NHỮNG CÂU CHUYỆN BÊN BÀN ĂN GIA ĐÌNH

Hồi Ký Hillary Clinton Và Chính Trường Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Câu Chuyện Bên Bàn Ăn Gia Đình

❊ ❊ ❊

Tôi là một người dễ bị các lễ hội quy mô, sôi nổi cuốn hút. Những giây phút khai mạc Thế vận hội mùa Hè tại Atlanta ngày 19 tháng 7 năm 1996 thật đáng nhớ. Bill tuyên bố khai mạc các cuộc thi đấu bằng một màn trình diễn âm nhạc rầm rộ với những kèn co, chũm chọe. Tiếp theo đó là cả một bài lễ ca dạng opera bao trùm lấy hàng ngàn vận động viên cùng các quan khách đang tề tựu chật cứng trong sân vận động. Muhammad Ali, run rẩy vì chứng bệnh Parkinson, cố giữ chắc cánh tay phải và giơ cao ngọn đuốc sáng chói thắp lên ngọn lửa Olympic. Đó là giây phút không thể nào quên được đối với toàn thế thế giới và đối với người vận độ bệnh tật ấy.

Niềm hân hoan đó bỗng hóa thành nỗi kinh hoàng chỉ sau một tuần lễ, khi một quả bom ống phát nổ tại công viên Centennial Olympic gần các nhà thi đấu, cướp đi sinh mạng của một phụ nữ và làm bị thương 111 người khác. Bill lên án vụ đánh bom ấy là "một hành động tội ác kinh hoàng”. Còn tôi đã đến đặt hoa tưởng niệm tại công viên, gần hiện trường đã diễn ra cuộc tấn công.

Vài ngày sau khi diễn ra vụ đánh bom, FBI cho rằng Richard Jewell - một nhân viên bảo vệ an ninh làm việc bán thời gian - có khả năng là thủ phạm đáng ngờ. Jewell, người lúc đầu được coi như một anh hùng vì đã phát hiện ra quả bom ống, đã phải đấu tranh kịch liệt để tự bảo vệ mình trước sức nặng của lời buộc tội. Suốt nhiều tháng trời, giới truyền thông vây quanh nhà anh và đưa tin suốt 24 giờ mỗi ngày. Cuối cùng, vào cuối tháng Mười, Jewell được giải oan và việc đánh bom sau cùng lại được gán ghép cho Eric Rudolph, một người chống phá thai cuồng tín - người được cho rằng đã tẩu thoát vào vùng hoang dã Appalachian và không bao giờ bị bắt.

Vụ đánh bom Thế vận hội đã dẫn đến một mùa hè kết thúc trong lo âu, đánh dấu bằng nhiều sự kiện bi thảm gồm cả vụ rớt máy bay Flight 800, một chiếc phản lực chở hành khách đã đâm sầm xuống Đại Tây Dương sau khi cất cánh từ phi trường Kennedy ở New York và vụ đánh bom khủng bố tại tháp Khobar, một căn cứ quân sự Mỹ ở Saudi Arabia, làm chết 19 binh sĩ Mỹ.

Từ Thông điệp Liên bang đầu tiên ( State of the Union : Thông điệp về tình hình liên bang là bài diễn văn thường niên mà tổng thống Mỹ trình bày trước Quốc hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 hàng năm, trình bày những chiến lược về chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ- ND), Bill đã gióng tiếng chuông cảnh báo về chủ nghĩa khủng bố toàn cầu. Vào những năm 1980, chủ nghĩa khủng bố vẫn chưa được xem là một mối đe dọa an ninh quốc gia cấp bách mặc dù đã có hơn năm trăm người Mỹ thiệt mạng vì bọn khủng bố trong thập kỷ này. Các vụ đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993 và tại thành phố Oklahoma năm 1995 đã làm gia tăng mối lo ngại của Bill. Anh thường xuyên lên tiếng công khai lẫn riêng tư về ảnh hưởng của những yếu tố như việc đi lại dễ dàng, tình trạng mở cửa các biên giới và công nghệ phát triển có thể giúp cho bọn khủng bố có nhiều cơ hội mới cũng như các phương tiện thuận lợi để tiến hành bạo động và đe dọa cộng đồng. Anh nghiên cứu các tài liệu về đề tài này và thường xuyên gặp gỡ các chuyên gia về vũ khí hóa học và sinh học. Bill thường trở về nhà, lòng đầy lo âu kể cho tôi nghe về những cuộc gặp gỡ ấy. Những kiến thức có được từ các buổi gặp gỡ đó đã khiến anh không an tâm. Năm 1995, Bill gửi đến Quốc hội một bản pháp chế chống khủng bố toàn diện nhằm thắt chặt những điều luật truy tố bọn khủng bố, nghiêm cấm các hình thức huy động tiền bạc cho những mầm mồng hoặc tổ chức khủng bố và gia tăng các biện pháp kiểm soát các nguyên liệu vũ khí hóa học và sinh học. Bản pháp chế cuối cùng cũng được phê duyệt vào năm 1996 nhưng đã bị lược bỏ những vấn đề chủ chốt mà Bill đề nghi, vì thế anh đã quay trở lại Quốc hội để được gia tăng thêm quyền hạn và ngân quỹ, bao gồm các điều khoản về việc theo dõi ngầm các cuộc điện thoại và nguồn gốc xuất xứ của các hóa chất. Tuy nhiên, tập trung được sự chú ý của công chúng và sự ủng hộ của Quốc hội đối với những hành động mà anh ấy cho là cần thiết không phải là một việc dễ dàng.

Những vấn đề đối nội chi phối các chương trình nghị sự của cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa nhiều tháng trước các cuộc hội nghị chính sự mùa hè. Các thành viên của Đảng Cộng hòa vẫn kiên trì với những đề tài thông thường của hai việc chi tiêu rộng rãi các khoản tiền lớn và các vấn đề "nòng cốt xã hội” như: trợ cấp xã hội, quyền phá thai, kiểm soát súng đạn và bảo vệ môi trường. Chiến dịch tái ứng cử của Bill tập trung vào các chính sách nhà nước mà anh ấy tin rằng sẽ giúp xây dựng cộng đồng, mở rộng các cơ hội, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm đồng thời mang lại sự tưởng thưởng cho các doanh nghiệp.

Tôi đã nghĩ cách làm thế nào để trình bày những vấn đề mình bênh vực và gắn kết chúng mật thiết hơn nữa với những mối quan tâm của công chúng. Vô số gia đình, trong đó có gia đình chúng tôi, thường quây quần với nhau bên bàn ăn trong gian bếp sau giờ làm việc hoặc giờ học ở trường để trao đổi về những vấn đề hàng ngày. Tôi bắt đầu mô tả các vấn đề của Đảng Dân chủ như "những câu chuyện bên bàn ăn gia đình" và cách nói này đã trở thành thông dụng trong suốt chiến dịch. Nó khiến cho vài nhà phê bình của Washington lên tiếng nhạo báng "chuyện phụ nữ hóa chính trị", một toan tính nhằm làm suy yếu, thậm chí là tầm thường hóa các chính sách có liên quan đến phụ nữ như chế độ nghỉ phép vì việc gia đình, nghỉ dưỡng sức dài hạn vì ung thư vú dành cho các phụ nữ lớn tuổi hoặc chế độ nghỉ dưỡng thỏa đáng dành cho các bà mẹ khi sinh con. Với suy nghĩ đó, tôi đã tự đặt ra một tên gọi của riêng mình: “nhân bản hóa chính trị", công khai đề xuất ý kiến cho rằng chính những vấn đề chia sẻ bên bàn ăn gia đình đó lại có ý nghĩa đối với tất cả mọi người, không chỉ riêng phụ nữ.

Đến năm 1996, như đã hứa trong chiến dịch tranh cử hồi năm 1992, Bill đã tiết giảm được mức thâm hụt ngân sách quốc gia xuống hơn một nửa, dẫn đến một nền kinh tế tăng vọt về 10 triệu việc làm mới, giảm thuế thông qua chính sách Giảm Thuế thu nhập áp dụng cho 15 triệu công nhân có thu nhập thấp, bảo vệ công nhân khỏi bị thua thiệt về quyền lợi được chăm sóc sức khỏe khi thất nghiệp và gia tăng mức tiền công tối thiểu. Và chúng tôi đã thành công trong việc thông qua việc sửa đổi ban đầu đối với các điều luật nhận con nuôi: một ảm thuế không bồi hoàn lên đến 5.000 đô lamột đứa trẻ áp dụng đối với tất cả các bậc cha mẹ xin con nuôi và 6.000 đô la đối với các bậc cha mẹ xin nhận nuôi đứa trẻ có những nhu cầu đặc biệt, và một điều khoản nghiêm cấm việc từ chối hoặc trì hoãn nhận con vì lý do sắc tộc, màu da hoặc nguồn gốc của đứa trẻ. Kể từ khi còn là một sinh viên luật và làm việc trong vai trò đại diện cho những trẻ em mồ côi, tôi đã hy vọng mình có thể tạo ra các cơ hội giúp cho các em tìm được những gia đình nhân ái và gắn bó mãi mãi. Các điều khoản này tỏ ra có ích, nhưng tôi biết rằng vẫn còn rất nhiều điều phải làm thêm nữa. Tôi triệu tập những chuyên gia về lĩnh vực xin con nuôi tham dự một loạt các buổi họp, ở Nhà Trắng vào năm 1996 và phác thảo một kế hoạch khởi nguồn cho Đạo luật Xin con nuôi và Những Gia đình Yên ấm vào năm 1997, một đạo luật đầu tiên cung cấp nhưng khoản trợ cấp cho các bang trong việc đưa trẻ em từ các trung tâm chăm sóc về những gia đình mới của các em.

Cũng đã đến lúc thay đổi hệ thống phúc lợi xã hội dành cho những người từ 60 tuổi trở lên, một điều luật đã sản sinh ra nhiều thế hệ người Mỹ chỉ biết sống dựa vào trợ cấp xã hội. Bill đã hứa sẽ cải tạo điều này và Nhà Trắng đã mất hàng tháng trời cho những cuộc thương thuyết đầy khó khăn lẫn các mâu thuẫn chính trị sâu sắc đến tột độ. Những đảng viên Đảng Cộng hòa biết rằng dân chúng đang rất mong đợi sự đổi mới trong chính sách trợ cấp xã hội nên họ hy vọng có thể buộc Bill thông qua một dự luật đầy hà khắc đối với phụ nữ và trẻ em, từ chối các giúp đỡ cần thiết đối với hàng triệu con người đang túng thiếu. Bằng không họ sẽ lợi dụng quyền phủ quyết của Bill đối với dự luật đó để chống lại anh ấy trong đợt bầu cử sắp tới. Thay vì vậy, việc cải tổ hệ thống phúc lợi đã là một thành công cho Bill. Tôi đã tranh luận mạnh mẽ rằng chúng ta cần phải thay đổi hệ thống phúc lợi, mặc dù sự tán thành của đối với vấn đề này trong chừng mực nào đó cũng ảnh hướng đến lợi ích của bản thân mình.

Chương trình phúc lợi đầu tiên của nước Mỹ ra đời vào những năm 1930 nhằm giúp đỡ các góa phụ nuôi con tại thời điểm có rất ít cơ hội cho họ bước chân vào thị trường lao động. Cho đến giữa thập kỷ 70, tỉ lệ trẻ em do những bà mẹ độc thân sinh ra đã gia tăng và đến giữa thập kỷ 80 thì số lượng những bà mẹ không chồng đã chiếm phần lớn danh sách những người sống bằng trợ cấp xã hội. Ở bình diện chung, họ là những người phụ nữ ít học và chỉ biết một vài kỹ năng làm việc. Ngay cả nếu tìm được một việc làm, họ cũng không thể kiếm đủ tiền để thoát khỏi sự nghèo đói hoặc bảo đảm đầy đủ bảo hiểm sức khỏe cho con cái. Bởi thế mà họ gần như không thể từ bỏ lối sống lệ thuộc vào trợ cấp để chọn giải pháp đi làm. Việc ở nhà trở thành sự chọn lựa hợp lý đối với một số người trong thời gian ngắn, thế nhưng điều này đã phát triển thành một tầng lớp sống nhờ trợ cấp xã hội vĩnh viễn, và gây nên nỗi oán giận trong lòng những người dân phải chịu thuế, đặc biệt là đối với những bậc cha mẹ đi làm có thu nhập thấp. Tôi không nghĩ là công bằng nếu một bà mẹ nuôi con một mình phải vừa tất bật tìm người chăm con và dậy sớm mỗi ngày để đi làm trong khi người khác ở nhà và sống dựa vào tiền trợ cấp. Tôi có chung quan điểm với Bill khi cho rằng chúng ta cần phải cung cấp những hình thức trợ cấp và hỗ trợ như chăm sóc trẻ em và bảo hiểm y tế để giúp mọi người có thể đi làm việc thay vì chỉ sống nhờ vào tiền trợ cấp.

Trong suốt nhiệm kỳ đầu làm thống đốc của Bill, tiểu bang Arkansas đã tham gia vào một dự án "thí điểm" của chính quyền Carter nhằm hỗ trợ và khích lệ mọi người từ bỏ trợ cấp để đi làm. Bảy năm sau đó, vào năm 1987 và tiếp tục vào năm 1988, Bill là Thống đốc hàng đầu của Đảngân chủ làm việc với Quốc hội và Nhà Trắng thời Reagan về cải tổ chính sách xã hội. Anh chủ trì các phiên họp của Hiệp hội Các Thống đốc, trình bày các trường hợp có thực về những người phụ nữ đã từ bỏ chương trình trợ cấp dưới tác động từ kế hoạch của anh tại bang Arkansas, và bản thân những người này cho biết họ cảm thấy cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều, cả đối với bản thân lẫn đối với tương lai con cái của họ. Bill được một dự một nghi lễ vào tháng 10 năm 1988 khi Tổng thống Reagan ký thành luật văn bản sửa đổi chính sách trợ cấp xã hội, trong đó có những điều khoản mà anh và các thống đốc mong đợi.

Đến năm 1991, khi Bill phát động chiến dịch tranh cử Tổng thống, thực tế cho thấy rõ những điều khoản sửa đổi không mang lại nhiều thay đổi bởi vì chính quyền Bush không tài trợ cho những chương trình mới hoặc thi hành một cách quá khích chính sách trợ cấp xã hội ở nhiều tiểu bang. Bill đã hứa sẽ "chấm dứt kiểu trợ cấp như chúng ta đã biết" và làm cho chương trình này mang tính ủng hộ lao động, ủng hộ từng hộ gia đình ở Mỹ.

Vào thời điểm Bill đảm nhận nhiệm vụ Tổng thống, chương trình phúc lợi nước Mỹ, Hỗ trợ các gia đình nuôi con nhỏ, gọi tắt là AFDC, đã nhận được hơn phân nửa ngân sách từ chính quyền liên bang nhưng vẫn được điều hành bởi các tiểu bang, vốn đóng góp từ 17% đến 50% tổng chi phí. Luật liên bang yêu cầu phải hỗ trợ những người mẹ nghèo cùng con nhỏ, thế nhưng các bang lại đặt ra những khoản phúc lợi hàng tháng. Kết quả là có đến năm mươi hệ thống khác nhau chu cấp phúc lợi cho người nghèo từ mức 821 đôla cho một gia đình có hai con nhỏ tại Alaska đến mức thấp nhất là 137 đô la tại Alabama. Những người nhận trợ cấp từ chương trình AFDC cũng được hưởng các quyền lợi khác như phiếu nhận thực phẩm và chế độ hỗ trợ y tế Medicaid.

Trong chương trình lập pháp năm 1993 và 1994, dự án kinh tế NAFTA, dự luật tội phạm và chăm sóc sức khóe là những vấn đề được ưu tiên hơn so với việc cải tổ trợ cấp xã hộiVà khi Đảng Cộng hòa nắm quyền điều hành Quốc hội, họ có những ý kiến riêng về cách cải tổ hệ thống. Họ tán thành những giới hạn nghiêm ngặt về mức độ thời gian được hưởng trợ cấp; ngăn chặn việc cấp ngân sách phúc lợi cho các tiểu bang, bao gồm hỗ trợ y tế Medicaid, chế độ cơm trưa tại trường học và phiếu nhận thực phẩm; chấm dứt tất cả mọi quyền lợi đối với dân nhập cư, ngay cả đối với những người đang làm việc và nộp thuế đầy đủ; và, theo như Newt Gingrich đã giới thiệu trước nghị viện, một hệ thống trại mồ côi để thu nhận và nuôi dưỡng những đứa trẻ ngoài giá thú và các bà mẹ tuổi vị thành niên. Kế hoạch của Đảng Cộng hòa chỉ cung cấp hỗ trợ ở mức tối thiểu cho việc giúp đỡ những người từ bỏ trợ cấp để đi làm.

Bill và tôi, cùng với các thành viên của Quốc hội - những người mong chờ một sự cải tổ hiệu quả - cho rằng những công dân nào còn khả năng lao động thì nên đi làm. Thế nhưng chúng tôi cũng nhận thấy rằng để giúp mọi người vĩnh viễn chấm dứt cuộc sống nhờ vào trợ cấp xã hội và đi làm thì cần phải có sự hỗ trợ lẫn các phụ cấp. Và một chính sách cải tổ thành công đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về giáo dục và đào tạo, các khoản trợ cấp dùng trong việc chăm sóc trẻ em và phương tiện đi lại, chế độ chăm sóc sức khỏe tạm thời, những hình thức ưu đãi thuế dành cho các doanh nghiệp chịu thuê công dân sống nhờ tiền trợ cấp và các nỗ lực nâng đỡ trẻ em nhiều hơn. Chúng tôi cũng phản đối việc cắt giảm hoàn toàn các trợ cấp dành cho người dân di cư hợp pháp và chuyển con em của các gia đình nghèo đói vào trại mồ côi.

Vào cuối năm 1995, chính quyền và bắt đầu những nỗ lực nghiêm túc để thông qua pháp chế. Trong thời gian này rất nhiều vụ vờ vịt chính trị đã xảy ra. Tôi nghĩ nhiều người theo Đảng Cộng hòa đã hy vọng rằng nếu giữ được một số lượng vừa đủ "các điều khoản thâm độc" trong bản dự luật, họ sẽ buộc được Tổng thống vào một tình huống "hai bên cùng thua". Nếu Bill ký vào bản dự luật, anh sẽ làm thất vọng những cử tri ủng hộ Đảng Dân chủ và khiến cho hàng triệu trẻ em nghèo phải sống bấp bênh, thiệt thòi. Nếu anh phủ quyết, những đảng viên Đảng Cộng hòa sẽ có một vấn đề công khai để nêu lên trong cuộc bần cử năm 1996 trước các cử tri đang mong đợi một chính sách cải tổ nhưng lại không hiểu rõ những tình tiết của pháp chế.

Một vài người trong Nhà Trắng thúc giục Tổng thống ký duyệt bất kỳ nội dung cải cách nào do Quốc hội trình gửi. Họ cho rằng nếu làm ngược lại sẽ gây ra tổn thất chính trị to lớn cho cả Chính phủ và các đảng viên Đảng Dân chủ của Quốc hội trong mùa tranh cử sắp tới. Nhiều người lại không đồng ý, cho rằng giải pháp duy nhất là Bill phải chiến thắng phe Cộng hòa và thuyết phục công chúng hiểu rằng anh phải là người nắm vai trò chủ đạo trong việc kiểm soát chính sách cải tổ. Cảm nhận của tôi về vấn đề trợ cấp trở nên sâu sắc và có lẽ còn phức tạp hơn chồng tôi. Tôi tin rằng hệ thống các chính sách đang rất cần một sự cải tổ, nhưng tôi đã từng dành nhiều thời gian làm luật sư biện hộ cho trẻ em và phụ nữ sống nhờ vào hệ thống này và tôi hiểu rằng trợ cấp xã hội là rất cần thiết với vai trò hỗ trợ tạm thời cho các gia đình nghèo khó. Phải, tôi đã thấy nhiều người lợi dụng nó, nhưng tôi cũng thấy trợ cấp đã cứu nguy những con người dùng nó để vượt qua các giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. Mặc dù trước kia, trong thâm tâm tôi vẫn phê phán các quyết định của chính quyền, tôi chưa bao giờ công khai phản bác một chính sách nào của chính quyền cũng như bất kỳ quyết định nào của Bill. Tuy nhiên, ngày nay tôi đã nói với anh ấy và các nhân viên cao cấp của anh ấy rằng tôi sẽ lên tiếng phản đối bất kỳ dự luật nào không mang lại chế độ chăm sóc sức khỏe thông qua chương trình Medicaid, sự bảo đảm của liên bang về tem phiếu thực phẩm, và sự hỗ trợ chăm sóc trẻ em dành cho những người nỗ lực chấm dứt việc sống dựa vào trợ cấp. Tôi cũng cho rằng những hình thức ủng hộ này nên áp dụng với cả tầng lớp lao động nghèo để giúp họ thoát khỏi nghèo đói.

Các đảng viên Đảng Cộng hòa đệ trình một dự luật gồm những điều khoản giới hạn nghiêm ngặt về thời gian hưởng trợ cấp, chấm dứt hỗ trợ để chuyển đổi từ hưởng trợ cấp sang làm việc, không cung cấp bất kỳ quyền lợi nào cho người di dân hợp pháp, bãi bỏ một sự giám sát và trách nhiệm giải trình liên bang về việc chi tiêu ngân sách trợ cấp liên bang của các bang. Nói tóm lại các bang được quyền tự do quyết định ngân sách thực thi đối với các khoản chi trợ cấp hàng tháng, chăm sóc trẻ em, phiếu nhận thực phẩm và chăm sóc y tế hoặc có những khoản trợ cấp khác hay không. Sau một cuộc tranh cãi quyết liệt bên trong Nhà Trắng, Tổng thống đã phủ quyết dự luật. Sau đó, các đảng viên Đảng Cộng hòa đã đệ trình một dự luật khác chỉ với vài thay đổi nhỏ. Tôi đã không cần phải vận động hành lang với Bill nhiều, anh biết rõ mình không thể ký cả bản dự luật thứ hai này. Bill đã phủ quyết nó và nhất quyết rằng tất cả trẻ em nghèo khổ đều được hưởng hoàn toàn các quyền lợi về chế độ chăm sóc, dinh dưỡng và y tế.

Bản dự luật thứ ba được Quốc hội đưa ra đã nhận được sự ủng hộ của phần lớn các đảng viên Đảng Dân chủ của Thượng và Hạ viện. Nó nêu rõ sự hỗ trợ nhiều hơn về tài chính dùng cho mục đích thúc đẩy người dân đi làm, chi nhiều tiền hơn cho việc chăm sóc trẻ em và phục hồi những cam kết của liên bang đối với các quyền lợi về tem phiếu thực phẩm và chăm sóc y tế. Thế nhưng nó lại cắt hầu hết các chế độ ưu đãi dành cho đối tượng di dân hợp pháp, áp đặt một khoảng thời gian giới hạn 5 năm cho một đời người được hưởng trợ cấp Liên bang và duy trì nguyên trạng những hạn chế quyền lợi hàng tháng, cho phép các bang được tự do trong việc đề ra những giới hạn về quyền lợi ấy. Các khoản trợ cấp liên bang dành cho mỗi tiểu bang được đặt ra bằng với số tiền mà các tiểu bang nhận được vào đầu những năm 90, thời điểm mà ngân sách trợ cấp lúc nào cũng ở mức cao. Điều này có nghĩa là các bang phải có những nguồn tài chính để cung cấp một tấm lưới an toàn mà chính sách cải tổ thật sự đòi hỏi, cùng các khoản trợ cấp ưu đãi để phân chia cho các chương trình hỗ trợ và khích lệ lao động lẫn sự tự lập.

Cuối cùng Tổng thống đã ký thành luật bản dự thảo thứ ba này. Mặc dù vẫn còn những điểm chưa hoàn chỉnh, nhưng bản dự luật là bước khẩn cấp đầu tiên cần làm đối với việc cải tổ hệ thống trợ cấp xã hội của quốc gia. Tôi đồng ý rằng anh ấy nên phê duyệt nó và làm hết sức để vận động sự đồng tình của mọi người đối với sự thay đổi này - mặc dù anh ấy và ban lập pháp bị một số người theo chủ nghĩa tự do, các nhóm ủng hộ dân nhập cư và hầu hết những người làm việc trong hệ thống chính sách trợ cấp chỉ trích dữ dội. Bill cam kết sẽ tranh đấu để khôi phục các quyền lợi cho dân nhập cư và, đến năm 1998, đã làm được một số tiến bộ chừng mực bằng cách làm việc với Quốc hội để phục hồi các quyền lợi An sinh Xã hội và các quyền lợi về phiếu nhận thực phẩm cho một số thành phần nhập cư hợp pháp, bao gồm các đối tượng trẻ em, người già và người tàn tật.. Thông cáo phản đối việc trợ cấp ngân sách quỹ phúc lợi theo chúng tôi là chấp nhận được bởi các tiểu bang, với quyền hạn được tự đặt ra các mức trợ cấp, vẫn nhận được thêm đầy đủ ngân sách để giúp mọi người đi làm và không sốngờ vào trợ cấp nữa. Điều tôi quan tâm nhất là giới hạn 5 năm được nhận trợ cấp trong suốt đời của một người bởi điều này sẽ được áp dụng bất kể tình hình kinh tế đất nước khó khăn hay phát triển, bất kể công dân đó có tìm được việc làm hay không, nhưng tôi cảm thấy rằng, bù qua sớt lại, thì đây là một cơ hội lịch sử để thay đổi một hệ thống dựa trên nền tảng sống lệ thuộc thành một hệ thống khích lệ mọi người sống độc lập.

Điều luật ban hành đã tỏ ra không hề hoàn hảo so với dự kiến, nó vẫn còn sơ hở cho các hoạt động chính trị thực dụng nảy sinh. Sẽ hợp lẽ hơn nếu phê duyệt một biện pháp và biết rằng có một chính quyền Dân chủ sẽ thực thi nó với đầy tính nhân đạo. Nhưng nếu phủ quyết bản dự luật cải tổ trợ cấp thứ ba, Bill có thể sẽ trao cho các đảng viên Đảng Cộng hòa một vận may trời cho trong đấu trường chính trị. Tiếp theo sau những tai họa của cuộc bầu cử năm 1994, anh ấy lo lắng rằng những thất bại tranh cử của Đảng Dân chủ sau này có thể hủy hoại đòn bẩy của mình trong việc bảo vệ các hoạt động chính trị xã hội trong tương lai.

Quyết định của Bill, cùng sự tán thành của tôi, đã làm tổn thương một số người ủng hộ trung thành nhất của mình, bao gồm các bạn bè tri âm Marian Wright Edelman và chồng, Peter Edelman, Trợ lý Bộ trưởng về Dịch vụ Sức khoẻ và Con người. Do quá trình công tác lâu dài của tôi với Quỹ Bảo vệ Trẻ em, họ đã hy vọng tôi sẽ phản đối biện pháp này và họ đã không thể hiểu nổi sự ủng hộ của tôi. Họ cho rằng điều luật ban hành là một hành động đáng xấu hổ, không thực tế và có hại cho trẻ em, điều mà Marian đã thể hiện trong bài viết "Thư ngỏ gửi Tổng thống” đăng trên tờ The Washington Post.

Trước hậu quả đau lòng ấy, tôi nhận ra rằng mình đã vượt qua lằn ranh giữa một luư và người làm chính trị. Tôi không thay đổi đức tin của mình nhưng không đồng ý với những tình cảm và lời kết tội ấy của gia đình Edelman cùng những người phản kháng lại điều luật ban hành. Là những luật sư, họ không bị ràng buộc với những thỏa hiệp và khác với Bill, họ không phải thương lượng với Newt Gingrich và Bob Dole hay lo lắng để duy trì một tình hình chính trị cân bằng trong Quốc hội. Tôi còn nhớ rõ như in sự thất bại của nỗ lực cải tổ chế độ châm sóc sức khỏe, một phần là vì thiếu sự nhân nhượng. Các nguyên tắc và giá trị trong chính trị không được thỏa hiệp, song các chiến lược và thủ thuật cần phải linh hoạt để đạt được tiến bộ, đặc biệt là trong những điều kiện chính trị khó khăn mà chúng tôi phải đối diện. Chúng tôi muốn đưa ra một kế hoạch trợ cấp có thể thúc đẩy và trang bị cho phụ nữ để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và cho con cái họ. Mặt khác, với hệ thống trợ cấp xã hội cũ đã được thay thế này, chúng tôi cũng hy vọng sẽ thuyết phục được công chúng Mỹ bàn đến những vấn đề to lớn hơn xuất phát từ sự nghèo đói và các hệ lụy của nó: như các gia đình không cha mẹ hoặc chỉ có cha hay mẹ, tình trạng nhà ở không thích đáng các trường học tồi tàn và hiện trạng thiếu hụt sự chăm sóc y tế. Tôi đã hy vọng rằng sự cải tổ các chính sách phúc lợi chỉ là phần mở đầu, chứ không phải đoạn kết, cho mối quan tâm của chúng ta đối với cái nghèo.

Nhiều tuần sau khi Bill ký duyệt điều luật, Peter Edelman và Mary Jo Bane - một người bạn khác và cũng là thư ký trợ lý của Bộ Y tế, người đã làm việc về chính sách cải tổ phúc lợi - đã từ chức để biểu lộ thái độ phản kháng. Đây là những quyết định mang tính nguyên tắc mà tôi chấp nhận và thậm chí ngưỡng mộ, mặc dù tôi có quan điểm rất khác biệt với họ về giá trị và triển vọng của điều luật mới ban hành. Ngoài đời thỉnh thoảng tôi vẫn gặp Marian và Peter, và tôi thật sự cảm động khi Bill quyết định tặng Marian và Peter Huân chương Tự do vào ngày 9 tháng 8 năm 2000 vì đã cống hiến trọn đời cho quyền công dân và trẻ em. Cô ấy là một cố vấn quan trọng trong đời tôi và sự rạn nứt trong tình bạn của chúng tôi vì vấn đề phúc lợi là rất đáng buồn và không hay.

Cho đến khi Bill và tôi rời Nhà Trắng, danh sách những người hưởng trợ cấp đã giảm 60% từ 14,1 triệu người xuống 5,8 triệu người và hàng triệu bậc cha mẹ đã đi làm. Các bang hỗ trợ cho những người làm việc bán thời gian hoặc thu nhập thấp bằng cách tiếp tục trợ cấp quyền lợi y tế và phiếu nhận thực phẩm. Đến tháng 1 năm 2001, tình trạng trẻ em nghèo đói đã giảm hơn 25% và đạt mức thấp nhất kể từ năm 1979. Cải tổ chính sách phúc lợi, tăng mức lương tối thiểu, giảm thuế cho những công nhân thu nhập thấp và kinh tế phát triển đã giúp gần 8 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói - gấp một trăm lần lượng người thoát khỏi danh sách đói nghèo trong thời kỳ của Tổng thống Reagan.

Một yếu tố góp phần đáng kể vào sự thành công của chính sách cải tổ là chương trình Trợ cấp dành cho Hiệp hội Lao động mà Bill đã nhờ Eli Segal, một trong số các người bạn tri kỷ của mình, tiến hành nhằm khuyến khích các ông chñ thuê mướn những người trước đây từng sống nhờ vào trợ cấp xã hội. Eli là một doanh nhân thành đạt, đã từng làm việc với Bill trong chiến dịch McGovern và đảm nhiệm vị trí Tham mưu Trưởng trong chiến dịch năm 1992. Với vai trò trợ lý cho Tổng thống, ông chịu trách nhiệm thành lập National Service Corporation and AmeriCorps. Eli đã làm việc trực tiếp với Shirley Sagawa, một phụ tá về chính sách của tôi, để thảo ra điều luật xây dựng chương trình này và trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị đầu tiên của tập đoàn. AmeriCorps cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng và các học bổng đại học cho hơn 200.000 người trẻ tuổi từ năm 1994 đến năm 2000, làm việc sát cánh với các doanh nghiệp và tổ chức cộng đ̕cũng đã áp dụng khuôn mẫu ấy vào chương trình trợ cấp dành cho Hiệp hội Lao động, kết nạp các chủ doanh nghiệp nào thuê mướn và đào tạo công dân vốn là người sống dựa vào trợ cấp. Dưới sự lãnh đạo của ông, Hiệp hội Lao động đã phát triển, thu hút hơn 20.000 doanh nghiệp tham gia đào tạo kỹ năng, tạo công ăn việc làm và cuộc sống độc lập cho 1,1 triệu người từng sống chỉ nhờ vào trợ cấp an sinh xã hội.

Công cuộc cải tổ phúc lợi được tiến hành trong những giai đoạn kinh tế phát triển tốt. Thử thách thật sự sẽ diễn ra khi kinh tế giảm sút và danh sách người hưởng trợ cấp lại gia tăng. Điều luật ban hành cần phải được tái ủy quyền và trong vai trò một Thượng nghị sĩ, tôi có ý định phát huy thành công và sửa chữa những khiếm khuyết của nó. Cần phải phục hồi triệt để quyền lợi của những người nhập cư hợp pháp có công ăn việc làm và nộp thuế hơn 5 tỉ đô la hàng năm. Mức giới hạn thời gian hưởng phúc lợi là 5 năm trong một đời người cần phải được hủy bỏ đối với những người thất nghiệp trong một nền kinh tế không có việc làm. Cần chi tiêu nhiều tiền hơn vào giáo dục và đào tạo, và phải đào tạo theo yêu cầu công việc. Và các bang có trách nhiệm giải trình về cách thức chi tiêu ngân sách phúc lợi của liên bang.

Vì Bill tranh thủ được nhiều sự ủng hộ hơn từ công chúng Mỹ vài tháng trước khi diễn ra cuộc tuyển cử năm 1996, các đối thủ của anh đã tung ra tất cả những gì có thể để làm suy yếu thế mạnh của anh ấy. Tạp chí Time đã nhận ra xu thế này vào đầu tháng Bảy, khi đăng tải một bài viết có tựa đề "Yếu tố Starr". Bài báo tường thuật rằng "Trong nhiều tháng, Clinton đã chờ đợi các đối thủ Cộng hòa của mình sẽ biến cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm 1996 thành một trận chiến thật sự. Cuối cùng, có vẻ như ông cũng đã tìm thấy người ấy, và đó không phải là Bob Dole. Mỗi vấn đề thực sự làm khổ tâm Tổng thống đều có bóng dKenneth Starr đâu đó... Khi chiến dịch tranh cử của Dole vẫn chưa đạt được sự lôi cuốn cần thiết, hy vọng của Đảng Cộng hòa đang dựa vào một chế độ Tổng thống bị phá nát bởi các trát hầu tòa và những bản cáo trạng".

Vụ xì căng-đan giả mới nhất dường như được dàn dựng đúng vào thời điểm đại hội mùa hè và xoay quanh hành động của hai nhân viên quản lý cấp trung của Nhà Trắng, Craig Livingstone Anthony Marceca thuộc bộ phận An ninh Nhân viên. Năm 1993 họ đã yêu cầu FBI cung cấp lý lịch những quan chức vẫn thường lui tới Nhà Trắng để thu thập hồ sơ cá nhân tất cả những người có quyền ra vào Nhà Trắng một cách hợp pháp. Bộ phận An ninh Nhân viên, mặc cho tên gọi của nó, không phải thực hiện "những kiểm tra an ninh" như thế - mà chính FBI mới phải đảm nhiệm. Hơn nữa, bộ phận này cũng không phải chịu trách nhiệm về vấn đề an ninh vì đó là công việc của Sở Mật vụ. Tôi chưa bao giờ hình dung ra những trách nhiệm khác mà bộ phận này phải đảm nhận nhưng nó chịu trách nhiệm theo dõi các nhân viên hiện tại của Nhà Trắng, đảm bảo thời gian nghỉ phép hoặc thôi việc của họ được cập nhật và truyền đạt các chỉ thị về an ninh đến những nhân viên mới của Nhà Trắng. Khi Tổng thống Bush rời nơi này vào tháng 1 năm 1993, người của ông ấy đã lấy đi tất cả các giấy tờ của bộ phận An ninh Nhân viên - điều này là hợp với điều luật Presidential Record (Hồ sơ Tổng thống) để mang về Thư viện Bush. Chính quyền mới vì thế không hề có hồ sơ nào của riêng mình (phân biệt với hồ sơ của Sở Mật vụ) về những nhân viên cố định của Nhà Trắng. Livingstone và Marceca bấy giờ đang cố thiết lập lại những hồ sơ bộ phận An ninh Nhân viên này khi họ nhận được từ FBI hàng trăm hồ sơ, gồm cả một số hồ sơ về các quan chức của chính quyền Reagan và Bush. Họ không nhận thấy sai lầm nào. Khi một nhân viên khác nhận ra, cô ta đem gởi nó vào kho lưu trữ thay vì đem trả lại cho FBI. Nhà Trắng đã thừa nhận và xin lỗi về việc làm lộn xộn đầy quan liêu này. Tuy nhiên, "vụ hồ sơ" (Filegate đã được đưa vào danh mục điều tra của Kenneth Starr.

Câu chuyện vẫn chưa dừng tại đó, một nhân viên FBI đã nói với nhân viên Ủy ban Tư pháp Thượng viện rằng việc kiểm tra hồ sơ của Craig Livingstone cho thấy Livingstone được đảm nhiệm chức trưởng phòng An ninh Nhân viên của Nhà Trắng vì mẹ của anh ta và tôi đã từng là bạn của nhau. Trên thực tế, tôi và bà Livingstone không hề quen biết nhau nhưng chúng tôi đã từng chụp hình chung giữa một nhóm người tại buổi lễ mừng Giáng sinh ở Nhà Trắng. Tôi đang ở Bucharest, tại mộtngôi trường mà Chính phủ giúp họ sửa đổi chương trình giảng dạy thì một nhà báo Mỹ hỏi tôi về mối quan hệ với gia đình Livingstone. Tôi nói với anh ta rằng tôi không nhớ gì về cuộc gặp gỡ nào với Craig hay với mẹ anh ta, nhưng nếu như có khi nào gặp bà ta, tôi sẽ nói "Bà chắc là bà Livingstone, tôi đoán vậy?”.

Suốt tháng Tám, tôi đưa Chelsea đi tham quan các trường đại học ở New England. Mặc dù cứ nghĩ đến giây phút con bé rời gia đình để đi học mà lo, tôi vẫn thấy thú vị khi cùng con đến thăm các trường đại học. Tôi cũng thầm mong con sẽ yêu thích trường học của tôi, Trường Wellesley, hoặc ít ra thì cũng sẽ chọn một ngôi trường ở vùng Bờ biển phía Đông để tôi có thể thăm nom dễ dàng hay nó có thể ngẫu hứng về thăm nhà bất kỳ lúc nào. Tôi đã thỏa thuận với Sở Mật vụ để thu xếp một chuyến đi từ trường này sang trường khác trong một chiếc xe bình thường với càng ít nhân viên đặc vụ càng tốt. Chúng tôi thăm viếng sáu khu đại học mà không thấy có gì đáng chú ý, và tận đáy lòng tôi sẽ mừng biết bao nếu Chelsea đồng ý chọn một trong số các trường đó.

Tuy vậy, Chelsea lại rất mong đến thăm Đại học Stanford, thế là chúng tôi lên đường đi Palo Alto. Vị hiệu trưởng thời đó, Condoleezza Rice, đã tiếp đón chúng tôi thật nồng hậu ngay từ giây phút đầu tiên của chuyến thăm viếng kéo dài cả ngày hấy, làm cho Chelsea thật sự vui thích. Con bé thích quang cảnh ngôi trường được xây dựng giữa các chân đồi, thời tiết ôn hòa và lối kiến trúc tôn giáo. Khi gọi điện cho Bill tối hôm ấy, tôi nói rằng Stanford chắc sẽ là chọn lựa đầu tiên của Chelsea, tôi nghĩ đó là điều chúng tôi phải chấp nhận khi nuôi dạy con theo lối sống tự lập.

Một lần nữa chứng tôi lại chọn Jackson Hole, Wyoming cho kỳ nghỉ hè. Cũng tại nơi này, tôi đã nỗ lực hết sức để viết xong quyển It Takes a Village một năm trước đó còn bây giờ thì tôi có thời gian rảnh để cùng Bill và Chelsea lang thang qua những cánh đồng cỏ đầy hoa dại vào mùa hè ở Grand Tetons và khám phá Công viên Quốc gia Yellowstone gần đó. Những đồng cỏ trải dài và khu vực có nhiều mạch nước phun đã được bảo tồn cho nhiều thế hệ người Mỹ tương lai kể từ năm 1872 khi chính quyền nước Mỹ chỉ định Yellowstone là công viên quốc gia đầu tiên của Mỹ và của cả thế giới. Kể từ đó, những công viên quốc gia của Mỹ đã trở thành kiều mẫu và nguồn cảm hứng cho các quốc gia khác trong việc bảo vệ các di sản tự nhiên. Cứ mỗi lần đến thăm một công viên quốc gia nào của đất nước, tôi lại cảm thấy thật hạnh phúc vì tổ quốc ta được ban cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như thế. Nhiệm vụ của chúng ta không chỉ dừng ở chỗ bảo tồn các cảnh quan tươi đẹp, mà còn phải chăm lo cho một môi trường lành mạnh và cân bằng. Ở Yellowstone, nơi những con sói xám đã bị đánh bẫy tiêu diệt, các nhà sinh học của chính phú đã thả một số lượng sói nhỏ để giúp khôi phục lại quan hệ tự nhiên giữa loài ăn thịt và những con thú khác trong công viên. Trong chuyến viếng thăm Yellowstone, Chelsea, Bill và tôi đã băng rừng lội suối đến những khu trại giữ thú, nơi có những bầy sói đang được nuôi dưỡng để thích nghi với khí hậu của vùng này trước khi được thả vào môi trường hoang dã. Không hề có bóng dáng của nhà báo, dù có những nhân viên chăm sóc khu bảo tồn, chúng tôi và một vài nhân viên của Sở Mật vụ. Họ thật sự ngạc nhiên vì chưa bao giờ nghĩ là sẽ phải bảo vệ gia đình nguyên thủ quốc gia trước những con sói thật.

Bill công bố một thỏa thuận lịch sử đình chỉ hoạt động của một mỏ vàng lớn do nước ngoài sở hữu tại vùng biên giới Yellowstone vì khả năng đe dọa tính nguyên sơ của môi trường nơi đây. Càng nhiều tuổi, tôi càng đam mê côngviệc bảo vệ trái đất chúng ta khỏi những tổn hại không thể khắc phục và không cần thiết. Một nền kinh tế vững mạnh và một môi trường trong sạch là những mục tiêu không loại trừ nhau. Trong thực tế, chúng sánh đôi với nhau, bởi lẽ tất cả mọi sinh hoạt của cuộc sống và kinh tế sau cùng đều phụ thuộc vào sự quản lý của chúng ta đối với thiên nhiên chung quanh. Trong suốt những năm tại Nhà Trắng, tôi ủng hộ cho chương trình "xanh hóa" của Nhà Trắng, một đề án nhằm cải thiện tình trạng môi trường của các khu nhà cao tầng thông qua việc giảm sử dụng năng lượng, tái sử dụng triệt để chất thải và các biện pháp khác. Qua một chương trình mà tôi khởi xướng - "Hãy bảo vệ các kho tàng của nước Mỹ"- tôi quyên góp được một số tiền cho các công viên và tôi đã đến thăm những nơi này. Tôi ủng hộ cam kết của Bill và Al trong việc bảo vệ đất đai, làm sạch không khí và nước, khắc phục sự thay đổi khí hậu toàn cầu và tiếp tục việc bảo tồn và các nguồn năng lượng thay thế. Nhưng điều quan tâm chính của tôi là ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sức khoẻ con người. Việc khảo sát mang tính cá nhân của bản thân tôi về những chứng bệnh của các cựu chiến binh Chiến tranh vùng Vịnh, về tỉ lệ gia tăng của chứng hen suyễn ở trẻ con và chứng ung thư vú ở phụ nữ khiến tôi tin rằng các ảnh hưởng của môi trường đối với sức khỏe đòi hỏi chúng ta cần tiến hành một cuộc nghiên cứu lâu dài.

Hội nghị Đảng Cộng hòa mở ra vào ngày 12 tháng 8 tại San Diego. Theo truyền thống, Đảng tổ chức hội nghị để công khai hoàn toàn việc đề cử các ứng cứ viên và công bố rộng rãi thông điệp của chiến dịch tranh cử.

Trong khi đó, ứng cử viên của Đảng còn lại đứng yên lặng bên lề. Điều này xem ra cũng hay vì tôi nghĩ chúng tôi cần có một khoảng lặng. Tôi đã không xem các bài diễn văn trên tivi, nhưng tôi nhanh chóng nghe bạn bè nói về những lời phát biểu của Elizabeth Dole trước các đại biểu vào đêm thứ hai của hội nghị. Nguyên bộ trưởng nội các của chính quyền Reagan và Bush đã đi giữa đám đông, mi-crô trong tay, và phát biểu những lời lẽ đầy yêu thương về chồng mình, về sự nghiệp và những niềm tin của ông ấy. Đĩnh đạc và thông minh, bà là một luật sư được đào tạo bài bản và là một chính trị gia chuyên nghiệp, sự hiện diện và tài năng hùng biện của bà đã củng cố sức mạnh cho chiến dịch tranh cử của chồng. Và mặc dù Dole là đối thủ không khoan nhượng của chúng tôi, tôi vẫn vui được thấy hình ảnh một người phụ nữ mà trong tình huống căng thẳng vẫn tỏ ra có khả năng ứng phó tốt và xứng đáng nhận được sự ca ngợi. Quả là một khúc quanh kỳ lạ của số phận khi cả hai chúng tôi hiện nay đều làm việc ở Thượng viện.

Bài diễn văn của bà Dole đã tạo nên những sự so sánh không tránh khỏi giữa hai chúng tôi, và khi bà ấy chỉ vừa bước xuống sân khấu thì các nhân viên của tôi đã bị tra hỏi dồn dập về việc tôi dự định sẽ phát biểu như thế nào tại hội nghị Đảng Dân chủ. Các nhà báo thắc mắc không biết tôi sẽ đứng ở trên bục hay băng qua đám đông, như bà Dole đã làm. Bị lôi cuốn bởi ý định thử làm một điều mới mẻ, tôi nhận thấy tốt hơn là mình hãy từ bỏ thói quen cứ bám chặt vào các đề tài và phong cách của mình.

Tôi đến Chicago vào ngày Chủ nhật, 25 tháng 8, ba ngày trước khi Bill cùng Chelsea đến bằng tàu lửa từ West Virginia. Besty Ebeling đã tổ chức một cuộc họp mặt gia đình cùng các bạn bè ở nhà hàng Riva, trên bến tàu Navy nhìn ra hồ Michigan. Tôi nhanh chóng nhận ra nỗi hào hứng của Chicago khi được đăng cai hội nghịThị trưởng Richard M. Daley, người trùng tên và là con trai của một nhân vật chính trị vĩ đại của Chicago đã quá cố, cũng đã làm rất nhiều việc để chuẩn bị sẵn sàng cho thành phố: những con đường với các hàng cây mới trồng thắng tắp, không hề có lấy bóng dáng một người biểu tình phản đối như đã từng xảy ra trong suốt cuộc hội nghị năm 1968 khi cha của ông làm thị trưởng. Lần này mọi việc diễn ra hoàn toàn thuận lợi.

Bài phát biểu của tôi trước các đại biểu đã xếp lịch vào tối hôm thứ Ba sẽ đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một Đệ nhất Phu nhân phát biểu trước một hội nghị chính trị quốc gia và được phát sóng truyền hình vào giờ cao điểm. Bà Eleanor Roosevelt là người đầu tiên phát biểu tại một cuộc hội nghị, nhưng đó là vào năm 1940, trước thời đại truyền hình. Khoảng thời gian 48 giờ trước khi tôi đọc diễn văn đặc kín các sự kiện. Tôi thuyết trình tại Cuộc họp kín của những người phụ nữ Đảng Dân chủ, gặp gỡ với nhiều phái đoàn của các bang khác nhau, khánh thành một công viên để tưởng niệm Jane Addam và tham quan một trường học cộng đồng. Tôi cũng dành thời gian nghiên cứu bài diễn văn của mình và sửa chữa nó cho đến tận tối hôm thứ Hai khi tôi đến United Center để thực tập trên thiết bị TelePrompTer. Center là sân nhà của đội bóng rổ quán quân thế giới Chicago Bulls, những người đã trở thành nguồn cảm hứng cho một trong số các ảnh cổ động chính trị mà lúc nào tôi cũng ưa thích. Đội bóng rổ Bulls năm 1996 gồm có Michael Jordan độc nhất vô nhị; Scottie Pippen, người tôi quen từ Arkansas và "chú bé hư" của Hội bóng rổ quốc gia, Dennis Rodman. Một bức ảnh cổ động chính trị được bán tại hội nghị có hình ảnh gương mặt của tôi cùng mái tóc sặc sỡ của Rodman và dòng chữ như sau: "Hillary Rodman Clinton: Tệ như bà ấy muốn".

Vào sáng sớm ngày thứ Ba, tôi cảm thấy không hài lòng với bài diễn văn của mình. Tôi nhớ Bill, anh ấy vẫn còn ngồi trên tàu và không liên lạc được đ̑ có thể chia sẻ, củng cố tinh thần cho tôi như tôi mong đợi. Chỉ hơn 12 giờ nữa thôi, tôi sẽ nói chuyện với những khán giả rất quan trọng, và tôi đang cố hết sức để tìm những từ ngữ đúng nhất để chuyển tải các đề tài và quan điểm của mình.

Vô tình Bob Dole trở thành vị cứu tinh của tôi. Sự việc xảy ra đột ngột làm tôi hoàn toàn bất ngờ. Trong bài phát biểu ca ngợi tại hội nghị của Đảng Cộng hòa, ông ta đã tấn công những giả thuyết trong quyển sách của tôi, It Takes a Village. Ông ta đã sử dụng nhầm lẫn khái niệm về ngôi làng thành một hình ảnh ẩn dụ nói đến "nhà nước" và ám chỉ rằng tôi, và nói rộng ra là những đảng viên của Đảng Dân chủ, tạo thuận lợi cho chính quyền xâm phạm vào mọi khía cạnh của đời sống Mỹ. Ông ấy phát biểu rằng "Và sau sự hủy hoại thật sự đối với gia đình Mỹ, vốn là nền tảng của xã hội Mỹ, chúng ta lại được báo là cần có một ngôi làng, thực chất là một tập thể, nghĩa là một nhà nước, để nuôi dưỡng một đứa trẻ", “...và với tất cả sự tôn trọng đúng mực, tôi đến đây để nói với các bạn rằng không phải cần đến một ngôi làng để nuôi dưỡng một đứa trẻ. Mà cần có một gia đình để nuôi dưỡng một đứa trẻ".

Dole đã hiểu sai quan điểm của quyển sách, rằng các gia đình là mối dây trách nhiệm đầu tiên đối với trẻ em, nhưng chính ngôi làng - một hình ảnh ẩn dụ ngụ ý xã hội nói chung - chia sẻ phần trách nhiệm về văn hóa, kinh tế và môi trường mà trong đó trẻ em lớn lên. Một viên cảnh sát đi tuần, một giáo viên đứng lớp, vị dân biểu lập pháp thông qua các điều luật hay vị lãnh đạo công ty quyết định bộ phim cần dàn dựng, tất cả đều có ảnh hưởng đến trẻ em của nước Mỹ.

Tôi nắm bắt lấy chủ đề ngôi làng và chúng tôi đã nhanh chóng phác thảo của bài diễn văn xoay chung quanh đó. Đoạn tôi vào một căn phòng nhỏ ở tầng hầm của United Center để tập dượt lần cuối với Michael Sheehan, một bậc thầy xuất chúng về truyền thông, người đã có những nỗ lực hết mình để hướng dẫn tôi cách sử dụng TelePrompTer, một thiết bị mà tôi chưa bao giờ dùng trước đó và luôn có cảm giác mình sẽ không thể nào sử dụng thành thạo được. Mặc dù cuối cùng cũng tìm kiếm được những từ ngữ mình ưng ý nhất, tôi vẫn có thể sẽ làm tiêu tan bài diễn văn nếu như tôi thể hiện như một rô-bốt, vì thế tôi đã luyện tập cho đến khi cảm thấy mọi việc đều ổn thỏa.

Cuối cùng, đã đến lúc bắt đầu. Chelsea đã đi cùng Bill hai ngày trên tàu nhưng rồi cũng bỏ bố để đến với tôi. Con bé ngồi cùng với mẹ tôi, các em của tôi, Dick Kelley, Diane Blair, Betsy Ebeling và một số đông các bạn bè tại một khu riêng biệt trên cao, nơi mọi người có thể nhìn rất rõ bục phát biểu.

Có khoảng hai chục ngàn người chen chúc trong phòng hội nghị, và không khí bên trong thật là sôi động và hứng khởi. Hai trong số những diễn giả tài ba nhất của đảng chúng tôi- cựu thống đốc New York Mario Cuomo và nhà lãnh đạo nhân quyền Jesse Jackson - đã thuyết trình trước tôi, khởi động tinhthần của những đảng viên trung thành của Đảng Dân chủ bằng những bài diễn văn mở màn kinh điển để củng cố các giá trị của đảng.

Khi tôi tiến lên sân khấu, đám đông bừng lên một tràng pháo tay cuồng nhiệt, hô to khẩu hiệu và đậm mạnh chân khiến tôi xúc động và giải tỏa bớt sự căng thẳng. Nỗ lực yêu cầu đám đông ngồi xuống của tôi không có hiệu quả, bởi thế nên tôi chỉ biết vẫy tay chào và chìm trong làn sóng chào đón vang dội của mọi người.

Cuối cùng những tiếng la rền vang cũng lắng xuống và tôi bắt đầu nói. Những lời bình luận của đơn giản và đi thẳng vào vấn đề Tôi muốn mọi người hãy hình dung thế giới sẽ ra sao khi Chelsea bằng tuổi tôi bây giờ, vào năm 2028. "Có một điều mà chúng ta biết chắc chắn là sẽ có những sự thay đổi", tôi nói. "Sự tiến bộ không phải là một điều tự nhiên mà có. Sự tiến bộ phụ thuộc vào những chọn lựa của chúng ta hôm nay cho ngày mai và phụ thuộc vào việc chúng ta có đáp ứng được các thử thách cũng như bảo vệ các giá trị của mình hay không.”

Sau khi đề cập đến những vấn đề như mở rộng phạm vi điều luật về Nghỉ phép vì việc gia đình, đơn giản hóa việc nhận con nuôi và thông qua một dự luật đảm bảo cho bà mẹ và trẻ em không bị buộc rời bệnh viện trong vòng 48 tiếng sau khi đứa trẻ được sinh ra, tôi bắt đầu đi vào trọng tâm bài viết để trả lời Bob Dole:

Đối với Bill và tôi, không có kinh nghiệm nào khó khăn hơn, đáng làm hơn và khiêm tốn hơn việc nuôi dạy con gái của mình. Và chúng tôi đã nhận ra rằng để nuôi dạy một đứa trẻ được hạnh phúc, khỏe mạnh và tràn đầy hy vọng, cần có một gia đình. Cần có những thầy cô giáo. Cần có những người lãnh đạo tôn giáo. Cần có những nhà doanh nghiệp. Cần có những người lãnh đạo cộng đồng. Cần có những người chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Cần có tất cả mọi người trong chúng ta.

Phải, cần có một ngôi làng, hay một cộng đồng.

Và cần có một Tổng thống.

Cần có một Tổng thống, người tin tưởng không chỉ vào tiềm lực

của chính đứa con mình, mà vào tất cả mọi trẻ em, người dám tin

không chỉ ở sức mạnh nơi gia đình riêng của mình, mà còn dám

tin vào gia đình nước Mỹ.

Cần có Bill Clinton.

Một lần nữa đám đông lại vang dội. Họ không chỉ tin rằng Bill quan tâm đến trẻ con, mà họ còn hiểu rằng tôi đang trực tiếp đối đầu với chủ nghĩa cá nhân triệt để của những người theo Đảng Cộng hòa và quan điểm hạn hẹp, không thực tế về những gì mà hầu hết người Mỹ cần có để nuôi dạy con cái vào thời điểm cuối thế kỷ hai mươi.

Tối thứ Tư, Chelsea và tôi đi gặp Bill, anh ấy vừa mới xuống tàu với những tin tức không tốt lành. Một tờ báo lá cải sắp công bố một bài báo xác nhận rằng Dick Morris đã trả tiền cho một cô gái gọi đến một khách sạn nơi ông ta ngủ trong thời gian ở Washington. Câu chuyện đăng trên báo ngày thứ năm đã trích dẫn rất nhiều những lời của cô gái. Cô ta nói rằng Morris khoe khoang việc đã viết bài diễn văn hội nghị của tôi, cũng như của Phó Tổng thống - rằng cũng chẳng phải ông này đã tự viết bài diễn văn của mình. Morris đã rút lui khỏi chiến dịch tranh cử. Bill đã nói lời cám ơn ông ta vì sự hợp tác và gọi ông ta là "nhà chiến lược chính trị siêu sao". Sau khi Morris ra đi, chiến dịch tiếp diễn suôn sẻ vì Mark Penn tiếp tục cung cấp những kết quả nghiên cứu và phân tích đầy hiệu quả.

Sự xuất hiện của Bill trước hội nghị khi đón nhận lời đề cử đã dấy lên cảm xúc mạnh mẽ của đám đông. Ngay từ giây phút Bill bắt đầu nói, anh đã tập trung được sự chú ý cao độ của công chúng và sử dụng điều đó cùng với một tình cảm say mê, sự nhiệt tình hoàn hảo để chứng tỏ khả năng tiếp tục đạo nước Mỹ. Anh ấy đã xem xét lại tiến trình phát triển của nước Mỹ từ tình hình đất nước năm 1992 và trong suốt thời gian anh ấy giữ chức Tổng thống. Từ chỗ ngồi ở trên cao, Chelsea và tôi theo dõi với một niềm tự hào to lớn khi anh ấy thuyết trình như một nghệ sĩ tài ba. Khi Bill trình bày được khoảng hai phần ba bài diễn văn, chúng tôi bắt đầu đi xuống để sẵn sàng cùng bước đến đứng bên cạnh anh ấy trên sân khấu khi kết thúc hội nghị. Lúc chúng tôi đi đến hậu trường, anh ấy đang bắt đầu kết thúc vấn đề. Bill kết thúc bài diễn văn bằng cách quay ngược trở lại chiến dịch tranh cử năm 1992 của mình và khắng định rằng "sau bốn năm miệt mài và tốt đẹp này, tôi vẫn tin tưởng vào một nơi gọi là Niềm Hy Vọng, một nơi gọi là nước Mỹ". Và tôi cũng tin như thế.

linton và chính trường nước Mỹ Living history ebook©MotSAch TVE-4u©heoconmtv —★— Nhà xuất bản: NXB Văn Hóa Sài Gòn 2006
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.