Tôi không sinh ra là một Đệ nhất Phu nhân hay là một Thượng nghị sĩ, cũng không là một người theo Đảng Dân chủ, một luật sư hoặc một người bảo vệ cho nữ quyền và nhân quyền. Tôi không sinh ra là một người vợ hoặc người mẹ. Tôi được sinh ra là một người Mỹ vào giữa thế kỷ hai mươi, vào một thời gian và một nơi may mắn. Tôi được tự do lựa chọn những điều mà phụ nữ nước tôi trong các thế hệ trước không hề có và rất nhiều phụ nữ khác trên thế giới ngày nay cũng không hình dung ra được. Tôi ra đời vào giai đoạn đỉnh điểm của sự thay đổi xã hội dữ dội và tham gia vào những cuộc đấu tranh chính trị về ý nghĩa của nước Mỹ và vai trò của nó trên thế giới.
Mẹ và bà của tôi chưa bao giờ sống một cuộc sống như tôi, bố tôi và ông tôi cũng chẳng bao giờ tưởng tượng ra được cuộc sống đó như thế nào. Nhưng họ đã ban cho tôi một hứa hẹn về nước Mỹ, giúp cho cuộc sống và những sự lựa chọn của tôi trở thành hiện thực.
Câu chuyện của tôi bắt đầu từ những năm tháng sau Thế chiến thứ hai, khi những người đàn ông như bố tôi sau khi đã phục vụ cho tổ quốc quay về nhà để ổn định lại cuộc sống, kiếm tiền và nuôi nấng gia đình. Đó là lúc bắt đầu giai đoạn "Baby Boomer" - bùng nổ trẻ mới sinh, một thời kỳ lạc quan. Hoa Kỳ đã đưa thế giới thoát khỏi họa phát xít, và bây giờ đang là lúc quốc gia của chúng tôi làm việc để hợp nhất những đối phương trước đây trong thời hậu chiến, mở rộng những đồng minh và chìa tay ra cho kẻ thù xưa, bảo vệ nền hòa bình và giúp tái thiết một châu Âu và Nhật Bản đã bị tàn phá trong chiến tranh.
Cho dù cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô và Đông Âu đã bắt đầu nhưng bố mẹ tôi và thế hệ của họ vẫn cảm thấy an toàn và hy vọng. Uy thế của nước Mỹ có được không phải chỉ nhờ vào sức mạnh quân sự, mà còn từ giá trị của chúng tôi và từ vô số cơ hội dành cho mọi người như bố mẹ chúng tôi, những người đã lao động cần mẫn và có trách nhiệm. Đó là thời kỳ của nhiều người Mỹ trung lưu giàu tiền lắm của, với mọi thứ phồn thịnh - nhà mới, trường đẹp, công viên gần nhà, cộng đồng an ninh. Tuy vậy, đất nước chúng tôi vẫn còn những việc chưa giải quyết của thời hậu chiến, đặc biệt là về vấn đề chủng tộc. Chính thế hệ sống qua Thế chiến thứ hai và con cái họ đã ý thức được sự bất công, bất bình đẳng và thử thách của việc đưa lời hứa hẹn của nước Mỹ đến với mọi công dân.
Bố mẹ tôi là một thế hệ điển hình đặt lòng tin vào khả năng vô tận của nước Mỹ. Niềm tin đó của họ có nguồn gốc từ những kinh nghiệm sống qua thời kỳ Đại suy thoái. Họ tin vào việc lao động cần mẫn - chứ không phái đặc quyền, tin vào chính mình - chứ không phải dựa dẫm vào người khác.
Đó là thế giới và gia đình nơi tôi sinh ra vào ngày 26 tháng 10 năm 1947. Chúng tôi thuộc tầng lớp trung lưu ở vùng Trung Tây và thật sự là một sản phẩm của thời đại và đất nước. Mẹ tôi, Dorothy Howell Rodham, là một người nội trợ suốt ngày quanh quẩn bên tôi và hai em trai tôi. Bố tôi, Hugh E. Rodham, làm chủ một doanh nghiệp nhỏ. Những khó khăn trong cuộc đời bố mẹ đã dạy cho tôi biết ơn các cơ hội trong cuộc đời của mình nhiều hơn nữa.
Tôi vẫn còn ngạc nhiên về việc làm thế nào mẹ tôi với một tuổi thơ đơn độc lại có thể vượt lên trở thành một người phụ nữ trìu mến và điềm đạm. Mẹ tôi sinh năm 1919 ở Chicago. Ông ngoại tôi, Edwin John Howeu, Jr., vốn là một lính cứu hỏa ở Chicago, cưới bà Della Murray, là một trong chín người con của một gia đình có nguồn gốc pha trộn cả Pháp, Canada, Scotland và ng1;i Mỹ bản địa. Ông bà ngoại tôi rõ ràng là đã không chuẩn bị làm cha mẹ. Bà ngoại tôi thực chất đã bỏ rơi mẹ tôi khi bà mới lên ba hoặc bốn tuổi - luôn bỏ mặc mẹ tôi cả ngày với mấy phiếu thực phẩm của một nhà hàng gần khu căn hộ năm tầng ở phía nam Chicago. Ông ngoại tôi quan tâm hơn một chút, thỉnh thoảng có mang về một món quà, như con búp bê to nhờ thắng được từ một lễ hội, chứ không phải là sự gần gũi gia đình. Dì Isabelle được sinh ra năm 1924. Hai chị em mẹ tôi bị đưa đi đưa lại từ nhà người bà con này đến nhà người bà con khác, hết trường học này lại đến trường kia, chẳng ở nơi nào đủ lâu để có được bạn bè. Cuối cùng đến năm 1927, ông bà ngoại tôi - lúc ấy vẫn còn trẻ - quyết định ly dị nhau. Đó là một việc hiếm hoi và rất đáng hổ thẹn trong thời kỳ ấy. Chẳng ai muốn chăm sóc mấy đứa trẻ. Mẹ và dì tôi được gửi lên xe lửa từ Chicago về ở với ông bà nội của họ tại Alhambra, một thị trấn gần San Gabriel Mountains phía đông Los Angeles. Trong chuyến đi dài bốn ngày đó, mẹ tôi lúc đó lên tám tuổi phải trông nom đứa em ba tuổi của mình.
Mẹ tôi ở lại Califomia mười năm, chẳng có lúc nào được gặp lại mẹ mình và hiếm khi thấy được mặt bố. Ông nội của mẹ, Edwin, Sr. là một cựu thủy thủ người Anh. Ông giao mấy đứa trẻ cho vợ mình, Emma, là một người đàn bỏ mặc mẹ tôi trừ khi ép buộc bà phải tuân theo những luật lệ khe khắt trong nhà. Emma không khuyến khích khách đến nhà chơi và hiếm khi cho phép mẹ tôi được đi dự tiệc tùng bên ngoài. Vào một ngày lễ Halloween, khi bà Emma bắt gặp mẹ tôi tham dự trò vòi quà với lũ bạn cùng trường, bà đã phạt mẹ tôi phải ở trong phòng riêng cả một năm, chỉ trừ những giờ lên lớp học. Bà cấm mẹ tôi không được ăn tại bàn trong bếp hoặc la cà trong sân trước nhà. Hình phạt độc ác này kéo dài trong nhiều tháng cho tới khi chị của bà Emma là Belle Andreson đến thăm và bắt phải chấm d
Mẹ tôi tìm ra vài niềm khuây khỏa ở bên ngoài căn nhà nghiệt ngã đó. Mẹ thích chạy xuyên qua cánh rừng cam trải dài nhiều dặm trong thung lũng San Gabriel, đắm mình trong mùi hương của trái cây đang chín dưới ánh mặt trời. Vào buổi tối, mẹ trốn vào sách vở. Bà là một học trò xuất sắc được các giáo sư khuyến khích đọc và viết thêm.
Lúc lên mười bốn tuổi, mẹ tôi không còn chịu đựng được cuộc sống trong nhà bà nội của mình nữa. Mẹ tôi tìm được việc giữ trẻ: chăm sóc hai đứa nhỏ để đổi lấy một căn phòng ở, ăn uống và ba đô la một tuần. Bà không còn chút thời gian để theo đuổi hoạt động điền kinh và kịch nghệ ngoại khóa mà bà yêu thích, cũng chẳng có tiền để sắm quần áo. Mẹ phải giặt áo mỗi ngày để mặc với cái váy duy nhất. Trong mùa lạnh giá, chiếc áo len cũng là chiếc duy nhất. Nhưng đầy là lần đầu tiên mẹ tôi được sống trong một ngôi nhà mà ở đó, người cha và người mẹ bày tỏ tình thương yêu, sự quan tâm và chăm sóc đối với những đứa con của mình, những điều giản dị mà trước đó bà chưa bao giờ chứng kiến. Mẹ tôi thường kể lại rằng nếu không có thời gian sống cùng một gia đình tốt đẹp như thế, có lẽ mẹ chẳng bao giờ biết được cách chăm sóc cho gia đình và con cái của mình sau này.
Sau khi tốt nghiệp trung học, mẹ tôi dự tính vào đại học ở California. Nhưng lần đầu tiên sau 10 năm bà ngoại tôi, Della, đã liên lạc và muốn mẹ tôi chuyển về sống chung với bà ở Chicago. Bà ngoại vừa lập gia đình mới và hứa là sẽ lo cho mẹ ăn học tại đó. Nhưng khi đến Chicago, mẹ nhận ra rằng Della chỉ muốn mẹ làm người quản gia chứ chẳng giúp đỡ gì việc học hành cả. Quá đau khổ, mẹ tôi chuyển vào ở trong một căn hộ nhỏ và tìm một công việc văn phòng với mức lương mười ba đô la cho một tuần làm việc năm ngày rưỡi. Khi tôi hỏi tại sao mẹ lại quay về Chicago, mẹ đáp: "Vì mẹ quá hy vọng nhận được tình thương yêu của bà ngoại con. Niềm hy vọng ấy nhiều đến nỗi mẹ phải nắm lấy cơ hội để tìm ra điều đó. Và khi không có được điều ao ước đó, mẹ không còn biết phải đi đâu nữa".
Ông ngoại tôi mất năm 1947, vì vậy tôi chẳng bao giờ được gặp ông. Nhưng tôi biết bà ngoại mình, Della, một người đàn bà yếu đuối và bê tha, luôn luôn dán mắt vào những bộ phim truyền hình nhiều tập và xa lánh hiện thực. Lúc tôi lên mười, trong một lần bà đến trông nom mấy chị em tôi, tôi bị cánh cổng có dây xích đập vào mắt khi đang chơi ở sân trường. Tôi chạy về nhà cách đó ba khu phố, vừa khóc vừa ôm đầu với máu me đầy mặt. Bà trông thấy tôi và ngất xỉu ngay. Tôi phải nhờ người hàng xóm giúp băng bó vết thương. Khi tỉnh lại, bà phàn nàn rằng tôi đã làm bà khiếp vía - và bà có thể bị thương nếu lỡ té nhào xuống đất lúc ngất đi ấy. Tôi phải chờ tới lúc mẹ về để được đưa đi bệnh viện khâu lại vết thương.
Trong những dịp hiếm hoi khi cho phép người khác đi vào thế giới nhỏ bé của mình, bà có vẻ rất vui. Bà thích ca hát và chơi bài. Khi chúng tôi đến thăm bà ở Chicago, bà thường dẫn chúng tôi đến Kiddieland - Khu vườn tuổi thơ - hoặc rạp chiếu phim gần đó. Khi mất năm 1960, bà vẫn là một người phụ nữ bất hạnh và bí ẩn. Nhưng chính bà đã đưa mẹ tôi đến Chicago, và đó là nơi mẹ đã gặp cha tôi, Hugh Rodham.
Bố tôi sinh quán ở Scranton, Pennsylvania, là con giữa của ông bà nội tôi - Hugh Rodham, Si. và Hannah Jones. Diện mạo như những người thợ mỏ than tóc đen xứ Wales của ông là từ bên ngoại. Giống tính bà nội tôi, bố là người ương ngạnh và cộc cằn, nhưng khi ông cười thì âm thanh như phát ra từ bên trong và làm rung cả người. Tôi thừa hưởng giọng cười này của bố, cũng hay cười vang ha hả làm mọi người trong nhà hàng phải quay đầu nhìn và làm mấy con mèo phát hoảng, chạy trốn khỏi phòng.
Scranton vào thời trẻ của bố tôi là một thành phố công nghiệp thô kệch với những nhà xưởng bằng gạch, xí nghiệp dệt, xưởng xe lửa, mỏ than, và những căn nhà gỗ. Những người thuộc hai dòng họ Rodham và Jones là những người lao động cần cù và là tín đồ nghiêm túc của Hội Thánh.
Ông nội tôi, Hugh Si., là người thứ sáu trong gia đình có mười một con. Ông đi làm cho Công ty Scranton Lace từ khi còn nhỏ và năm thập niên sau đó nghỉ hưu với chức vụ quản đốc. Ông là một người mềm mỏng, nhẹ nhàng, khá tương phản với bà vợ dữ dằn, Hannah Jones Rodham, người khăng khăng phải giữ đầy đủ tên gồm ba chữ của mình. Hannah thu tiền thuê các căn nhà do mình làm chủ và điều khiển gia đình cũng như bất cứ ai lọt vào tầm tay của bà. Bố tôi tôn sùng bà và thường kể cho chị em chúng tôi nghe câu chuyện bà đã cứu thoát bàn chân của ông ra sao.
Vào khoảng năm 1920, bố tôi và một người bạn đi nhờ sau thùng xe của một chiếc xe chở nước đá có ngựa kéo. Trong lúc mấy con ngựa đang gắng sức leo dốc, một chiếc xe tải có động cơ đâm thẳng vào phía sau chiếc xe kéo và nghiến nát hai chân của bố tôi. Ông được chở ngay vào bệnh viện gần nhất và các bác sĩ đã cho rằng hai chân ông không thể nào cứu chữa được - họ đã chuẩn bị phẫu thuật cắt bỏ cả hai. Khi Hannah đâm bổ đến bệnh viện và biết được dự tính của các bác sĩ, bà cố thủ trong phòng mổ và nói rằng không một ai có thể chạm đến đôi chân con bà trừ phi muốn cứu chúng. Bà yêu cầu phải gọi ngay người em chồng của mình, bác sĩ Thomas Rodham, đang làm việc tại một bệnh viện khác đến ngay lập tức. Bác sĩ Rodham xem xét chân của bố tôi và tuyên bố rằng: "Không ai được cắt bỏ đôi chân của đứa bé này". Bố tôi trước đó đã ngất đi vì đau, khi tỉnh lại thấy mẹ mình đang đứng canh giữ, đoán chắc với ông rằng đôi chân của ông đã được cứu chữa và hứa hẹn sẽ đánh cho ông một trận ra trò khi ông được về nhà. Đó là câu chuyện gia đình mà chúng tôi vẫn nghe đi nghe lại, một bài học khi đương đầu với quyền lực và không bao giờ bỏ cuộc.
Ấn tượng của bà Hannah đối với tôi là một người phụ nữ quyết đoán với năng lực và sự thông minh không biết dùng vào đâu, vì thế bà đã can thiệp vào chuyện của bất cứ ai. Người con trai lớn, bác Willard của tôi, là kỹ sư tại thành phố Scranton, nhưng ông chẳng bao giờ đi đâu khỏi nơi ấy mà cũng chẳng lập gia đình. Ông mất chẳng bao lâu sau khi ông nội tôi chết vào năm 1965. Người con út, chú Russell, là đứa con được bà yêu thương nhất. Chú học và chơi điền kinh rất giỏi, tốt nghiệp y khoa, phục vụ quân đội, cưới vợ, có được một con gái, rồi trở lại Scranton hành nghề bác sĩ. Vào đầu năm 1948, chú bị suy nhược thần kinh. Ông bà nội gọi bố tôi về để giúp đỡ chú Russell. Bố tôi vừa về tới đã thấy chú đang tìm cách quyên sinh. Bố tôi phát hiện chú đang treo cổ trên gác mái và kịp cắt dây đưa chú xuống. Ông bèn đưa chú về Chicago sống với gia đình tôi.
Lúc chú Russell đến nhà tôi ở thì tôi chỉ mới tám hay chín tháng tuổi. Chú ấy ngủ trên chiếc đi văng đặt ở phòng khách trong căn hộ chỉ có một phòng ngủ của chúng tôi trong khi chờ được chữa trị tâm lý tại bệnh viện dành cho cựu chiến binh. Chú Russell là người đẹp trai với mái tóc vàng hoe và nước da sáng hơn bố tôi. Một ngày nọ, lúc được hai tuổi, tôi uống phải một chai Coca đựng đấy dầu thông do một người công nhân vô ý để không đúng chỗ. Chú Russell lậpức làm tôi nôn ra hết và đưa đi cấp cứu. Chú bỏ ngành y chẳng bao lâu sau đó và thường nói đùa rằng tôi là bệnh nhân cuối cùng của chú. Chú sống trong khu Chicago và là khách thường xuyên của chúng tôi. Chú Russell mất năm 1962 trong một trận hỏa hoạn do tàn thuốc gây ra. Tôi thương bố tôi vô cùng, trong bao nhiêu năm, người đã cố giữ cho Russell được sống. Thuốc an thần hiện đại có lẽ đã giúp được chú và tôi ước rằng ngày xưa phải chi có thuốc này. Bố muốn báo trực tiếp với ông nội tôi về cái chết của chú Russell và chờ cho tới lúc ông đến thăm. Cuối cùng, ông nội tôi cũng được nghe về cái chết của chú Russell, ông đã ngồi khóc ngay tại bàn ăn trong bếp. Ông tôi đã quá đau khổ và mất ba năm sau đó.
Dù bố tôi đạt được thành công về tài chính vào cuối đời, ông bà nội và ngay cả bố tôi đều cho rằng, bản thân ông cũng không hoàn toàn ngoan ngoãn hay đáng tin cậy như ông anh, Willard, cũng chẳng thông minh và giỏi giang như đứa em, Russell. Bố tôi luôn gây ra rắc rối, lúc thì lén lái chiếc xe mới tinh của hàng xóm đi chơi, khi thì trượt ván có bánh xe trong hành lang của nhà thờ Hội Giám lý Court Street tại một lễ cầu nguyện buổi chiều. Khi tốt nghiệp trường Trung học Central năm 1931, bố tôi dự tính vào làm việc trong xưởng sản xuất ren với ông nội tôi. Nhưng người bạn thân nhất của ông lại vừa được PennState tuyển vào chơi cho đội bóng nhà trường. Người bạn đó bảo huấn luyện viên rằng sẽ không chịu tham gia nếu không có người đồng đội của mình cùng chơi. Vì bố tôi là một vận động viên to khỏe nên huấn luyện viên đồng ý, và thế là bố tôi vào đại học công của tiểu bang để chơi cho đội bóng Nittany Lions. Ông còn chơi cả quyền Anh và tham gia hội sinh viên Delta Upsilon. Tại đó, như tôi được nghe kể lại, bố tôi trở thành một chuyên gia nấu rượu gin trong bồn tắm. Ông tốt nghiệp năm 1935 và quay về Scranton với tấm bằng vật lý vào đúng cao trào của thời kỳ suy thoái.
Chẳng một lời báo trước cho bố mẹ, ông một mình nhảy lên tàu hàng đi về Chicago tìm việc, trở thành một người bán vải màn quanh vùng Midwest. Khi bố tôi quay lại để báo tin và thu xếp hành lý, bà tôi nổi khùng lên và cấm ông không được đi đâu cả. Nhưng rồi ông bà nội tôi cũng nhận thấy rằng công việc lúc này . rất khó tìm trong khi gia đình cũng đang cần tiền để lo cho chú Russell theo học y khoa. Thế là bố tôi chuyển đến Chicago. Suốt cả tuần, bố tôi chạy quanh bán hàng trên vùng thượng Midwest, từ Des Moines tới Duluth, rồi lái xe về Scranton vào cuối tuần để đưa hết số tiền kiếm được cho mẹ mình. Dù bố tôi nói rằng ông chuyển đến Chicago là vì lý do kinh tế, tôi vẫn tin đó là vì ông biết mình phải tách ra khỏi bà nội tôi nếu ông muốn sống một cuộc sống cho riêng mình.
Lúc đó, mẹ tôi vừa nộp đơn vào chân thư ký đánh máy cho một công ty dệt và bắt gặp ánh mắt của chàng bán hàng lãng tử Hugh Rodham. Mẹ bị hấp dẫn bởi nghị lực, sự tự tin và tính hài hước trong tính cách của bố.
Sau một thời gian dài tìm hiểu, bố mẹ tôi kết hôn vào đầu năm 1942, chỉ một thời gian ngắn sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Họ chuyển đến một căn hộ nhỏ trong khu Lincoln Park của thành phố Chicago, gần hồ Michigan. Bố tôi đăng ký tham gia một chương trình đặc biệt của hải quân Gene Tunney - tên của một nhà vô địch quyền Anh hạng nặng - và được phân công đến căn cứ hải quân Great Lakes, cách Chicago một giờ xe chạy về phía bắc. Với cương vi sĩ quan cấp thấp, bố tôi đảm nhiệm huấn luyện cho hàng ngàn thủy thủ trẻ trước khi đưa họ ra khơi, mà phần lớn được tung vào tham chiến ở khu vực Thái Bình Dương. Bố tôi kể lại rằng ông đã buồn vô cùng khi tháp tùng những tân binh trên bờ biển phía tây, đưa họ lên tàu và biết rằng nhiều người trong số đ sống sót để trở về. Sau khi ông mất, tôi đã nhận được thư của nhiều người từng phục vụ dưới quyền ông. Họ thường gửi theo tấm hình chụp một lớp huấn luyện thủy thủ nào đó, người bố đầy tự hào của tôi luôn đứng phía trước hoặc ngay trung tâm tấm ảnh. Tôi thích nhất tấm ảnh ông mặc quân phục và cười rạng rỡ. Trong mắt tôi, ông trông đẹp trai như một tài tử điện ảnh thập niên 1940.
Bố tôi vẫn giữ quan hệ gắn bó với gia đình mình ở Scranton và chở từng đứa con từ Chicago về Scranton để làm lễ rửa tội tại nhà thờ Hội Giám lý Court Street, nơi ông đã dự thánh lễ thời niên thiếu. Bà nội tôi mất khi tôi tròn năm tuổi. Bà hầu như đã lòa khi tôi biết được bà. Nhưng tôi vẫn nhớ việc bà cố mặc cho tôi chiếc áo và bện tóc cho tôi mỗi sáng. Tôi gần gũi với ông nội hơn, người về hưu khi tôi mới được sinh ra - và được thưởng một chiếc đồng hồ vàng sau năm mươi năm lao động tại nhà máy. Ông nội tôi là một người tốt bụng và đúng mực, luôn tự hào đeo chiếc đồng hồ vàng đó trên sợi dây chuyền và diện bộ com-lê với dây nịt treo tề chỉnh. Khi về thăm chúng tôi ở Chicago, ông thường cởi bộ com-lê đó ra và xắn tay áo lên giúp mẹ tôi làm việc nhà.
Bố tôi luôn nghiêm khắc với con cái, nhưng ông cứng rắn với mấy đứa con trai nhiều hơn đối với tôi. Ông nội tôi thường phải can thiệp và điều đó khiến chúng tôi càng quý trọng ông hơn. Mấy chị em tôi thường dành nhiều thời gian ở trong căn nhà của ông trên đại lộ Diamond tại Scranton. Vào mỗi dịp hè, chúng tôi dành trọn tháng Tám đến ở căn nhà vùng quê của ông được dựng lên từ năm 1921, cách khoảng hai mươi dặm về phía tây bắc của Scranton, trong dãy núi Pocono nhìn ra hồ Winola.
Căn nhà nhỏ ở vùng quê không có lò sưởi từ cái bếp lò bằng thép đúc trong nhà bếp, không có nhà tắm bên trong, cũng chẳng có vòi hoa sen. Chúng tôi tắm bằng cách bơi lội trong hồ hoặc đứng dưới mái hiên để được dội một thùng nước xuống đầu. Mái hiên rộng rãi trước nhà là chỗ chơi ưa thích của chúng tôi và cũng là chỗ ông tôi chơi bài với chị em chúng tôi. Ông dạy tôi chơi bài pinooc, mà theo ông là một loại bài thú vị nhất thế giới. Ông đọc truyện và kể cho chúng tôi nghe truyền thuyết về cái hồ mà ông cho rằng nó được đặt theo tên một nàng công chúa người da đỏ, Winola, người đã tự trầm khi bố nàng không cho phép cưới một chiến binh đẹp trai của bộ lạc láng giềng.
Căn nhà đó vẫn thuộc về gia đình chúng tôi và trở thành nơi nghỉ hè truyền thống. Bill và tôi đã dẫn Chelsea đến hồ Winola . lần đầu khi nó chưa tròn hai tuổi. Các em trai tôi luôn đến nghỉ hè ở đấy. Thật may là căn nhà đã được sửa chữa vài chỗ trong mấy năm qua, có gắn thêm vòi tắm hoa sen.
Vào thập niên năm mươi, rất ít người xây nhà ở cạnh con đường xa lộ hai làn xe chạy ngang phía trước như căn nhà vùng quê của chúng tôi. Trong cánh rừng trên núi phía sau nhà, gấu và mèo rừng thường xuất hiện. Bọn trẻ con chúng tôi thích khám phá các vùng thôn quê lân cận, đi dã ngoại và chạy xe trên con đường phía sau nhà, câu cá và bơi thuyền trên dòng sông Susquehanna. Bố tôi dạy tôi bắn súng ở sân sau. Chúng tôi tập nhắm bắn vào mấy cái lon hoặc tảng đá. Nhưng trung tâm của mọi hoạt động vẫn là khu vực từ hồ Winola trải dài theo con đường mòn xuống đến tiệm Foster. Tôi có mấy người bạn trong dịp hè. Họ dẫn tôi đi trượt nước hoặc đi xem phim được chiếu trên màn ảnh bằng tấm vải lớn ngoài trời cạnh bờ hồ. Dọc đường đi, tôi gặp vài người mà tôi không nghĩ rằng có thể gặp được ở Park Ridge, như một gia đình mà bố tôi gọi là "những người trên núi", họ chẳng cần dùng đến điện hay ô tô gì cả. Một thằng nhóc trạc tuổi tôi trong gia đình đóôm xuất hiện trên lưng ngựa trước nhà và hỏi tôi có muốn cưỡi ngựa đi dạo không.
Khi tôi lên mười hoặc mười một gì đó, tôi đã chơi bài pinooc với người lớn - ông nội, bố tôi, Willard và đủ loại người khác, gồm cả một người có tính cách đáng nhớ được gọi là "Lão Pete" và Hank, một kẻ thua bài nổi tiếng xấu tính. Pete sống ở cuối con đường đất và tới chơi bài mỗi ngày, lúc nào cũng chửi rủa và giậm chân khi bắt đầu thua. Hank chỉ đến chơi khi có mặt bố tôi. Ông ta khập khểnh bước lên mấy bậc thềm ở hành lang với cây gậy trong tay và hét lên: "Thằng nhóc tóc đen có ở nhà không? Tao muốn chơi bài đây". Ông ta biết bố tôi từ hồi bố tôi mới sinh ra và đã dạy bố tôi câu cá. Ông ấy chẳng bao giờ thích thua và thỉnh thoảng lại rời khỏi bàn, nhất là khi thua một ván bài tẻ nhạt.
Khi hết chiến tranh, bố tôi mở một công ty nhỏ kinh doanh vải màn đặt tên là Rodrik Fabrics, đặt ở trung tâm mua bán trong khu Loop của Chicago. Văn phòng đầu tiên của bố tôi trông ra dòng sông Chicago. Lần đầu đến đây, tôi mới được ba hoặc bốn tuổi. Để ngăn không cho tôi đến gần cửa sổ lúc nào cũng mở toang để đón gió, bố bảo tôi rằng có một con sói khổng lồ hung dữ đang sống bên dưới đó và sẽ nuốt gọn tôi nếu tôi rơi xuống. Sau này, ông mở một xưởng in lụa trong một tòa nhà ở North Side. Ông tuyển nhân công thời vụ và huy động cả mẹ và chị em tôi lúc ấy đã đủ lớn, vào giúp việc in. Chúng tôi thận trọng đổ mực in vào rìa tấm lụa để in ra mẫu hình lên tấm vải phía dưới. Khi chúng tôi nhấc tấm lụa lên và kéo về phía cuối bàn, hết lần này đến lần khác, nó tạo nên những mẫu hoa văn xinh đẹp mà một số trong đó do bố tôi sáng tác ra. Tôi thích nhất mẫu có tên "Những nấc thang lên các vì sao".
Năm 1950, tôi lên ba và Hugh, em tôi vẫn còn là đứa bé sơ sinh, bố tôi đã đủ dư dả để chuyển gia đình đến ở khu ngoại ô Park Ridge. Có nhiều vùng ngoại ô thời thượng và được nhiều người ưa thích ở phía bắc Chicago, dọc theo hồ Michigan, nhưng bố mẹ tôi cảm thấy thoải mái khi được ở tại Park Ridge cùng với những cựu chiến binh khác. Bố mẹ tôi chọn nơi này cũng còn vì nơi đây có nhiều trường công lập nổi tiếng, nhiều công viên, những con đường rợp bóng cây, hè phố rộng rãi và nhà cửa tiện nghi. Một thị trấn của những người trung lưu da trắng, một nơi mà những người phụ nữ ở nhà để chăm sóc con cái trong khi đàn ông đón xe đi làm việc ở Loop, cách đó mười tám dặm. Nhiều người chọn đi làm bằng xe lửa, còn bố tôi vì phải đến thăm và giới thiệu hàng hóa với nhiều khách hàng nên ông lái chiếc xe của gia đình đi làm mỗi ngày.
Bố tôi mua căn nhà hai tầng xây bằng gạch tại góc đường Elm và Wisner. Nhà có hai sân thượng, một hành lang che bên trong và một mảnh vườn phía sau được rào để ngăn bọn trẻ hàng xóm quậy phá và leo vào hái trộm những trái cherry trên cây. Sau chiến tranh, dân số bùng nổ và nơi nào cũng có hàng tá trẻ con. Có lần mẹ tôi đã đếm được tới bốn mươi bảy đứa trẻ sống trong khu phố của chúng tôi.
Cạnh nhà tôi là bốn đứa trẻ nhà Williams và đối diện là sáu đứa khác của gia đình O'Collaghan. Vào mùa đông, ông Williams đổ đầy nước vào sân sau để tạo thành một sân băng cho chúng tôi chơi trượt băng và hockey hàng giờ sau khi tan trường và cả vào những ngày cuối tuần. Còn ông O'Collaghan thì treo một cái vòng bóng rổ lên ga-ra xe nhà mình. Nó lôi kéo trẻ con khắp nơi tới chơi trò ném-nhặt và thay người, trò "ngựa và heo". Trò chơi tôi thích nhất là những trò do chúng tôi đặt ra, như là trò chơi đồng đội "đuổi và chạy" - một kiểu chơi trốn-tìm nhưng khó hơn, cùng với môn bóng chày hiện đại và bóng đá marathon với cột mốc gôn là mấy rãnh nước
Mẹ tôi là một nữ quản gia đúng nghĩa. Ngày nay mỗi lần nghĩ đến bà, tôi lại hình dung ra một phụ nữ làm việc luôn tay, dọn giường, rửa chén, và bày biện bàn ăn tối vào đúng sáu giờ chiều. Từ Trường Field, tôi về nhà ăn trưa mỗi ngày và luôn luôn có món xúp cá hoặc xúp gà với phô mai nướng hoặc bơ đậu phụng hay bánh mì sandwich bologna. Trong lúc ăn, mẹ tôi và tôi thường nghe chương trình truyền thanh Mẹ Perkins hoặc Favorite Story.
Mẹ tôi cũng dành nhiều thì giờ cho chị em tôi. Mãi đến đầu những năm 1960, bà mới học lái xe nên vào thời điểm này bà dẫn chúng tôi đi bộ khắp nơi. Vào mùa đông, bà bọc chúng tôi trong nhiều lớp chăn và quần áo ấm, đặt lên chiếc xe trượt tuyết và kéo tới cửa hàng. Rồi chúng tôi giữ chặt mấy món tạp phẩm và làm cân bằng chiếc xe trên đường về nhà. Giữa lúc phơi đồ sau nhà, bà hay giúp tôi tập chơi ném bóng hoặc ngồi cạnh tôi trên cỏ để miêu tả hình dáng của các đám mây bay trên đầu.
Vào một mùa hè, bà giúp tôi tạo nên một thế giới diệu kỳ trong một thùng các-tông lớn. Chúng tôi dùng mấy miếng gương để tạo nên hồ nước và những nhánh cây non để làm rừng. Và tôi đã dựng nên một câu chuyện thần tiên với vai diễn là mấy con búp bê. Vào một mùa hè khác, mẹ tôi khuyến khích Tony, em trai tôi, theo đuổi giấc mơ của nó là đào một đường hầm nối dài tới tận Trung Hoa. Bà bắt đầu đọc sách cho nó nghe về đất nước Trung Hoa và ngày nào nó cũng dành thời gian đào cái hố của mình cạnh nhà. Thỉnh thoảng nó bắt gặp chiếc đũa ăn hoặc miếng bánh may mắn mà mẹ tôi đã giấu sẵn trước đó.
Cậu em Hugh của tôi thậm chí còn thích phiêu lưu hơn nữa. Khi mới là đứa trẻ tập đi, nó đã đẩy được cái cửa lên sân thượng và hào hứng đào được một con đường hầm chui dưới lớp tuyết dày cả mét cho tới lúc mẹ tôi phát hiện ra. Nhiều lần nó và lũ bạn đã tới chơi ớ các khu đang xây dựng mọc khắp khu phố và kết cục là cảnh sát phải hộ tống chúng về nhà. Mấy đứa kia bị bắt lên ngồi trên xe tuần tra, còn Hugh thì năn nỉ được đi bộ cạnh xe để về nhà. Nó nói với viên cảnh sát và cha mẹ tôi rằng nó đã được dặn là không bao giờ được vào ngồi trong một chiếc xe của người lạ mặt.
Mẹ tôi khuyến khích chúng tôi tìm hiểu thêm về thế giới xung quanh bằng cách đọc sách. Bà thành công trong việc đó với tôi hơn là với mấy đứa em tôi. Mỗi tuần, bà đều dẫn tôi tới thư viện. Ở đó, tôi thích thú ngấu nghiến hàng đống sách dành cho trẻ em. Gia đình tôi sắm được chiếc máy truyền hình khi tôi được năm tuổi, nhưng bà không cho chúng tôi xem nhiều. Chúng tôi thường chơi bài - War, Concentration, Slapiack - hoặc cờ Monopoly và Clue. Cũng như mẹ, tôi tin rằng chơi cờ và chơi bài dạy cho trẻ con các kỹ năng toán học và chiến lược. Trong những năm còn đi học, tôi có khi phải nhờ mẹ tôi giúp làm bài tập ở nhà, chỉ trừ môn toán là dành cho cha tôi giúp. Bà giúp đánh máy các bài làm của tôi và giúp tôi thực hiện công việc khó khăn là may được một chiếc váy khi học môn nữ công gia chánh.
Mẹ tôi yêu quý ngôi nhà và gia đình mình nhưng vẫn cảm thấy gò bó vì cuộc sống không cho bà nhiều chọn lựa. Điều mà ngày nay mọi người thường dễ quên là trong khi phụ nữ hiện đại có thể có rất nhiều điều để lựa chọn thì thế hệ của mẹ tôi chẳng được chọn lựa là bao. Mẹ tôi chỉ bắt đầu đi học đại học khi chúng tôi đã khá lớn. Chẳng hề tốt nghiệp, nhưng bà đạt được tín chỉ trong nhiều môn học, từ logic cho đến nuôi dạy trẻ con.
Mẹ tôi cảm thấy bất bình khi chứng kiến sự ngược đãi bất cứ ai, đặc biệt là trẻ em. Từ kinh nghiệm bản thân, bà biết được là nhiều đứa trẻ - dù chẳng tội tình gì - vẫn bị thua thiệt và phân biệt đối xử ngay khi mới lọt lòng. Bà ghét sự tự phụ và kiêu căng của đạo đức giả hơn tất cả. Bà dạy cho chị em tôi hiểu rằng mình chẳng tốt mà cũng chẳng xấu hơn ai. Khi còn là một đứa trẻ ở California, mẹ tôi đã thấy những đứa trẻ Mỹ gốc Nhật trong trường bà theo học phải chịu đau khổ vì sự phân biệt đối xử và chế nhạo của những đứa học trò gốc Anh. Sau khi chuyển về Chicago, bà vẫn thường tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho một bạn nam sinh mà bà quý mến. Bọn trẻ gọi nó là "Tosh", tên ngắn thay cho Toshihishi. Mẹ tôi gặp lại người bạn ấy lần nữa trong buổi họp mặt cựu học sinh lần thứ sáu mươi, khi bà đã về Alhambra để dẫn đầu cuộc diễu hành. Đúng như điều bà đã nghi ngờ, Tosh cùng cả gia đình bị giam giữ trong suốt Thế chiến thứ hai, nông trại của họ bị tịch thu. Nhưng bà cũng thấy phấn khởi khi biết rằng sau nhiều năm vật lộn với khó khăn, Tosh đã trở thành một nhà nông trồng rau thành đạt.
Tôi chịu tác động của nhưng giá trị mà bố mẹ tôi tin tưởng. Niềm tin chính trị của tôi đã phản ánh chiều hướng tư tưởng của cả hai người. Mẹ tôi về căn bản là một người theo Đảng Dân chủ nhưng bà đã giữ kín vì sống trong khu Park Ridge theo Đảng Cộng hòa. Còn bố tôi là một người vững vàng, tự lập, theo Đảng Cộng hòa bảo thủ và rất tự hào về điều đó. Ông quản lý tiền bạc rất cẩn thận. Chẳng tin vào chuyện tín dụng, bố tôi điều hành công ty theo chính sách tiền trao cháo múc. Niềm tin của bố tôi căn bản dựa trên sự tự tin và sáng kiến của chính mình. Tuy nhiên, ông khác với những người tự gọi mình là bảo thủ ngày nay, ông hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với ngân sách nhà nước và với tư cách người đóng thuế, ông đã hỗ trợ việc đầu tư xây dựng xa lộ, trường học, công viên cùng những tiện ích quan trọng khác cho cộng đồng.
Bố tôi không chấp nhận sự lãng phí. những người đã sống qua thời kỳ Đại suy thoái, nỗi sợ nghèo đói chi phối lối sống của ông. Hiếm khi nào mẹ tôi được mua sắm quần áo mới. Mẹ và tôi thường mất nhiều tuần lễ để thuyết phục bố tôi về việc mua sắm một món đồ nào đó, chẳng hạn như một cái váy dành cho buổi khiêu vũ ở trường. Nếu các con quên đậy nắp ống kem đánh răng, bố ném luôn nó qua cửa sổ phòng tắm. Chúng tôi phải đi ra ngoài tìm trong các bụi cây, ngay cả khi trời đổ tuyết. Đấy là cách ông nhắc chúng tôi không được lãng phí bất cứ thứ gì. Cho đến tận ngày nay, tôi vẫn quen trút những trái ô liu ăn không hết trở lại vào lọ, gói cất từng mảnh nhỏ phô mai và cảm thấy có tội nếu vất đi những gì còn sử dụng được.
Bố tôi là một người quản lý khó tính, nhưng chúng tôi biết rằng ông hết lòng chăm lo cho chúng tôi. Hồi tôi học lớp bốn, thấy tôi lo lắng vì giải toán quá chậm trong buổi kiểm tra hàng tuần với cô giáo Metzger, bố đánh thức tôi dậy sớm để ôn lại bản cửu chương và dạy tôi làm toán chia với nhiều số. Vào mùa đông, ông thường tiết kiệm bằng cách tắt bớt lò sưởi vào ban đêm, rồi thức dậy trước lúc rạng đông để đốt lại. Tôi thường bị đánh thức vì tiếng ồm ồm của bố cất lên những bài hát ông yêu thích của Mich Miller. Chị em tôi đều phải làm việc vặt trong nhà mà không mong nhận được một xu dằn túi. "Bố nuôi cơm các con rồi, phải không?” bố tôi hay nói vậy. Tôi có được công việc làm đầu tiên trong kỳ nghỉ hè khi tôi lên mười ba tuổi. Tôi làm việc cho Park Ridge-Park District, mỗi tuần ba buổi sáng với nhiệm vụ trông coi một công viên nhỏ cách nhà tôi vài dặm. Vì bố tôi đã đi làm từ rất sớm với chiếc xe duy nhất trong nhà, tôi phải đi bộ và kéo theo một chiếc xe chất đầy banh, gậy bóng chày, dây để nhảy và đủ mọi thứ khác trong cả lượt đi và về. Kể từ năm đó tôi luôn có việc làm trong mùa hè và thường là làm cả năm.
Bố tôiười cố chấp. Và để cho êm xuôi, tất cả chúng tôi đều phải điều chỉnh cho hợp theo những quan niệm của ông. Gia đình chúng tôi vẫn có những cuộc tranh luận sôi nổi quanh bàn ăn trong nhà bếp, về đề tài chính trị hoặc thể thao. Tôi đã nhận ra rằng nhiều quan điểm khác nhau vẫn có thể cùng chung sống dưới một mái nhà. Lúc đó tôi mới được mười hai tuổi nhưng đã có những ý kiến riêng trong nhiều vấn đề. Tôi cũng học được rằng một người nào đó không hẳn là xấu nếu bạn có ý kiến bất đồng với họ và rằng nếu bạn đã tin vào một điều gì thì bạn nên chuẩn bị để bảo vệ nó.
Bố mẹ đã dạy chúng tôi phải cứng rắn để có thể tồn tại trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, muốn chị em tôi phải biết tự đứng vững. Chỉ một thời gian ngắn sau khi chuyển đến Park Ridge, mẹ tôi nhận ra rằng tôi ngại đi ra ngoài chơi. Một vài lần, tôi vừa chạy về nhà vừa khóc kể rằng mấy đứa con gái bên kia đường hay xô đấy tôi. Suzy O’Callaghan có mấy anh trai nên quen chơi rất mạnh tay. Lúc đó tôi chỉ là đứa trẻ lên bốn, nhưng mẹ e rằng nếu tôi đầu hàng sự sợ hãi thì sẽ thành thói quen trong suốt cả cuộc đời. Thế là một ngày kia, khi tôi chạy vào nhà, mẹ ngăn tôi lại "Đi trở ra đó", bà ra lệnh, "và nếu Suzy đánh con, mẹ cho phép con được đánh trả. Con phải tự đứng vững trên đôi chân của mình. Căn nhà này không có chỗ cho những người hèn nhát". Sau này mẹ tôi kể lại là bà đã quan sát tôi từ phía sau tấm màn cửa nhà bếp, thấy tôi hiên ngang bước qua đường. Vài phút sau tôi quay lại, rạng rỡ vì chiến thắng. "Bây giờ còn có thể chơi được với mấy thằng con trai rồi", tôi nói, “và Suzy sẽ là bạn con". Mẹ tôi là vậy và vẫn luôn như vậy.
Tham gia nhóm hướng đạo thiếu nhi rồi sau đó làm nữ hướng đạo sinh, tôi đã tham gia vào các cuộc diễu hành nhân ngày Quốc khánh 4/7, các chiến dịch về thực phẩm, bán hàng và bất kỳ hoạt động nào kiếm được các huy hiệu xuất sắc hoặc được sự ủng hộ của người lớn. Tôi bắt đầu giữ vai trò thủ lĩnh của lũ trẻ con hàng xóm trong các trò chơi, các sự kiện thể thao, các cuộc hội hè, trước hết là để vui và thứ hai để quyên góp các đồng năm xu và mười xu làm công tác từ thiện. Có một bức hình cũ trên một tờ báo địa phương Park Ridge Advocate chụp tôi và một số bạn đang trao tặng một túi tiền cho tổ chức từ thiện United Way. Đó là khi tôi được mười hai tuổi, chúng tôi đã quyên góp số tiền này bằng cách cùng với các bạn hàng xóm tổ chức diễn Thế vận hội giả cho khu phố.
Những người thân như bố và các cậu em tôi đều là những tín đồ thể thao cuồng nhiệt nên tôi cũng là một cổ động viên nhiệt thành, thậm chí còn chơi thể thao nữa. Tôi ủng hộ đội bóng của trường mình và đi cổ vũ trong nhiều trận khi có thể thu xếp được. Tôi ủng hộ đội Cubs giống như gia đình tôi và hầu hết các nhà ở khu phố tôi. Cầu thủ yêu thích của tôi là Ernie Banks. Ở khu tôi thì việc ủng hộ cho đối thủ White Sox của Cubs trong giải vô địch Mỹ gần như là một điều phạm thượng nên tôi coi đội Yankees là đội mình ủng hộ trong giải vô địch Mỹ, một phần bởi vì tôi thích Mickey Mantle. Những lời giải thích của tôi về tính đua tranh, đối địch này trong các môn thể thao ở Chicago đã bị bỏ ngoài tai trong cuộc vận động tranh cử Thượng nghị sĩ của tôi vào những năm sau này khi vẫn còn những người dân New York không tin rằng một người gốc Chicago lại có thể tuyên bố rằng thời bé cô ấy đã ủng hộ cho một đội bóng từ Bronx.
Tôi chơi trong đội bóng mềm mùa hè dành cho nữ suốt thời học trung học. Đội cuối cùng mà tôi tham gia được một hãng phân phối kẹo tại địa phương tài trợ. Chúng tôi mặc vớ trắng đến đầu gối, quần short đen hoặc váy hồng để quảng cáo cho hãng bánh kẹo trùng tên với đội là Good & Plenty. Những đứa trẻ vùng thường tấp nập đến công viên Hinckey theo từng nhóm, bơi lội vào mùa hè trong làn nước mát và chơi trượt băng trên sân băng khổng lồ ngoài trời vào mùa đông. Chúng tôi đi bộ hoặc dùng xe đạp để đến khắp mọi nơi - đôi khi bám theo các xe tải chạy chậm đang phun một làn sương thuốc trừ sâu DDT vào lúc chạng vạng tối trong những tháng mùa hè. Lúc đó không ai trong bọn nghĩ rằng thuốc trừ sâu là độc hại cả. Chúng tôi chỉ nghĩ thật là vui khi đạp xe xuyên qua làn sương, hít hà cái mùi ngọt ngọt và cay nồng của cọng cỏ bị cắt trộn với mùi nhựa đường nóng bốc lên lan tỏa trong ánh chiều tà.
Thỉnh thoảng chúng tôi đi trượt băng trên sông Des Plaines trong khi các ông bố sưởi ấm và chuyện trò bên đống lửa về các vấn đề thời sự, chính trị. Tuy nhiên, "cuộc chiến tranh lạnh" là một khái niệm mơ hồ với tôi và thế giới của tôi lúc ấy dường như vẫn an toàn và ổn định. Tôi không biết đứa trẻ nào có bố mẹ ly hôn và mãi đến khi học lên trung học, tôi mới biết ngoài chết già thì người ta có thể chết vì những thứ khác nữa. Tôi nhận thấy tình trạng được bảo bọc chở che yên bình này tạo nên những nhận thức ngây thơ, nhưng đây là điều mà tôi mong ước cho mọi trẻ em.
Tôi lớn lên trong giai đoạn xã hội Mỹ chú trọng đến những khuôn mâu đạo đức định sẵn. Tuy nhiên trong cách giáo dục có tính "gia trưởng" đó, tôi lại được dạy cách chế ngự các áp lực từ bên ngoài. Mẹ tôi không bao giờ muốn nghe về việc các bạn tôi đang mặc gì hoặc họ nghĩ gì về tôi hoặc những việc đại loại như thế. "Con phải là con"; mẹ nói, "Con phải biết suy nghĩ độc lập. Mẹ không quan tâm là mọi người đang làm như thế nào. Chúng ta không phải là họ. Con không phải là họ."
Điều này hợp với tôi vì tôi cũng có cảm nghĩ giống như vậy. Dĩ nhiên tôi đã nỗ lực để hòa đồng. Tôi cũngáng của con gái nên đôi khi từ chối đeo các cặp kính dày cộp mà tôi đã phải sử dụng từ năm lên chín tuổi để khắc phục thị lực yếu kém của mình. Bắt đầu từ năm lớp sáu, bạn Besty Johnson đã giúp tôi rất nhiều trong việc đi đứng. Đôi khi tôi tình cờ đi qua trước mặt các bạn học cùng lớp nhưng lại không nhận ra, không phải vì tôi kiêu ngạo mà là vì thị lực kém, tôi thực sự không nhìn ra họ. Mãi đến sau này khi ở tuổi ba mươi, tôi mới biết dùng kính sát tròng để cải thiện thị lực của mình.
Tôi và Besty được cho phép đi xem kịch tại rạp Pickwick vào các buổi chiều thứ Bảy. Một ngày nọ, chúng tôi đã xem vở Lover come Back với diễn xuất của Doris Day và Rách Hudson đến hai lần. Sau đó chúng tôi vào một quán ăn thưởng thức khoai tây chiên với Coca Cola. Chúng tôi nghĩ là mình đã phát minh cách ăn nhúng khoai tây chiên vào nước xốt cà chua với nấm khi người phục vụ ở quán ăn Robin Hood nói với chúng tôi là cô chưa thấy ai làm như thế bao giờ. Mãi đến khi gia đình tôi bắt đầu đến các nhà hàng McDonald's vào khoảng năm 1960 thì tôi mới biết thức ăn nhanh là gì. Cửa hàng McDonald's đầu tiên trong vùng khai trương ở vùng gần thành phố Des Plaines vào năm 1955 nhưng gia đình tôi không biết. Mãi đến khi một cửa hàng nữa hoạt động gần chúng tôi hơn, ở thị trấn Niles, thì chúng tôi mới được đến thưởng thức vào những dịp đặc biệt. Tôi còn nhớ đã thấy số lượng bánh mì kẹp thịt được bán hiển thị trên biển hiệu Golden Arches đã tăng từ con số vài ngàn đến cả triệu cái.
Tôi yêu mái trường và may mắn được học với những giáo viên giỏi, tận tụy của Trường Eugene Field, rồi Trường Ralph Waldo Emerson và sau đó là Trường East and South. Những năm sau này khi tôi làm Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Giáo dục của tiểu bang Arkansas, tôi mới nhận ra mình đã thật may mắn vì được học ở những ngôi trường được trang bị đầy đủ với đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bả và các chương trình học chính khóa, ngoại khóa hoàn chỉnh. Thật là buồn cười về những hồi ức mà tôi còn nhớ đến bây giờ : Cô Taylor đọc truyện Winnie the Pooh cho cả lớp hồi lớp một vào mỗi buổi sáng. Cô Cappuccio, cô giáo dạy lớp hai, đố chúng tôi viết từ một đến một ngàn, một việc làm mà những bàn tay bé nhỏ cầm các cây bút chì to tướng khó có thể hoàn thành. Bài học này đã dạy tôi ý nghĩa của việc bắt đầu và kết thúc một công trình lớn. Sau này cô Cappuccio đã mời lớp tôi dự đám cưới của cô, ở đó cô chính thức trở thành bà O’Laughlin. Đây thật sự là một nghĩa cử tuyệt vời, bởi đối với các cô bé mới bảy tuổi đầu như chúng tôi, việc được chứng kiến cô giáo của mình trở thành một cô dâu xinh đẹp là một dấu ấn khó quên.
Trong suốt thời gian học tiểu học, tôi bị xem như một cô bé nghịch ngợm như con trai. Lớp năm của tôi có những cậu bé bất trị của trường và khi cô Krause rời khỏi lớp, cô thường nhờ tôi hoặc một nữ sinh khác "giữ trật tự lớp”. Ngay khi cô vừa bước ra khỏi phòng, lũ con trai đã bắt đầu bày trò, chủ yếu là do chúng muốn chọc tức lũ con gái. Tôi có uy tín vì có thể đương đầu với bọn con trai. Đó là lý do tôi được bầu làm đội trưởng của đội trật tự vào năm sau. Đây là một sự kiện được xem là ghê gớm trong trường. Vai trò mới giúp tôi học được bài học đầu tiên về cách một số người sau này phản ứng trong những hoạt động bầu cử chính trị. Một trong những bạn gái trong lớp, Barbara đã mời tôi về nhà ăn trưa. Khi chúng tôi đến nhà thì mẹ Barbara, đang bận làm vệ sinh nhà cửa bằng máy hút bụi. Bà bảo cô con gái và tôi cứ tự lấy bánh sandwich phết bơ đậu phộng để dùng bữa trưa. Tôi không nghĩ ngợi gì cả cho đến khi chúng tôi chuẩn bị quay về trường và chào tạm biệt mẹ Barbara.
Bà hỏi cô con gái lý do tại sao chúng tôi lại đi sớm như vậy. Barbara trả lời là “Bởi vì Hillary là đội trưởng đội trật tự và phải đến trường trước các bạn khác.”
“Ồ, nếu mẹ biết trước thì mẹ đã dọn cho các con một bữa ăn ngon rồi."
Cô giáo dạy lớp sáu của tôi, Elisabeth King, dạy chúng tôi môn ngữ pháp nhưng cô cũng khuyến khích chúng tôi suy nghĩ và viết sáng tạo, và thường đố chúng tôi thử đưa ra một số dạng từ ngữ mới. Nếu chúng tôi chậm chạp hoặc thụ động trong việc trả lời câu hỏi, cô nói "Các em còn chậm hơn cả sên bò lên núi vào mùa đông". Có thường diễn giải các câu thơ của Matthew : "Đừng giấu cái đèn của các con ở xó bếp mà phải mạnh dạn mang nó ra thắp sáng cho đời". Cô khuyến khích tôi, Besty Johnson, Gayle Elliot, Carol Farley và Joan Throop viết và đóng một vở kịch về năm cô gái thực hiện một chuyến du hành tưởng tượng đến châu Âu. Chính cô King cũng là người đưa ra đề bài để tôi viết tự truyện đầu tiên của mình. Tôi đã tình cờ tìm lại được nó trong một cái hộp giấy cũ sau khi tôi rời khỏi Nhà Trắng và việc đọc lại tự truyện này đã làm tôi hồi tưởng lại những năm tháng tuổi học trò. Hồi ấy, tôi rất ngây thơ và hầu như chỉ quan tâm về gia đình, học hành, thể thao. Nhưng rồi thời làm học sinh cũng kết thúc và tôi bước vào một thế giới phức tạp hơn những gì tôi từng được biết trước đó.