austin, Texas nhưng vào tháng Tám, tôi đã nhanh chóng kết thân với một số người bạn tốt nhất mà tôi từng có được.

Vào năm 1972, Austin vẫn còn là một thành phố chưa tỉnh giấc so với thành phố Dallas hoặc Houston. Rõ ràng nó là thủ phủ của bang và là quê hương của Trường Đại học Texa. Tuy nhiên, thành phố này vẫn có một cái gì đó hoài cổ hơn là biểu tượng tương lai của Texas. Khó mà dự đoán sự tăng trưởng bùng nổ của các công ty kỹ thuật cao đã làm biến đổi cái thành phố bé nhỏ ở vùng núi đồi Texas thành một thành phố nhộn nhịp của vùng phía Nam rực nắng.

Chiến dịch McGovern đặt bản doanh tại một cửa hàng trên đường West Sixth. Tôi có một chỗ làm việc nhỏ mà tôi ít khi ngồi vào do dành hầu hết thời gian của mình tại hiện trường để cố gắng giúp đăng ký cho các cử tri trẻ từ 18 đến 21 tuổi mới được quyền bầu cử và lái xe vòng vòng vùng Nam Texas để đăng ký giúp các cử tri da đen và gốc Mỹ La tinh. Roy Spence, Garry Mauro và Judy Trabulsi, những người tham gia hoạt động chính trị ở Texas và trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992 đã trở thành xương sống cho các nỗ lực tiếp cận được với giới cử tri trẻ của chúng tôi. Họ nghĩ rằng họ có thể đăng ký cho mọi cử tri 18 tuổi ở Texas. Những người mà họ tin là có khả năng xoay chuyển làn sóng bầu cử ủng hộ cho McGovern. Họ cũng vui vẻ giới thiệu tôi đến Scholz's Beer Garden. Tại đây, chúng tôi ngồi nghỉ vào cuối một ngày làm việc 18 đến 20 tiếng để cố gắng nghĩ ra xem chúng tôi còn có thể làm gì khác nữa để đối phó với khả năng số lượng phiếu bầu có chiều hướng phát triển xấu.

Thật dễ hiểu khi người dân gốc Mỹ La tinh ở Nam Texas cảnh giác với một cô gái tóc vàng đến từ Chicago không biết nói một từ Tây Ban Nha nào cả. Tôi tìm những người bạn giúp đỡ ở các trường đại học, trong các tổ chức lao động và các luật sư của Hiệp hội Trợ giúp Pháp lý Nông thôn Nam Texas. Một trong những người hướng dẫn tôi dọc ngang vùng biên giới là Franklin Garcia, một nhà hoạt động công đoàn từng trải, đưa tôi đến những nơi tôi không thể nào đặt chân đến một mình và bảo lãnh cho tôi trước những người dân Mỹ gốc Mexico nghi ngờ là tôi có thể đế Sở di trú hoặc một cơ quan công quyền nào đó. Vào một buổi tối khi Bill đang ở Brownsville gặp gỡ các lãnh đạo của Đảng Dân chủ, Franklin và tôi đã đón anh ấy và chở đến vùng biên giới giáp với Matamoros, nơi mà Franklin hứa thết đãi tôi một bữa ăn nhớ đời. Chúng tôi chui vào một quán bar ở địa phương có một ban nhạc Mariachi chơi rất hay và thưởng thức món thịt nướng Cabrito, món thủ dê mà tôi chưa bao giờ ăn trước đó. Bill ngủ gục ngay tại bàn trong khi tôi nhanh chóng tận hưởng món khoái khẩu này.

Betsey Wright trước đây hoạt động trong Đảng Dân chủ ở bang Texas và làm việc cho Tổ chức Common Cause đã đến tham gia trong chiến dịch. Betsey lớn lên ở Tây Texas và tốt nghiệp đại học ở Austin. Là một nhà tổ chức chính trị đại tài, bà có mặt ở khắp nơi tại tiểu bang và không che giấu điều mà chúng tôi đã hình dung ra là Chiến dịch của McGovern sẽ thất bại. Thậm chí thành tích ưu tú thời chiến của Thượng nghị sĩ McGovern là một phi công của Không lực, sau này được hồi tưởng trong tác phẩm của Stephen Ambrose The Wild Blue có thể là một chỗ dựa cho đường lối chống chiến tranh của ông ở Texas đã bị chôn vùi trong các cuộc công kích từ phe Cộng hòa và do những bước đi sai lầm trong chiến dịch tranh cử. Khi McGovern chọn Sargent Shriver để thay Thượng nghị sĩ Thomas Eagleton làm ứng viên Phó Tổng thống thì chúng tôi hy vọng là công việc của Shriver trong chính quyền của Tổng thống Kennedy và mối liên hệ với gia đình Kennedy của ông thông qua cô em Eunice của Jack và Bobby Kennedy có thể thu hút sự quan tâm của cử tri Mỹ.

Khi thời gian để đăng ký cử tri còn 30 ngày trước khi bầu cử, Betsey đề nghị tôi giúp điều hành chiến dịch ở San Antonio cho tháng cuối cùng. Tôi ở cùng với một người bạn đại học và đắm mình trong quang cảnh, âm thanh, mùi vị và các món ăn của thành phố xinh đẹp này. Tôi ăn các món Mexico ba lần một ngày, thường ra quán Mario's bên cạnh xa lộ hoặc ghé lại quán Mi Tierra tại trung tâm thành phố.

Khi bạn đang điều hành một chiến dịch tranh cử tổng thống ở một tiểu bang hay một thành phố, bạn luôn cố thuyết phục tổng hành dinh trung ương gửi đến ứng viên tổng thống hoặc các đại diện cao cấp khác. Shirley MacLaine là người hỗ trợ nổi tiếng nhất mà chúng tôi đã cố thuyết phục đến San Antonio cho đến khi Ủy ban điều hành chiến dịch tranh cử tuyên bố rằng chính McGovern sẽ bay đến nay mai, tổ chức một buổi ra mắt ở Alamo - một động thái có tính tượng trưng. Trong hơn một tuần, mọi nỗ lực của chúng tôi nhằm biến sự kiện này thành một cuộc tập hợp ủng hộ càng đông càng tốt. Trải nghiệm này giúp tôi nhận ra việc các nhân viên tại tổng hành dinh chiến dịch tôn trọng các cơ sở địa phương là hết sức quan trọng. Các chiến dịch tranh cử biệt phái các nhân viên tiền trạm đến địa điểm dự kiến, lên kế hoạch về hậu cần cho một chuyến viếng thăm của ứng cử viên tổng thống. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một đội tiền trạm tham gia hoạt động. Tôi biết rằng họ hoạt động dưới sức ép kinh khủng, họ muốn mọi thứ quan trọng như điện thoại, máy photocopy, sân khấu, bàn ghế, hệ thống âm thanh phải sẵn sàng vào ngày hôm trước và họ muốn rằng trong một cuộc đua căng thẳng có thể thất bại này phải có ai đó chịu trách nhiệm thanh toán các hóa đơn. Mỗi lần đội tiền trạm đến, họ đều báo tôi là tiền để trang trải sẽ được gửi đến ngay. Tuy nhiên tiền vẫn chưa thấy đâu. Vào buổi tối của sự kiện lớn này, McGovern đã thực hiện được một việc quan trọng. Chúng tôi đã huy động đủ tiền để trả cho các cơ sở dịch vụ địa phương. Hóa ra đây lại là phi vụ duy nhất thành công trong suốt thời gian lưu trú một tháng của tôi.

Đối tác của tôi trong tất cả chuyện này là Sara Ehrman, một thành viên trong nhóm trợ tá pháp lý của Thượng nghị sĩ McGovern đã xin nghỉ phép để làm việc trong chiến dịch này và sau đó đến Texas để tổ chức các hoạt động tác vụ tại chỗ. Là một c chính trị gia với tính tình dí dỏm và sôi nổi, Sara là hiện thân của tình mẫu tử ấm áp và chủ nghĩa hoạt động chính trị chân chính. Bà không bao giờ nói toạc móng heo hoặc phân tích các quan điểm của mình bất kể đối tượng khán giá của bà thế nào đi nữa. Và bà luôn có một năng lực và tinh thần gan lì của một người phụ nữ đã sống hơn nửa đời người và hiện bà vẫn tiếp tục thể hiện như thế. Bà đã điều hành chiến dịch San Antonio khi tôi đặt chân đến đây và nói với bà là tôi có mặt để trợ giúp. Chúng tôi nhanh chóng đánh giá về nhau và quyết định là rất vui khi được sát cánh đồng hành. Đây là sự khởi đầu cho một tình bạn vững bền đến ngày hôm nay.

Chúng tôi thấy rõ là Nixon sẽ đánh bại McGovern trong cuộc bầu cử tháng 11. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, chúng tôi biết rằng điều này không ngăn cản được ông ta và các đồng sự tiến hành các quỹ bầu cử bất hợp pháp (không thông báo chính thức cho các cơ quan chính phủ) để bí mật theo dõi phe đối lập và tài trợ cho các trò mánh khóe dơ bẩn nhằm đảm bảo một chiến thắng cho Đảng Cộng hòa. Một cuộc tấn công vụng về vào các văn phòng của Ủy ban Đảng Dân chủ trong vụ bê bối Watergate vào ngày 17/6/1972 đã dẫn đến việc sụp đổ của Richard Nixon. Đây cũng là điều có tác động đến kế hoạch sau này của tôi.

Trước khi quay về các lớp ở Yale mà chúng tôi đã đăng ký nhưng chưa dự học, Bill và tôi đã thực hiện một chuyến nghỉ mát bên nhau đến thành phố Zihuatanejo, Mexico. Lúc đó thành phố này trông giống như một thiếu phụ tuyệt đẹp đang ngủ. Đây là một thành phố nhỏ bên bờ Thái Bình Dương.

Giữa những đợt bơi đùa trong làn sóng biển, chúng tôi dành thời gian suy ngẫm, đánh giá lại cuộc bầu cử và những thất bại của chiến dịch McGovern. Đây cũng là một chủ đề bình luận kéo dài cả tháng sau. Có nhiều sai lầm kể sự kiện Đại hội Đảng Dân chủ Toàn Liên bang với nhiều rạn nứt nội bộ. Một trong số các sai lầm chiến thuật là McGovern đã đọc bài diễn văn vận động vào ngay lúc nửa đêm. Vào thời điểm này ít có ai ở Hoa Kỳ thức xem truyền hình cho dù đó có là một đại hội chính trị được tường thuật trên truyền hình. Nhìn nhận lại về kinh nghiệm của chúng tôi qua vụ McGovern, Bill và tôi hiểu rằng chúng tôi còn nhiều thứ phải học hỏi về nghệ thuật vận động chính trị và sức mạnh của truyền hình. Cuộc đua 1972 là cột mốc đầu tiên trong con đường hoạt động chính trị của tôi.

Sau khi học xong trường luật vào mùa xuân năm 1973, Bill đưa tôi đi châu Âu lần đầu tiên để thăm lại những nơi kỷ niệm của anh khi anh du học ở đây theo học bổng Rhodes. Chúng tôi đáp máy bay xuống Luân Đôn và Bill tỏ ra là một hướng dẫn viên tuyệt vời. Chúng tôi dành hàng giờ đồng hồ để tham quan tu viện Westminster, thăm bảo tàng Tate Gallery và tòa nhà Quốc hội. Chúng tôi đi bộ vòng quanh Stonehenge và trầm trồ ngắm các đồi cỏ xanh biếc một màu của xứ Wales. Chúng tôi lên đường ghé thăm rất nhiều các nhà thờ, dựa vào cuốn sách bản đồ vẽ rất chi tiết các lối đi cho từng dặm vuông được thể hiện trên từng trang. Chúng tôi lang thang từ Salisbury đến Lincoln, Durham rồi đến York, ngừng lại tìm hiểu các tàn tích của một tu viện bị các đạo quân của Cromwell tàn phá hoặc đi thơ thẩn xuyên qua các khu vườn của một trang viên rộng lớn.

Sau đó, vào lúc hoàng hôn trên vùng Hồ tuyệt đẹp của nước Anh, chúng tôi thấy mình đang ở bên bờ hồ Ennerdale. Chính nơi đây Bill đã cầu hôn tôi.

Tôi rất yêu Bill nhưng còn rất bối rối về cuộc sống và tương lai của mình. Do đó tôi trả lời: "Không, không phải là lúc này". Ý tôi muốn nói là "Anh hãy cho em thời gian".

Mẹ tôi đã chịu nhiều đau khổ từ cuộc ly dị của bố mẹ mình,i thơ cô đơn, buồn bã của bà vẫn còn hằn in trong lòng tôi. Tôi biết là một khi tôi quyết định lập gia đình thì tôi muốn cuộc hôn nhân đó bền vững suốt đời. Hồi tưởng về thời gian này, tôi không những cảm thấy thật lo sợ cho lời hứa đó của mình mà còn lo lắng cho xúc cảm mãnh liệt của Bill nữa. Tôi nghĩ về anh như một sức mạnh tự nhiên và tự hỏi là liệu tôi sẽ gắn bó suốt đời với anh hay không.

Bill Clinton là con người kiên định. Anh ấy đặt ra các mục tiêu và tôi là một trong những mục tiêu của anh. Anh cứ cầu hôn tôi từ lần này đến lần khác và tôi luôn nói không. Cuối cùng anh nói, "Được rồi, anh sẽ không xin em lấy anh nữa và nếu như em chợt quyết định là em muốn lấy anh thì lúc đó em phải báo cho anh biết". Anh ấy sẵn sàng đợi tôi.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.